Tháng 12
09:22 13/08/2018

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

 tháng 12 và ước cả năm 2017

  1. Tăng trưởng kinh tế

Ước tính tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Hậu Giang năm 2017 ở mức 6,70% (tính theo giá so sánh 2010). Trong đó khu vực 1 (khu vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản) tăng 2,58%; khu vực 2 (khu vực sản xuất công nghiệp và hoạt động xây dựng) tăng 11,18%; khu vực 3 (khu vực thương mại và dịch vụ) tăng 7,38%.

  1. Tài chính, tín dụng

2.1. Tài chính:

Ước tổng thu ngân sách nhà nước năm 2017 được 7.418,55 tỷ đồng, tăng 4,21% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nội địa được 2.890 tỷ đồng, tăng 16,35% so với cùng kỳ, vượt 4,33% kế hoạch.

Ước tổng chi ngân sách địa phương năm 2017 được 6.818,93 tỷ đồng, bằng 98,62% so với cùng kỳ. Trong đó: Chi đầu tư phát triển được 2.551,28 tỷ đồng, tăng 21,42% so với cùng kỳ.

2.2. Tín dụng ngân hàng:

Tính đến ngày 30/11/2017, tổng huy động vốn toàn địa bàn được 10.202 tỷ đồng, tăng trưởng 20,43% so với cuối năm 2016. Vốn huy động đáp ứng được 51,23% cho hoạt động tín dụng. Ước đến ngày 31/12/2017, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn được 10.255 tỷ đồng, tăng trưởng 20,06% so với cuối năm 2016.

Đến ngày 30/11/2017, tổng dư nợ cho vay trên toàn tỉnh được 19.914 tỷ đồng, tăng trưởng 11,69% so với cuối năm 2016. Ước thực hiện đến ngày 31/12/2017, tổng dư nợ toàn địa bàn được 20.539 tỷ đồng, tăng trưởng 15,20% so với cuối năm 2016.

Nợ xấu đến ngày 31/11/2017 toàn tỉnh được 431 tỷ đồng, chiếm 2,16% trên tổng dư nợ, ước đến ngày 31/12/2017, nợ xấu toàn địa bàn vẩn được kiểm soát ở mức nhỏ hơn 3% trên tổng dư nợ.

  1. Đầu tư, xây dựng

3.1. Vốn đầu tư:

Tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2017, Kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2017 là 16.646.936 triệu đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.776.936 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.050.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 13.820.000 triệu đồng.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 12 năm 2017 là 1.282.905 triệu đồng, bằng 101,36% so với cùng kỳ năm trước và bằng 96,63% so với tháng trước. Nguyên nhân ước tháng 12/2017 thực hiện vốn đầu tư tăng là do: Được sự quan tâm, hỗ trợ tích cực của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương; sự chỉ đạo thường xuyên, kịp thời của Tỉnh ủy, UBND tỉnh; các Sở, ban, ngành và địa phương trong tỉnh tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm, bức xúc trên địa bàn tỉnh, đảm bảo đúng tiến độ, hoàn thành và đưa vào sử dụng sớm, đạt hiệu quả cao.

Ước tính tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang cả năm 2017 thực hiện được 16.650.790 triệu đồng, so với kế hoạch mới điều chỉnh hiện tại (16.646.936 triệu đồng), đạt 100,02% kế hoạch năm và so với cùng kỳ năm 2016 (15.540.790 triệu đồng) bằng 107,14%. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.800.520 triệu đồng, bằng 83,46% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 101,33% so với kế hoạch năm.       

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 1.055.700 triệu đồng, bằng 94,64% so với cùng kỳ năm trước và đạt 100,54% so với kế hoạch năm.                 

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 13.794.570 triệu đồng, bằng 113,37% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 99,82% so với kế hoạch năm. Nguyên nhân vốn ngân sách Nhà nước ước cao so với kế hoạch hiện tại là do: Từ nay đến cuối năm 2017 vốn ngân sách Nhà nước sẽ có nhiều nguồn vốn bổ sung thêm.

Để thực hiện hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư XDCB năm 2017 của tỉnh Hậu Giang, Cục Thống kê khuyến nghị một số giải pháp như sau:

Một là: Các sở, ngành cần kiểm tra, đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình XDCB, mà đặc biệt là các công trình trọng điểm trên địa bàn; đồng thời gắn với việc giám sát, kiểm tra chất lượng công trình, nhanh chóng hoàn thành các công trình XDCB đang tồn đọng nhất là các công trình dự án trọng điểm đã bố trí vốn (giao thông, nông nghiệp, y tế, giáo dục, v.v…)

Hai là: Tập trung hoàn thành các công trình khánh thành và khởi công theo đúng tiến độ.         

Ba là: Tập trung chỉ đạo thực hiện và triển khai nhanh vốn trái phiếu Chính phủ năm 2017 về xây dựng Nông thôn mới.

Bốn là: Đẩy nhanh tiến độ lập thủ tục XDCB đối với các công trình dự án đã được bố trí vốn, nhanh chóng làm thủ tục quyết toán các công trình đã hoàn thành.

Năm là: Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành cấp tỉnh và các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề vướng mắc trong đầu tư XDCB

3.2. Xây dựng:

Ước tính quý 4 năm 2017, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 1.368.500 triệu đồng, so với quý trước bằng 98,04% và so với cùng kỳ năm trước (1.357.167 triệu đồng) bằng 100,84%. Trong đó loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 463.545 triệu đồng, so với quý trước bằng 102,04% và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,67%; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 904.955 triệu đồng, so với quý trước bằng 96,12% và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,60%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình ước thực hiện trong quý 4 năm 2017 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 650.780 triệu đồng, so với quý trước bằng 86,72% và so với cùng kỳ năm trước (518.937 triệu đồng) bằng 125,41%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 134.400 triệu đồng, so với quý trước bằng 92,31% và so với cùng kỳ năm trước (144.687 triệu đồng) bằng 92,89%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 410.690 triệu đồng, so với quý trước bằng 114,01% và so với cùng kỳ năm trước (520.787 triệu đồng) bằng 78,86%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 172.630 triệu đồng, so với quý trước bằng 123,73% và so với cùng kỳ năm trước (172.756 triệu đồng) bằng 99,93%.

Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng giảm so với quý trước là do: Công tác giải phóng mặt bằng triển khai chậm do các hộ dân chưa nhận tiền bồi hoàn; các dự án của nhà đầu tư thực hiện còn chưa đúng kế hoạch đã đăng ký ở các Khu, cụm Công nghiệp; kết thúc thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2017 đã góp phần làm giảm giá trị sản xuất.

Ước tính cả năm 2017, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 5.560.800 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (5.388.755 triệu đồng) bằng 103,19%. Trong đó loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 1.710.545 triệu đồng, bằng 94,31% so với cùng kỳ năm trước; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 3.850.255 triệu đồng, bằng 107,70% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện cả năm 2017 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 3.254.790 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (2.954.362 triệu đồng) bằng 110,17%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 430.580 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (411.309 triệu đồng) bằng 104,69%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 1.554.860 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (1.708.998 triệu đồng) bằng 90,98%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 320.570 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (314.086 triệu đồng) bằng 102,06%.

Đến nay, tình hình xây dựng trên địa bàn Tỉnh chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở dân dụng và đường giao thông. Riêng các công trình trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước có qui mô lớn thì hầu hết đều do các Doanh nghiệp ngoài tỉnh thi công. Do vậy, đề nghị Lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, để các Doanh nghiệp xây dựng trong tỉnh được thi công nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành xây dựng của Tỉnh tăng cao.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

4.1. Nông nghiệp

  1. Về trồng trọt

Cây hàng năm:

- Lúa đông xuân: Toàn tỉnh xuống giống được 77.863 ha, so với kế hoạch đạt 101,12%, so với cùng kỳ năm trước giảm 2,02% (bằng 1.602ha). Nhìn chung, các huyện, thị, thành đều hoàn thành kế hoạch xuống giống. Sản lượng lúa được 531.521 tấn, giảm 4,43% (bằng 24.614 tấn) so với năm 2016. Do thời tiết năm nay không thuận lợi nắng nóng kèo dài, đầu vụ ít mưa nên sản lượng lúa thấp hơn so với cùng kỳ.

- Lúa hè thu: Toàn tỉnh gieo trồng được 76.992 ha đạt 101,33%  so với kế hoạch, bằng 99,94% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, lúa hè thu đã thu hoạch xong. Sản lượng lúa được 463.215 tấn, tăng 2,86% (bằng 12.901 tấn) so với sản lượng lúa năm 2016. Do thời tiết  thuận lợi nước đổ về nhiều hơn năm rồi, mưa nhiều sâu bệnh ít phát triển nên đa số các huyện thu hoạch có sản lượng lúa cao hơn so với cùng kỳ.

- Lúa thu đông: Toàn tỉnh xuống giống được 51.734 ha, đạt 103,47% so với kế hoạch, tăng 12,92% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, lúa thu đông đã thu hoạch xong, sản lượng thu hoạch được 266.319 tấn, tăng 18,55% (bằng 41.680 tấn) so với năm 2016.

Cây rau các loại: Diện tích gieo trồng được 16.515 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,77% (bằng 127 ha).

Cây đậu các loại: Diện tích gieo trồng được 1.166 ha, so với cùng kỳ năm trước giảm 1,60% (bằng 19 ha).

Cây mía: Toàn tỉnh gieo trồng được 10.862 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,18% (bằng 20 ha) tập trung ở huyện Phụng Hiệp, thành phố Vị Thanh, thị xã Ngã Bảy và huyện Long Mỹ. Do cây mía gặp khó trong tiêu thụ sản phẩm từ các vụ trước nên một số hộ trồng mía chỉ trồng cầm chừng.

Cây lâu năm:

Cây cam có diện tích gieo trồng được 10.982 ha, giảm 1,8% (bằng 201 ha) so với năm trước.

Diện tích cây xoài toàn tỉnh sơ bộ được 3.641 ha, tăng 3,41% (bằng 120 ha) so với năm trước.

Cây dừa có diện tích gieo trồng được 2.639 ha, tăng 3,01% (bằng 77 ha) so với năm trước.

Tình hình dịch bệnh: Bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại trên lúa như bệnh rầy nâu, đậu ôn cổ bông, lem lép hạt. Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đang được ngăn chặn kịp thời.

  1. Về chăn nuôi:

Tình hình chăn nuôi: Theo kết quả điều tra Chăn nuôi thời điểm 01/10/2017 trên địa bàn tỉnh:

- Đàn trâu, bò: Toàn tỉnh có 1.570 con trâu, tăng 3,43% (bằng 52 con) so với cùng kỳ; đàn bò có 3.906 con, tăng 34,55% (bằng 1.003 con) so với cùng kỳ. Đàn trâu, bò toàn tỉnh đều thuộc hộ cá thể nuôi. Đàn bò phát triển mạnh do nhiều hộ nuôi tranh thủ đồng cỏ để chăn nuôi bò thịt, hiệu quả từ nuôi bò thịt cao.

- Đàn heo: Toàn tỉnh có 149.002 con, tăng 3,40% (bằng 4.902 con) so với cùng kỳ. Đàn heo tăng so với cùng kỳ năm trước là do giá heo giống thấp và heo thịt hơi có xu hướng tăng trong cuối quý 2 và đầu quý 3.

- Đàn gia cầm: Toàn tỉnh có 4.058 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,35% (bằng 132 ngàn con). Đàn gia cầm năm nay tăng do tâm lý hộ nuôi yên tâm hơn khi dịch cúm gia cầm không tái xuất hiện trên địa bàn tỉnh.

Tình hình dịch bệnh: Trong năm 2017, dịch cúm gia cầm không tái xuất hiện trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên Ngành thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh.

4.2. Lâm nghiệp:

Trong năm 2017, công tác phòng cháy chữa cháy rừng được đảm bảo, không xảy ra vụ cháy rừng nào trên địa bàn tỉnh.

Về khai thác, thu nhặt gỗ: Lũy kế từ đầu năm đến nay sản lượng gỗ khai thác được 9.990 m3, so với cùng kỳ tăng 1,31% (bằng 129 m3) và sản lượng củi khai thác được 79.625 ste, so với cùng kỳ giảm 2,01% (bằng 1.634 ste).

