Tháng 3
09:21 13/08/2018

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

 tháng 3 và ước quý I năm 2017

  1. Tài chính - Tín dụng

              1.1. Tài chính:

Ước Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 3 năm 2017 được 595.381 triệu đồng, lũy kế được 2.898.654 triệu đồng, đạt 55,16% dự toán Trung ương giao, đạt 54,65% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Nếu loại trừ tồn quỹ ngân sách năm 2016 mang sang được 1.431.808 triệu đồng, thì tổng thu ngân sách nhà nước lũy kế của tháng 3 được 1.466.846 triệu đồng, đạt 27,91% dự toán Trung ương giao, đạt 27,65% dự toán Hội đồng nhân dân giao. Trong đó, thu nội địa được 279.941 triệu đồng, lũy kế được 735.900 triệu đồng, đạt 26,57% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Tổng chi ngân sách địa phương tháng 3 năm 2017 được 411.564 triệu đồng, luỹ kế được 931.352 triệu đồng, đạt 19,25% dự toán Trung ương giao, đạt 19,05% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Chi thường xuyên được 288.476 triệu đồng, luỹ kế được 685.120 triệu đồng, đạt 20,91% dự toán Trung ương giao, đạt 20,60% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

  1.2 Tín dụng ngân hàng:

Đến ngày 28/02/2017, huy động vốn trên địa bàn được 8.795 tỷ đồng, tăng 3,82% so với cuối năm 2016. Vốn huy động đáp ứng được 48,40% cho hoạt động tín dụng. Ước đến ngày 31/3/2017, huy động vốn trên địa bàn được 8.962 tỷ đồng, tăng 5,80% so với cuối năm 2016.

  Cho vay trên địa bàn đến ngày 28/02/2017 được 18.173 tỷ đồng, tăng 1,93% so với cuối năm 2016. Ước đến 31/3/2017, tổng dư nợ được 18.446 tỷ đồng, tăng 3,46% so với cuối năm 2016. Nợ xấu 304 tỷ đồng chiếm 1,67% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 31/3/2016, nợ xấu giảm xuống còn 301 tỷ đồng.

  1. Vốn đầu tư và xây dựng

  2.1. Vốn đầu tư:

          Tính đến ngày 16 tháng 3 năm 2017, Kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2017 là 15.935.742 triệu đồng, bao gồm các nguồn như sau:

                   - Vốn ngân sách nhà nước: 1.065.742 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

                   - Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.050.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 13.820.000 triệu đồng.

                     Đến đầu tháng 3 năm 2017, các Khu công nghiệp và Cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đã thu hút được 50 dự án đầu tư, gồm 49 nhà đầu tư sản xuất kinh doanh và 01 nhà đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng, với tổng số vốn đăng ký đầu tư là 67.102.370 triệu đồng và 763,7 triệu USD, với quy mô diện tích đăng ký khoảng 902,720 ha, đã giao mặt bằng được 580,190 ha.                  

          Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 3 năm 2017 là 1.469.135 triệu đồng, bằng 108,21% so với cùng kỳ năm trước và bằng 107,30% so với tháng trước. Nguyên nhân tháng 3/2017 thực hiện vốn đầu tư tăng là do: Nguồn vốn XDCB năm 2017 đã phân bổ ngay từ đầu năm, nên các chủ đầu tư không gặp khó khăn về nguồn vốn, công trình được triển khai thi công liên tục; Tháng cao điểm thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2017.

            Ước tính quý I năm 2017, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 4.100.435 triệu đồng, bằng 103,90% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 25,73% so với kế hoạch năm. Chia ra:

                   - Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 315.415 triệu đồng, bằng 63,94% so với cùng kỳ năm tr­ước, đạt 29,60% so với kế hoạch năm.              

                   - Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 287.730 triệu đồng, bằng 109,49% so với cùng kỳ năm trước và đạt 27,40% so với kế hoạch năm.                    