4.3. Thủy sản:

- Về diện tích: Toàn tỉnh, nuôi trồng được 7.291 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,12% (bằng 221 ha).  Trong đó, diện tích nuôi cá toàn tỉnh có 7.126 ha, tăng 3,18% (219,41 ha) so với cùng kỳ năm trước. Về nuôi lồng bè cả năm 2017, số lồng nuôi được 6.038 lồng với 68.241 m3.

- Về sản lượng: Cả năm 2017, tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh được 61.920,51 tấn, tăng 2,31%  (bằng 1.397 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

+ Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 59.191,85 tấn, tăng 2,48% (bằng 1.432 tấn) ; Cá tra nuôi thâm canh 35.082 tấn, tăng 2,79% (bằng 952 tấn).

+ Sản lượng thủy sản khai thác được 2.728,66 tấn, giảm 1,28% (bằng 35,24 tấn).

Diện tích tăng chủ yếu là các loại cá khác nuôi ở ruộng (các loại cá trắng), vì nước tự nhiên vào ruộng nhiều hơn năm trước, sản lượng thủy sản tăng do diện tích nuôi thủy sản ao mương thường và nuôi thâm canh, các loại thủy sản thả nuôi ruộng  tăng hơn cùng kỳ.

Tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2017 có chiều hướng tốt hơn năm 2016. Cụ thể là:

Lúa cả năm đã thu hoạch xong, diện tích, năng suất, sản lượng lúa thu đông tăng cao hơn cùng kỳ.

Ngành thú y thực hiện tốt công tác tiêm phòng, quản lý, giám sát dịch bệnh ở gia súc, dịch cúm gia cầm không xảy ra trên địa bàn tỉnh.

Ngành lâm nghiệp: Tăng trưởng không đáng kể nhưng đặc biệt là đảm bảo tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng, không xảy ra vụ cháy rừng nào trên địa bàn tỉnh.

 Ngành Thủy sản: Diện tích, sản lượng thủy sản tăng, người nuôi đầu tư nhiều hơn trên ruộng, nuôi không hao phí nhiều thức ăn do thức ăn một phần có sẵn tự nhiên nên nhiều hộ tranh thủ đất ruộng để nuôi thủy sản kết hợp.

  1. Sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tháng 12 năm 2017 bằng 118,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bằng 118,41%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí bằng 113,72%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải bằng 116,84% so với tháng trước.

Cộng dồn từ đầu năm đến cuối tháng 12 năm 2017 chỉ số IIP tăng 10,76% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,86%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 11,93%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,21%. Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp tăng chủ yếu dựa vào các ngành có sản lượng tăng cao như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 31,97%; In và sao chép bản ghi các loại tăng 22,34%; Sản xuất thuốc hóa dược và dược liệu tăng 20,64%.

Tính từ đầu năm đến nay, lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đã có nhiều dự án mới đi vào hoạt động, với nhiều chính sách hỗ trợ, thu hút đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, cộng đồng doanh nghiệp trong tỉnh đã không ngừng lớn mạnh. Đến nay, toàn tỉnh có trên 200 doanh nghiệp và hơn 4.644 cơ sở sản xuất cá thể hoạt động sản xuất công nghiệp, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội. Cụ thể;

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 12 năm 2017:

- Tính theo giá so sánh 2010 được 2.240.410 triệu đồng, tăng 3,84% so với tháng trước và tăng 26,27% so với cùng kỳ năm trước.

- Tính theo giá thực tế được 2.851.398 triệu đồng, tăng 4,52% so với tháng trước và tăng 25,28% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp chế biến tôm xuất khẩu ký được nhiều hợp đồng từ những thị trường truyền thống như; Mỹ, EU và Nhật… Vì vậy, các doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất (sản lượng tôm đông lạnh tăng 20,44 % so với cùng kỳ). Ngoài ra, tăng một phần là do Công ty Cổ Phần Mía đường Cần Thơ hoạt động hết công suất. Vì đây là thời điểm đang vào cuối vụ thu hoạch mía nguyên liệu, để chạy lũ cho bà con và chuẩn bị nguồn hàng hóa cung cấp cho thị trường phục vụ Tết Dương Lịch năm 2018 sắp đến.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện cả năm 2017:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 22.734.703 triệu đồng, tăng 13,63% so với cùng kỳ năm trước và đạt 101,56% so với kế hoạch năm.

- Tính theo giá thực tế, được 29.118.135 triệu đồng, tăng 14,39% so với cùng kỳ năm trước và đạt 103,62% so với kế hoạch năm.

Nguyên nhân là do từ đầu năm đến nay các doanh nghiệp có giá trị sản xuất lớn đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định như; Công ty TNHH giấy Lee & Man Việt Nam; Công ty TNHH Tập đoàn quốc tế Runlong-Hậu Giang; Công ty TNHH MTV dinh dưỡng nông nghiệp quốc tế Hậu Giang; Công ty TNHH MTV nước AquaOne Hậu Giang… các doanh nghiệp này đã đóng góp trên 2.500 tỷ đồng (theo giá thực tế) vào giá trị chung của toàn tỉnh. Ngoài ra, tăng một phần là do các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành như; sản xuất giày dép; sản xuất hóa chất; sản xuất thuốc, hóa dược liệu… đầu tư mở rộng nhà máy, đa dạng hoá sản phẩm nên làm tăng đột biến ở các ngành này nói riêng và giá trị sản xuất chung của toàn tỉnh so với cùng kỳ.

Nhìn chung, ước thực hiện cả năm 2017, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang phát triển ổn định. Tuy nhiên, các ngành chức năng cần có kế hoạch cụ thể hơn để tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra như Công ty TNHH Number One Hậu Giang để ngành công nghiệp phát triển đúng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.

  1. Bán lẻ hàng hóa, hoạt động của các ngành dịch vụ

6.1. Tình hình thương mại, dịch vụ:

Ước thực hiện tháng 12 năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.065.443 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 109,30% và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,91%.

Tháng 12 thị trường hàng hóa bắt đầu nhộn nhịp, ở một số địa phương đang bước vào thời điểm thu hoạch mía và một số loại cây ăn trái nên thu nhập của người dân được cải thiện. Để đa dạng hóa các mặt hàng phục vụ cho lễ Noel, Tết Dương lịch thì tại thành phố Vị Thanh đã diễn ra hội chợ Công nghiệp - Thương mại Hậu Giang năm 2017, nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân địa phương và các vùng lân cận. Bên cạnh đó, vào dịp cuối năm tại các siêu thị, cửa hàng điện máy, trung tâm thương mại đưa ra nhiều chương trình khuyến mại nhằm kích thích cho người dân mua sắm.

Ngành dịch vụ nhờ đó cũng sẽ tăng, đặt biệt là nhóm ngành vui chơi, giải trí sẽ tăng mạnh trong tháng 12 này (ước tăng 21,15%). Ngành lưu trú, ăn uống ước tính sẽ tăng 5,35% do hưởng ứng các hoạt động có liên quan đến hội chợ, đêm nhạc hội do hãng Honda tổ chức hứa hẹn sẽ thu hút một lượng lớn người dân tại địa phương và các vùng lân cận tham gia. Ngoài ra, do nhu cầu trong các ngày lễ Noel và Tết Dương lịch nên doanh thu của các ngành dịch vụ cũng sẽ tăng hơn so với tháng trước.

Ước thực hiện cả năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 33.979.388 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 107,64% và so với kế hoạch năm đạt 105,69%. Cụ thể:

 - Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 24.986.043 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 107,65%.

- Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 3.239.834 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 109,92%.

- Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 5.753.511 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 106,33%.

Trong năm qua thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh Hậu Giang tăng khá 7,65% so với cùng kỳ. Các nhóm hàng chiếm tỷ trọng cao trong tổng mức là: Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình, gỗ và vật liệu xây dựng, xăng, dầu, nhiên liệu, lương thực, thực phẩm. Vì đây là các nhóm hàng thiết yếu, phục vụ cho đời sống của con người hàng ngày, các nhóm hàng còn lại chiếm tỷ trọng thấp hơn nhưng vẫn có sức tiêu thụ ổn định và không có tính tăng giảm đột biến. Riêng đối với nhóm hàng lương thực, thực phẩm có tỷ trọng cao nhất chiếm 38,25% có mức tăng so với cùng kỳ 1,28% là do ảnh hưởng giá bán một số mặt hàng như: thịt heo, thịt gà,… có giá xuống thấp trong thời gian dài.

 Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Hậu Giang năm 2017 diễn ra trong ngày 28/9/2017 với mục đích giới thiệu và quảng bá về một Hậu Giang đầy tiềm năng, tiềm lực phát triển nhằm thu hút nhà đầu tư trong nước và nước ngoài với những dự án đầu tư có giá trị cao về công nghiệp, nông nghiệp đó là động lực thúc đẩy tạo điều kiện cho ngành thương mại tỉnh nhà phát triển hơn trong thời gian tới. Trong tháng cuối năm và gần đến Tết Nguyên đán thị trường hàng hóa trở nên nhộn nhịp hơn, việc chuẩn bị hàng hóa Tết đang được các doanh nghiệp tăng cường sản xuất, các nhà phân phối và cơ sở kinh doanh bắt đầu lên kế hoạch dự trữ.

Đối với ngành lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tăng 6,33% so với cùng kỳ, trong đó ăn uống chiếm tỷ trọng rất lớn 97,61% tổng ngành. Hoạt động dịch vụ lưu trú tại Hậu Giang còn chưa phát triển, chủ yếu là các cơ sở kinh doanh nhỏ tập trung tại các trung tâm thành phố, huyện, thị. Bên cạnh đó, do ngành du lịch lữ hành ở Hậu Giang còn nghèo và kém phát triển nên lượng khách đến lưu trú là không nhiều. Tại Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Hậu Giang năm 2017 một trong những dự án hứa hẹn sẽ đem lại sự phát triển cho ngành du lịch của tỉnh là dự án khu du lịch sinh thái Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có một số điểm du lịch sinh thái như: Khu sinh thái rừng tràm chim Vị Thủy, và mới nổi lên gần đây là khu du lịch Lâm Trường Mùa Xuân,... Tuy nhiên, những điểm du lịch này chưa tạo được nhiều dấu ấn đối với khách du lịch và mang lại giá trị kinh tế chưa cao.

Với số liệu trên cho thấy giá trị ước tính ngành thương mại - dịch vụ của tỉnh có mức tăng trưởng tốt so với cùng kỳ. Trong thời gian tới các cấp, các ngành cần có nhiều chính sách tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho các cơ sở kinh doanh cá thể, doanh nghiệp, nhà đầu tư kinh doanh, mở rộng thêm quy mô sản xuất để duy trì tốt đà tăng trưởng như hiện nay.

6.2. Tình hình giao thông vận tải:

Hiện trên các tuyến đường chính, lực lượng công nhân môi trường đô thị khẩn trương cắt tỉa cây xanh, sơn kẻ vạch đường, dọn dẹp vệ sinh, một số tuyến đường trọng điểm và các vị trí quan trọng như nút giao, cửa ngõ sẽ được chú trọng thực hiện quan tâm nâng cấp, duy tu, bảo dưỡng sữa chữa kịp thời tạo thuận lợi cho người dân đi lại, vui chơi, giảm thiểu tai nạn giao thông nhằm phục vụ nhu cầu đi lại mua bán hàng hóa của người dân được thuận lợi hơn, tạo điều kiện giúp địa phương phát triển về kinh tế và nhiều mặt khác. Góp phần cho việc vận tải hàng hóa, hành khách của người dân, doanh nghiệp ngày một tăng lên, việc mua bán vận chuyển hàng hóa của các doanh nghiệp đến các địa điểm kinh doanh được thuận lợi dễ dàng tạo đà cho kinh tế của tỉnh ngày càng phát triển. Tình hình giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh Hậu Giang trong tháng vẫn bình thường. Mặc dù giá xăng dầu có biến động nhưng không gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động ngành vận tải. Cụ thể:

Doanh thu vận tải hàng hóa, hành khách và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 12 được 107.526 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 102,28% (trong đó vận tải hành khách được 39.329 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 105,01%).

Ước thực hiện cả năm 2017, doanh thu vận tải hàng hóa, hành khách và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 1.077.818 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 103,68% (trong đó doanh thu vận tải hành khách được 485.982 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 107,40%).

Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa:

- Ước thực hiện tháng 12, toàn tỉnh vận chuyển được 1.088.257 tấn (55.156.518 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 106,99% (135,63%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,53% (103,94%). Chia ra:

+ Đường sông ước thực hiện được 658.467 tấn (26.386.246 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 103,09% (126,14%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,11% (108,19%).