                   - Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 3.497.290 triệu đồng, bằng 110,14% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 25,31% so với kế hoạch năm.

              Để thực hiện hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư XDCB năm 2017 của tỉnh Hậu Giang, Cục Thống kê khuyến nghị một số giải pháp như sau:

Một là: các sở, ngành cần kiểm tra, đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình XDCB, mà đặc biệt là các công trình trọng điểm trên địa bàn; đồng thời gắn với việc giám sát, kiểm tra chất lượng công trình, nhanh chóng hoàn thành các công trình XDCB đang tồn đọng nhất là các công trình dự án trọng điểm đã bố trí vốn (giao thông, nông nghiệp, y tế, giáo dục, v.v…)

                 Hai là: Tập trung hoàn thành các công trình khánh thành và khởi công theo đúng tiến độ.    

                 Ba là: Đẩy nhanh tiến độ lập thủ tục XDCB đối với các công trình dự án đã đ­ược bố trí vốn, nhanh chóng làm thủ tục quyết toán các công trình đó hoàn thành.

                   Bốn là: Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành cấp tỉnh và các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề vướng mắc trong đầu tư XDCB.

            2.2. Xây dựng:

Ước tính Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành quý I năm 2017 thực hiện được 1.505.220 triệu đồng, so với quý trước (1.350.167 triệu đồng) bằng 111,48% và so với cùng kỳ năm trước bằng 116,79%. Trong đó loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 530.770 triệu đồng, bằng 106,11% so với quý trước và bằng 174,31% so với cùng kỳ năm trước; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 974.450 triệu đồng, bằng 114,65% so với quý trước và bằng 90,01% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện quý I năm 2017 như sau:

            - Công trình nhà ở thực hiện được 1.015.367 triệu đồng, so với quý trước (821.191 triệu đồng) bằng 123,65% và so với cùng kỳ năm trước bằng 118,54%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 50.695 triệu đồng, so với quý trước (96.382 triệu đồng) bằng 52,60% và so với cùng kỳ năm trước bằng 40,94%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 430.588 triệu đồng, so với quý trước (420.787 triệu đồng) bằng 102,33% và so với cùng kỳ năm trước bằng 141,07%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 8.570 triệu đồng, so với quý trước (11.807 triệu đồng) bằng 72,58% và so với cùng kỳ năm trước bằng 266,98%.

            Đến nay, tình hình xây dựng trên địa bàn Tỉnh chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở dân dụng và đường giao thông. Riêng các công trình trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước có qui mô lớn thì hầu hết đều do các Doanh nghiệp ngoài tỉnh thi công. Do vậy, đề nghị Lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, để các Doanh nghiệp xây dựng trong tỉnh được thi công nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành xây dựng của Tỉnh tăng cao.

  1. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

3.1. Nông nghiệp:

Trồng trọt

Vụ đông xuân năm 2017:

Cây hàng năm toàn tỉnh gieo trồng ước được 97.758 ha, so với cùng kỳ năm trước giảm 2,14% (bằng 2.135 ha). Trong đó, cây lúa, ngô, khoai, rau  đậu các loại đều giảm. Cụ thể như sau:

+ Lúa: Toàn tỉnh xuống giống được 77.863 ha, so với kế hoạch tỉnh đạt 101,12%, so với cùng kỳ năm trước giảm 2,01% (bằng 1.593 ha). Các giống lúa sử dụng phổ biến OM5451, IR50404, RVT, OM4900, OM4218... Nhìn chung toàn tỉnh đều hoàn thành kế hoạch xuống giống.