+ Đường bộ thực hiện được 429.790 tấn (28.770.272 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 113,59% (145,69%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,20% (100,33%).

- Ước thực hiện cả năm 2017, hàng hóa vận chuyển được 10.279.512 tấn (317.379.894 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 104,40% (101,42%). Chia ra:

+ Đường sông thực hiện được 7.626.104 tấn (232.994.429 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 105,91% (101,85%).

+ Đường bộ thực hiện được 2.653.408 tấn (84.385.465 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 100,28% (100,23%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách:

- Ước thực hiện tháng 12, hành khách vận chuyển được 9.468.631 lượt hành khách (54.433.926 HK.km), so với tháng trước bằng 99,56% (99,54%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,26% (105,77%). Trong đó:

+ Đường bộ vận chuyển được 8.198.219 lượt hành khách (43.292.743 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 99,51% (99,74%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,11% (106,01%).

+ Đường sông vận chuyển được 1.270.412 lượt hành khách (11.141.183 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 99,88% (98,76%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,23% (104,85%).

- Ước thực hiện cả năm 2017, vận chuyển được 110.471.149 lượt hành khách (641.438.123 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 103,46% (106,83%). Chia ra:

+ Đường bộ vận chuyển được 95.309.681 lượt hành khách (509.732.197 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 102,94% (106,98%).

+ Đường sông vận chuyển được 15.161.468 lượt hành khách (131.705.926 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 106,85% (106,24%).

6.3 Hoạt động xuất, nhập khẩu:

Ước thực hiện tháng 12 năm 2017, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 89,779 triệu USD, so với tháng trước bằng 102,80% và so với cùng kỳ năm trước bằng 135,86%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 63,089 triệu USD so với tháng trước bằng 100,35% và so với cùng kỳ năm trước bằng 115,43%.

Nguyên nhân ước giá trị xuất trực tiếp hàng hóa tăng so với tháng trước là do tháng 12 là thời điểm mà các thị trường nhập khẩu như: Mỹ, các nước EU, Nhật, Hàn Quốc…. sẽ diễn ra rất nhiều lễ hội lớn, đặc biệt là lễ Noel và Tết Dương lịch sắp đến. Do đó, nhu cầu tiêu dùng của người dân ở các nước nhập khẩu sẽ tăng cao so với tháng trước. Mặt khác, cũng nhằm để phục vụ tốt cho các hoạt động của lễ hội, nhu cầu tiêu dùng của người dân trong nước, các thị trường này có thể sẽ nhập khẩu sản lượng thủy sản nhiều hơn so với bình thường. Vì vậy, giá trị xuất khẩu có thể sẽ tăng trong tháng cuối năm.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 26,690 triệu USD so với tháng trước bằng 109,09% và so với cùng kỳ năm trước bằng 233,57%.

Ước cả năm 2017, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, ủy thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 1.050,975 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 139,67% và so với kế hoạch năm đạt 150,57%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 677,586 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 138,10% và so với kế hoạch năm đạt 136,06%. Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu năm 2017 so với năm 2016 có phát sinh thêm mặt hàng giấy thành phẩm các loại với giá trị xuất khẩu năm 2017 ước được 66,368 triệu USD (chiếm 9,79% tổng kim ngạch xuất khẩu chung). Các nhóm hàng xuất khẩu truyền thống khác còn lại hầu hết đều có giá trị tăng so với cùng kỳ. Cụ thể:

Hàng thủy sản vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực có giá trị xuất khẩu ước được 420,204 triệu USD, chiếm 62,01% trong tổng giá trị xuất khẩu chung và bằng 116,61% so với cùng kỳ năm 2016.

Hàng Giầy dép các loại có tốc độ tăng rất cao so với cùng kỳ năm 2016, ước giá trị năm 2017 được 138,620 triệu USD, chiếm 20,46% tỷ trọng xuất khẩu của toàn tỉnh và bằng 166,36% so với cùng kỳ năm 2016. Nguyên nhân tăng cao chủ yếu là do trong năm 2017 doanh nghiệp Lạc Tỷ II có hoạt động xuất nhập khẩu giầy dép các loại trên địa bàn Huyện Châu Thành A mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh, vì vậy đã làm gia tăng giá trị xuất khẩu của nhóm hàng này.

Các mặt hàng khác còn lại hầu hết đều có giá trị tăng so với cùng kỳ bao gồm: Hàng nông sản chiếm tỷ trọng 2,18% và bằng 108,98% so cùng kỳ. Sản phẩm gỗ các loại và một số mặt hàng sản phẩm khác chiếm 4,56% và bằng 141,25% so với cùng kỳ năm 2016.

Riêng giá trị xuất khẩu gạo năm 2017 giảm nhiều, chỉ bằng 16,45% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do trong năm 2016 trên địa bàn tỉnh chỉ có duy nhất một doanh nghiệp có giá trị Gạo xuất khẩu lớn. Đến tháng 5 năm 2017 doanh nghiệp này đã chuyển địa điểm kinh doanh về tỉnh An Giang. Vì vậy, giá trị xuất trực tiếp Gạo trong năm 2017 giảm.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 309,831 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 156,75% và so với kế hoạch năm đạt 258,19%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 4,849 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 47,43% và so với kế hoạch năm đạt 32,33%. Nguyên nhân ước giá trị ủy thác xuất khẩu không đạt cao so với cùng kỳ và kế hoạch năm là do Doanh nghiệp Taydoshin có giá trị ủy thác gạo trong năm 2016, hiện nay đã chuyển địa điểm sản xuất kinh doanh về tỉnh An Giang. Vì vậy, ủy thác xuất khẩu giảm.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 58,709 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,81% và so với kế hoạch năm đạt 90,32%.

Hiện nay, nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến xuất khẩu vẫn còn đang thiếu hụt gây ra không ít khó khăn khiến cho các Nhà máy chế biến của Doanh nghiệp vẫn chưa thể hoạt động hết công suất, còn phụ thuộc nhiều vào nguồn lực từ bên ngoài. Mặt khác, việc áp dụng chính sách truy suất nguồn gốc xuất xứ, áp dụng quy định mới về kiểm soát dư lượng kháng sinh trong sản phẩm, đánh thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm Tôm xuất khẩu các loại cũng đã tác động xấu làm ảnh hưởng đến giá trị xuất khẩu chung của toàn ngành.

Đến thời điểm hiện tại tình hình thời tiết đang dần ổn định, thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản và gia tăng sản lượng nguồn nguyên liệu. Do đó, trong thời gian tới, doanh nghiệp cần tìm kiếm liên kết với người nuôi để mua nguồn nguyên liệu chế biến chất lượng, ổn định, biết rõ nguồn gốc xuất xứ, giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài, đáp ứng được nhu cầu của các nước nhập khẩu từ đó các doanh nghiệp sẽ dễ dàng chủ động hơn trong việc lên kế hoạch sản xuất kinh doanh, đưa nhà máy hoạt động hết công suất thiết kế, tạo ra các sản phẩm chất lượng có giá trị cao, góp phần làm tăng giá trị xuất khẩu chung .

  1. Các vấn đề xã hội

7.1. Giải quyết việc làm:

Toàn tỉnh đã giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 17.509 lao động, đạt 116,73% chỉ tiêu kế hoạch năm 2017. Trong đó, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài 84 lao động, đạt 120% chỉ tiêu kế hoạch năm 2017. Số lao động được đào tạo nghề là 6.573lao động, đạt 101,01% chỉ tiêu kế hoạch năm 2017. Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề đạt 25,4%, đạt 106% kế hoạch năm.

Tư vấn việc làm cho 11.672 lao động; có 4.587 lao động đăng ký tìm việc làm; giới thiệu việc làm cho 2.983 lao động. Ra Quyết định hưởng chế độ Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định cho 3.557 người lao động với số tiền trên  31,111 tỷ đồng.

7.2. Công tác giảm nghèo:

Theo kết quả sơ bộ công tác điều tra, rà soát hộ nghèo năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 12,48% xuống còn 9,89%, biên độ giảm trong kỳ là 2,59%, đạt 128,9% kế hoạch năm.

Ngành Lao động Thương binh và Xã hội đã cung cấp tín dụng ưu đãi cho 3.964 hộ nghèo, hộ cận nghèo với số tiền trên 74,17 tỷ đồng; Cấp 178.319 thẻ BHYT cho người nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội khó khăn và người sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn với kinh phí thực hiện gần 115 tỷ đồng; vận động Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam, Tổng Công ty Điện lực Miền Nam hỗ trợ xây dựng 141 căn nhà tình nghĩa - nhà tình thương cho hộ gia đình chính sách, hộ nghèo với tổng kinh phí 7,05 tỷ đồng; trợ cấp tiền điện, hỗ trợ tiền tết cho 54.227 lượt hộ nghèo, hộ chính sách xã hội, với tổng kinh phí trên 27,02 tỷ đồng. Thực hiện in, phát hành 14.500 tờ rơi và 1.690 cẩm nang giảm nghèo; lắp đặt 07 panô và 10 khẩu hiệu tuyên truyền giảm nghèo; tổ chức chuyên đề về giảm nghèo, chia sẽ kinh nghiệm và tập huấn bồi dưỡng nâng cao kỹ năng truyền thông cho 92 cán bộ cấp xã, ấp trên địa bàn xã Hỏa Tiến (thành phố Vị Thanh) và xã Phương Bình (huyện Phụng Hiệp), tổng kinh phí thực hiện trên 192 triệu đồng.

7.3. Bảo trợ xã hội (BTXH):

Trợ cấp thường xuyên cho 325.275 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền 120 tỷ đồng. Hỗ trợ mai táng phí cho 1.570 trường hợp với số tiền trên 8,47 tỷ đồng; trợ cấp đột xuất cho 282 trường hợp với số tiền khoản 2,23 tỷ đồng; cấp gần 22.000 thẻ BHYT cho đối tượng Bảo trợ xã hội, kinh phí gần 14 tỷ đồng. Tham mưu UBND tỉnh tổ chức Hội nghị sơ kết 08 tháng thực hiện công tác chi trả trợ giúp xã hội hàng tháng qua hệ thống bưu điện.

Trong năm 2017, Trung tâm Công tác xã hội tỉnh đã tiếp nhận mới 43 học viên, đưa ra khỏi Trung tâm 30 học viên, tổng số học viên đang quản lý là 150 học viên. Từ nguồn kinh phí được phân bổ đầu năm, Trung tâm đã chi hơn 1,77 tỷ đồng để phục vụ cho các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, ngoài ra còn vận động được hơn 31 triệu đồng để tăng khẩu phần ăn hàng ngày cho học viên. Tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Công tác xã hội với người yếu thế” nhân Ngày Công tác xã hội Việt Nam 25 tháng 3 với 50 đại biểu tham dự.

7.4. Thực hiện chính sách đối với người có công:

Từ đầu năm đến nay, ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Hậu Giang đã giải quyết hồ sơ đề nghị xác nhận thương binh, liệt sĩ còn tồn đọng: Qua đối chiếu theo quy định, toàn tỉnh có 32 hồ sơ (27 hồ sơ đề nghị công nhận liệt sĩ, 05 hồ sơ đề nghị công nhận thương binh). Với vai trò là Thường trực Ban Chỉ đạo xác nhận người có công của tỉnh, đến nay Sở Lao động - Thương binh & Xã hội đã tham mưu Ủy ban Nhân dân tỉnh cơ bản giải quyết xong 32 hồ sơ. Trong đó, tham mưu Ủy ban Nhân dân tỉnh gửi về Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội thẩm định, trình Chính phủ tặng Bằng Tổ quốc ghi công đối với 13 trường hợp, phối hợp với địa phương hướng dẫn 03 đối tượng thiết lập hồ sơ thương binh, nâng tổng số hồ sơ đủ điều kiện công nhận thương binh, liệt sĩ là 16 hồ sơ; 15 hồ sơ không đủ điều kiện, 01 hồ sơ tiếp tục phối hợp với cơ quan chức năng có liên quan và địa phương xác minh làm rõ thêm.

Tổ chức được 24 cuộc hội nghị gặp gỡ người có công của 28 xã, phường, thị trấn (có 1.227 người có công tham dự, có 455 lượt ý kiến). Các ý kiến tập trung vào nội dung như: đề nghị hỗ trợ xây dựng và sửa chữa nhà ở đối với người có công; đề nghị mua Bảo hiểm y tế cho thân nhân người có công, giải quyết hồ sơ tồn đọng đề nghị xác nhận hồ sơ người có công...