Đến nay, lúa đông xuân trên địa bàn tỉnh, nông dân thu hoạch được 54.185 ha. Năng suất ước tính được 66,05 tạ/ha, giảm 5,62% (bằng 3,93 tạ/ha) so với vụ đông xuân năm 2016. Hiện nay, một số nơi chuyển sang trồng cây lâu năm như Thị xã Ngã Bảy, huyện Phụng Hiệp và huyện Châu Thành… nên diện tích gieo trồng vụ đông xuân năm nay giảm so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng lúa đông xuân toàn tỉnh năm nay ước được 514.285 tấn, giảm 7,53% (bằng 41.866 tấn) so với sản lượng lúa đông xuân 2016. Do thời tiết không thuận lợi như: Không khí lạnh kéo dài, mưa trái mùa làm cho dịch bệnh dễ xảy ra nên hầu hết các huyện thu hoạch lúa đạt năng suất thấp so với cung kỳ năm trước.

+ Cây ngô: Diện tích gieo trồng được 1.420 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 10,64% (bằng 169 ha).

+ Cây lấy củ có chất bột: Diện tích gieo trồng được 458 ha, giảm 16,73% (bằng 92 ha) so cùng kỳ năm trước.

+ Cây rau, đậu các loại: Diện tích gieo trồng được 8.053 ha, so với năm trước giảm 4,88% (bằng 780 ha) do khó khăn trong khâu tiêu thụ nên diện tích hầu hết các loại rau đậu giảm so với cung kỳ năm trước.

+ Mía: Niên vụ 2017, toàn tỉnh xuống giống được 10.607 ha, giảm 2,55% (bằng 277 ha) so với cùng kỳ năm trước, tập trung ở TP. Vị Thanh, TX. Ngã Bảy, huyện Phụng Hiệp và huyện Long Mỹ. Do cây mía gặp khó trong tiêu thụ sản phẩm, thương lái ép giá, nên một số hộ trồng mía nay chuyển sang trồng các loại cây khác.

Nhìn chung: Diện tích, năng suất, sản lượng cây hàng năm giảm so với cùng kỳ năm trước do vụ đông xuân năm nay gặp thời tiết bất thường như mưa trái mùa, không khí lạnh kéo dài không thuận lợi cho sự phát triển cây hàng năm các loại. Bên cạnh đó, giá đầu ra cây rau màu không ổn định, tăng lên hay giảm xuống thất thường, thị trường tiêu thụ khó khăn nên bà con nông dân không trồng nhiều.

- Chăn nuôi:

 Ước tính trong quý I, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

+ Đàn heo: Có 143.768 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 9,68% (bằng 12.685 con).

            + Đàn gia cầm: Có 3.705 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,39% (bằng 14 ngàn con). Trong đó, đàn gà có 1.166 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước giảm 1,63% (bằng 19 ngàn con).

 Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay dịch bệnh trên gia súc gia cầm chưa xảy ra trong địa bàn tỉnh. Ngành thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm, tăng cường công tác kiểm dịch động vật để tránh dịch bênh lây lan; kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú ý để đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm.

3.2. Lâm nghiệp:

- Công tác phòng cháy chữa cháy rừng: Từ đầu năm đến nay, công tác phòng cháy chữa cháy rừng được đảm bảo, không xảy ra vụ cháy rừng nào trên địa bàn tỉnh.

- Công tác bảo vệ rừng: Công tác thẩm định, giám sát, kiểm tra, nghiệm thu khai thác rừng, cây phân tán đảm bảo đúng quy định. Công tác phòng chống cháy rừng đã được quán triệt và làm tốt nên diện tích rừng được bảo vệ an toàn.    

- Công tác quản lý rừng: Trong quý I so với cùng kỳ năm trước: Diện tích rừng trồng mới ước được 39,36 ha tăng 3,35% (bằng 1,28 ha); khai thác gỗ được 3.123 m3 tăng 0,63% (bằng 20 m3) và sản lượng củi khai thác được 32.519 Ster tăng 0,34% (bằng 110 Ster).

3.3. Thủy sản:

Trong quý I, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước được 1.754 ha, giảm 0,13% (bằng 3 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích cá tra công nghiệp nuôi được 71,91 ha, tăng 1,16% (bằng 0,4 ha).

- Về sản lượng: Tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh ước được 15.134 tấn, tăng 1,82% (bằng 271 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

+ Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 14.343 tấn, tăng 1,98% (bằng 278 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá được 13.974 tấn, tăng 1,49% .

+ Sản lượng thủy sản khai thác được 791 tấn, giảm 0,86% (bằng 7 tấn).

Nhìn chung: Tình hình sản xuất nông nghiệp quí I năm 2017, khó khăn hơn so với năm trước, do tình hình sản xuất gieo trồng cây hàng năm vụ đông xuân năm nay thời tiết bất thường như mưa trái mùa, không khí lạnh kéo dài không thuận lợi cho sự phát triển các loại cây. Nhưng bên cạnh đó, giá lúa tăng so với cùng kỳ (giá lúa dài thường (lúa tươi) từ 5.200đ/kg đến 5.800 đ/kg) nên lợi nhuận người trồng lúa được đảm bảo. Ngành thú y thực hiện tốt công tác tiêm phòng, quản lý, giám sát dịch bệnh, dịch cúm gia cầm không xảy ra trên địa bàn tỉnh.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tháng 3/2017 bằng 105,32% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể:

- Công nghiệp chế biến, chế tạo bằng 103,33%. Trong đó, ngành sản xuất và chế biến thực phẩm bằng 104,09% so cùng kỳ năm trước.

- Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí bằng 179,82% tăng 79,82% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 13,01%.

- Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải bằng 101,63%, tăng 1,63% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành khai thác sử lý và cung cấp nước tăng 0,17%.

 So với quý I năm 2016, chỉ số IIP quý I  năm 2017 tăng 5,45% là do ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 59,23%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,86% và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4%.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 3 năm 2017:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 1.655.520 triệu đồng, tăng 5,28% so với tháng trước và tăng 7,69% so với cùng kỳ năm trước.

- Tính theo giá thực tế, được 2.079.745 triệu đồng, tăng 5,40% so với tháng trước và tăng 7,22% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với tháng trước là do các doanh nghiệp đã đi vào hoạt động ổn định và tăng sản lượng sau thời gian nghỉ Tết Nguyên đán để hoàn thành các hợp đồng đã ký trước đó với khách hàng trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, tăng một phần khác là do các cơ sở sản xuất công nghiệp, tăng sản lượng sau thời gian nghỉ Tết Nguyên đán để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của thị trường trong nước.

 Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện quý I năm 2017:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 4.844.539 triệu đồng, tăng 6,10% so với cùng kỳ năm trước và đạt 21,64% so với kế hoạch năm.

- Tính theo giá thực tế, được 6.002.014 triệu đồng, tăng 6,14% so với cùng kỳ năm trước đạt 21,35% so với kế hoạch năm. Hiện tại, trên đị bàn tỉnh Hậu Giang có trên 200 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất công nghiệp. Trong đó, trên 53 doanh ngiệp đang hoạt động trong ngành công nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm, tạo ra được giá trị trên 4.118 tỷ đồng trong tổng số giá trị của toàn tỉnh, chiếm tỷ trọng trên 68,62% giá trị chung của toàn tỉnh. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp này đã tận dụng được nguồn nguyên liệu tập trung tại chổ, lao động sẵn có, chi phí nhân công thấp… Chính vì các yếu tố trên đã thúc đẩy các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư mở rộng nhà máy, không ngừng đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, hạ giá thành sản phẩm nên giá trị sản xuất công nhiệp ước quý I năm 2017 tăng so với cùng kỳ.

Nhìn chung, quý I năm 2017, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối đồng đều và ổn định. Tuy nhiên, dù đã có sự tăng trưởng, nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về giá, thị trường xuất khẩu và một số yếu tố khác như: Điện, xăng dầu,... Do vậy, để hoàn thành kế hoạch năm 2017, các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp đang đầu tư sớm đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

  1. 5. Thương mại, dịch vụ

              5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ:

   Ước thực hiện tháng 3 năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 2.687.173 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 100,54% và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,84%.