Phối hợp với các đơn vị có liên quan tham mưu, tổ chức các hoạt động thăm, tặng quà, Hội nghị biểu dương người có công nhân kỷ niệm 70 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2017). Thăm, tặng 41.483 phần quà cho người có công trên địa bàn tỉnh với tổng kinh phí gần 12 tỷ đồng; Tổ chức Hội nghị biểu dương người có công, tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” và Lễ phong, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng đợt 7; Thành lập 08 đoàn đến thăm, tặng quà cho 1.880 người có công với cách mạng tại 08 điểm họp mặt trên địa bàn thành phố, thị xã và các huyện với số tiền trên 789 triệu đồng; Thành lập 04 đoàn thăm, tặng quà cho 224 người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ đang điều trị tại Bệnh viện tỉnh và các Trung tâm Y tế trong tỉnh, kinh phí 112 triệu đồng.

Hoàn thành kế hoạch số hóa 7.872/7.872 hồ sơ liệt sĩ (giai đoạn 1). Phối hợp với Sở Nội vụ tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị Chủ tịch nước quyết định truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước bà mẹ Việt Nam anh hùng cho 20 trường hợp.

Phối hợp với Sở Xây dựng triển khai xây dựng mới và sửa chữa 590 căn nhà tình nghĩa theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ (từ nguồn kinh phí tạm ứng của tỉnh là 16 tỷ đồng).

7.5  Tình hình tai nạn giao thông:

Theo số liệu của Ban an toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, tháng 12 năm 2017 đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông tập trung ở đường bộ, so với cùng kỳ năm trước giảm 02 vụ. Với số vụ tai nạn trên đã làm 05 người chết, so với tháng trước tăng 02 người và tương đương so với cùng kỳ năm trước; có 12 người bị thương, tăng 04 người so với tháng trước và giảm 02 người so với cùng kỳ năm trước.

Thống kê năm 2017, trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đã xảy ra 117 vụ tai nạn giao thông (tập trung chủ yếu ở đường bộ), làm chết 71 người và bị thương 61 người tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 35 vụ tai nạn (đường bộ tăng 37 vụ; đường sông giảm 02 vụ) số người chết tăng 17 người (đường bộ tăng 19 người, đường sông giảm 02 người) và số người bị thương tăng 15 người tập trung ở đường bộ.

7.6  An toàn cháy nổ:

Trong năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 04 vụ cháy, làm 3 người chết và bị thương 3 người. Tổng giá trị thiệt hại tài sản ước tính gần 1,16 tỷ đồng. Nguyên nhân do thời tiết nắng hạn nhiều, ít mưa nên dễ sảy ra cháy nổ đặt biệt là ở những khu dân cư và ở chợ vì vậy cần tăng cường những biện pháp phòng chống cháy nổ.        

  1. Đề xuất các giải pháp:

Đẩy mạnh thực hiện tái cơ cấu kinh tế:

Triển khai thực hiện Chương trình số 05/CTr-UBND ngày 30/5/2017 của UBND tỉnh về tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 - 2020; tập trung chủ yếu vào tái cơ cấu nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ; đầu tư công; tích cực vận dụng các cơ chế, chính sách để huy động mạnh các nguồn vốn thuộc mọi thành phần kinh tế cho đầu tư phát triển.

Tập trung vào tái cơ cấu nông nghiệp, tiếp tục thực hiện Đề án 1000 và các đề án lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp; nâng cao hoạt động kinh tế hộ cá thể, kinh tế tập thể và các Công ty cổ phần có vốn nhà nước; củng cố, nâng chất hoạt động của các hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; thực hiện có hiệu quả Đề án nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã đến năm 2020; nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức tín dụng, kéo giảm nợ xấu xuống mức cho phép; tiếp tục tập trung nguồn vốn cho vay các lĩnh vực ưu tiên, các chương trình mục tiêu quốc gia, các đề án trọng điểm của tỉnh.

Thực hiện hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các thành phần kinh tế phát triển nhanh và ổn định, chú trọng tổ chức xúc tiến thương mại để nhiều sản phẩm chủ lực của tỉnh có thêm thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước; cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư trong các khu, cụm công nghiệp triển khai đầu tư các dự án đã đăng ký, đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sớm đưa  vào hoạt động.

Nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới

Tập trung chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện tốt, đúng tiến độ các Chương trình, đề án, dự án trọng điểm về nông nghiệp và thích ứng với biến đổi khí hậu, hạn mặn, như: Nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2014 - 2016, định hướng đến năm 2020; Chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn tỉnh; Đề án phát triển giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản chất lượng cao tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 - 2020; Đề án phát triển Trạm bơm điện tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 - 2020; hoàn thiện các chuỗi giá trị 10 sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh (như: lúa, mía, bưởi, cam sành, khóm, xoài, quít, chanh không hạt, cá thát lác, cá rô đồng). Tổ chức lại sản xuất theo tổ hợp tác, Hợp tác xã kiểu mới.

Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nền nông nghiệp có giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững. Đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ cao nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành và thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống Nhân dân.

Phát triển công nghiệp - xây dựng, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ thúc đẩy doanh nghiệp phát triển

Về công nghiệp:

Khuyến khích tạo điều kiện tái cơ cấu doanh nghiệp; kêu gọi thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về khuyến công, phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp; tăng cường xúc tiến thu hút đầu tư nhằm nâng cao tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, đặc biệt thu hút đầu tư vào ngành sản phẩm công nghiệp có lợi thế của địa phương, tạo ra sản phẩm xuất khẩu và sử dụng nhiều lao động.

Thúc đẩy đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, chủ động tham gia và tận dụng thành quả của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 để nâng cao năng suất lao động, phát triển các ngành công nghiệp của tỉnh.

Về lĩnh vực xây dựng:

Tiếp tục tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ ODA để đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật đô thị thị xã Ngã Bảy, thị xã Long Mỹ. Triển khai Dự án mở rộng nâng cấp đô thị Việt Nam - Tiểu dự án thành phố Vị Thanh từ nguồn vốn hỗ trợ của WB. Triển khai Chương trình phát triển nhà ở xã hội.

Nâng cao chất lượng công tác lập quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị - nông thôn; tiếp tục hoàn thành việc tổ chức lập các danh mục quy hoạch chuyển tiếp từ năm 2017 sang năm 2018. Tiếp tục tổ chức rà soát, điều chỉnh các danh mục quy hoạch xây dựng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.

Triển khai chương trình phát triển đô thị trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2016 -2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Tiếp tục xây dựng, nâng chất các tiêu chí đô thị thành phố Vị Thanh, thị xã Long Mỹ đảm bảo đến năm 2020 đạt tiêu chuẩn đô thị loại II và loại III. Rà soát, xây dựng, nâng chất các tiêu chí đô thị cho 4 đô thị dự kiến công nhận đô thị loại V.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực đầu tư xây dựng cho các tổ chức, cá nhân, giám sát, kiểm tra và thực hiện; đồng thời tăng cường quản lý hoạt động xây dựng, chất lượng công trình xây dựng, quy hoạch, kiến trúc, cảnh quan và mỹ quan đô thị; quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị, phát triển đô thị, nhà ở và xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng.    

Về đầu tư công:

Chủ động triển khai đúng lộ trình của Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020, tăng cường quản lý đầu tư theo Luật Đầu tư công và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ. Kiểm soát chặt chẽ các kế hoạch điều chỉnh, bổ sung vốn. Chủ động xã hội hóa và kêu gọi thu hút các nguồn vốn đầu tư để giảm gánh nặng đầu tư cho ngân sách nhà nước. Thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu giai đoạn 2016 - 2020. Triển khai kế hoạch đầu tư công năm 2018. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư công, vốn FDI, vốn ODA, vốn NGO và huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế.

Về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và phát triển doanh nghiệp:

Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, đặc biệt là chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo; thành lập Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tạo thêm các điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp khởi nghiệp.

Thường xuyên theo dõi tình hình phát triển doanh nghiệp, thực hiện chủ trương xem doanh nghiệp là đối tượng phục vụ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư, kinh doanh và phát triển; tổ chức đối thoại công khai định kỳ với cộng đồng doanh nghiệp để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh; hỗ trợ cho doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, hướng đến mục tiêu có trên 800 doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2018.

Phát triển thương mại, dịch vụ và xuất khẩu

Phát triển nâng chất hệ thống chợ, kêu gọi đầu tư xây dựng các chợ đầu mối về hàng tiêu dùng, hàng nông sản của tỉnh, phát triển mạng lưới dịch vụ ở nông thôn, có kế hoạch triển khai hệ thống thương mại điện tử.

Tiếp tục triển khai cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; đẩy mạnh liên kết vùng, khu vực để tìm đầu ra cho nông sản hàng hóa của tỉnh; triển khai các Chương trình xúc tiến thương mại, bình ổn thị trường, bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa, nâng cao chất lượng hàng hóa và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Chủ động tích cực hội nhập kinh tế theo vùng và hội nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến đến các doanh nghiệp về các tổ chức kinh tế lớn như ASEM, APEC, WTO và hiệp định thương mại tự do FTA.

Chủ động theo dõi diễn biến giá cả thị trường, tăng cường công tác quản lý thị trường, kịp thời phát hiện những trường hợp đầu cơ, gây mất cân bằng cung cầu, xử lý nghiêm những trường hợp kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng; quản lý giá bán theo giá niêm yết, xử lý các vi phạm về giá.

Tăng cường công tác quản lý nhà nước, hỗ trợ để cải thiện, nâng chất các loại hình dịch vụ như vận tải, logistic, y tế, giáo dục, viễn thông, bảo hiểm, ngân hàng, quảng cáo, thương mại... tạo sức bật năng động của khu vực dịch vụ.

Quản lý, sử dụng tài chính có hiệu quả, phát huy hệ thống tín dụng

Triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý thuế gắn với cải cách thủ tục hành chính thuế; thường xuyên kiểm tra, giám sát kê khai thuế, nộp thuế điện tử; theo dõi chặt chẽ tiến độ thu ngân sách, đánh giá, phân tích từng nguồn thu, địa bàn thu, đảm bảo thu sát đúng với thực tế phát sinh, xác định cụ thể các nguồn thu còn tiềm năng, các lĩnh vực, loại thuế còn thất thu để kịp thời đề ra các giải pháp quản lý thu có hiệu quả; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu ngân sách, nợ đọng tiền thuế, hạn chế thấp nhất nợ mới phát sinh làm gia tăng thêm nợ thuế; kịp thời triển khai cho doanh nghiệp các chính sách thuế mới và giải đáp vướng mắc, khó khăn cho người nộp thuế; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách để đẩy nhanh tiến độ các dự án có thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trên địa bàn.

Tăng cường công tác quản lý chi ngân sách địa phương, đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm và hiệu quả. Thực hiện tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên, chi cho bộ máy quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công. Tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công.

 Các tổ chức tín dụng trên địa bàn tiếp tục khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động trong dân, mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, chất lượng tín dụng; tăng cường công tác quản lý khoản vay, đẩy mạnh xử lý, thu hồi nợ xấu; tiếp tục triển khai thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng với khách hàng, chủ động nghiên cứu, xây dựng các chương trình cho vay với lãi suất hợp lý, thực hiện tiết giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh để có điều kiện giảm lãi suất cho vay; đổi mới quy trình cho vay, đơn giản hóa thủ tục vay vốn, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận nhanh nhất nguồn vốn tín dụng. Tiếp tục thực hiện chính sách tín dụng phục vụ kinh doanh, xuất khẩu lúa gạo, cho vay tạm trữ lúa gạo, giảm tổn thất sau thu hoạch đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, chính sách tín dụng đối với người nuôi tôm, cá tra, cho vay nhà ở xã hội…; tiếp tục đóng góp tích cực cho công tác an sinh xã hội, đền ơn đáp nghĩa,phát triển giáo dục, y tế, cải thiện diện mạo nông thôn, góp phần giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai, …Đảm bảo hoạt động tiền tệ, ngân hàng trên địa bàn ổn định, hiệu quả và phát triển bền vững, trên cơ sở phát huy có hiệu quả lợi thế kinh tế - xã hội ở địa phương.