Bước qua tháng 3, doanh thu dịch vụ khác có xu hướng giảm hơn so với tháng trước vì nhu cầu trong dân đối với các hoạt động vui chơi giải trí, và một số dịch vụ khác giảm, cơ sở vật chất còn thiếu và chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân, nên nhóm ngành này luôn có doanh thu không ổn định và còn phụ thuộc vào yếu tố mùa vụ.

Ngành thương mại và ăn uống trong tháng có tăng hơn so với tháng trước tuy nhiên mức tăng không đáng kể. Do thời tiết nắng nóng, nguồn cung hàng hóa trên thị trường và nhu cầu tiêu dùng trong dân giảm. Vì vậy, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành không tăng nhiều so với tháng trước.

Ước thực hiện quý I năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 8.210.588 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 102,15% và so với kế hoạch năm đạt 25,54%. Chia ra:

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa ước thực hiện được 5.959.462 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 102,01% và so kế hoạch năm đạt 25,57%.

- Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) ước thực hiện được 781.482 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 106,15% và so kế hoạch năm đạt 24,79%.

- Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước thực hiện được 1.469.644 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 100,68% và so với kế hoạch năm đạt 25,82%.

Với số liệu trên cho thấy tình hình thương mại dịch vụ trong quý I năm 2017 trên địa bàn tỉnh có tốc độ tăng không cao và không đồng đều giữa các ngành. Ngành thương mại vẫn là ngành chiếm tỷ trọng cao (chiếm 72,58% trong tổng doanh thu ngành thương mại - dịch vụ), tốc độ tăng của ngành này sẽ ảnh hưởng lớn đến tốc độ tăng của cả ngành thương mại - dịch vụ toàn tỉnh. Trong bối cảnh thời tiết biến đổi rõ nét, nắng nóng và có thể sẽ xảy ra xâm nhập mặn tại các địa bàn giáp với tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu. Điều đó làm cho sản xuất, canh tác, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp của người dân gặp khó khăn, ảnh hưởng đến đời sống chi tiêu, sinh hoạt hàng ngày. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất phục vụ cho nhu cầu vui chơi, giải trí của người dân còn chưa đa dạng, làm hạn chế sự phát triển của ngành dịch vụ trong những năm qua là những trở ngại làm cho tốc độ tăng của ngành thương mại - dịch vụ không cao. Vì vậy, các cấp lãnh đạo cần quan tâm và đề ra những giải pháp cụ thể, sát với tình hình thực tế hơn nữa để ngành thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh hoàn thành kế hoạch đã đề ra

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu:

Ước thực hiện tháng 3 năm 2017, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa

trực tiếp thực hiện được 52,084 triệu USD, so với tháng trước bằng 92,06% và so với cùng kỳ bằng 125,75%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 41,368 triệu USD so với tháng trước bằng 104,55%  và so với cùng kỳ năm trước bằng  120,61%.

Nguyên nhân ước giá trị xuất trực tiếp tăng là do hiện nay nhiều Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam với các thị trường tiêu thụ lớn đã được thực hiện ký kết. Điều này đã giúp các mặt hàng chế biến thủy sản, nông sản có lợi thế cạnh tranh hơn so với các nước khác có cùng mặt hàng xuất khẩu trên thị trường thế giới, mở ra nhiều cơ hội cho sản phẩm được xuất đi dễ dàng hơn. Vì vậy, giá trị xuất trực tiếp trong tháng tới có thể sẽ tăng.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 10,716 triệu USD so với tháng trước bằng 92,36% và so với cùng kỳ bằng 150,51%.

Ước thực hiện quý I năm 2017, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 158,382 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 132,10% và so với kế hoạch năm đạt 22,69%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 112,172 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 128,61% và so với kế hoạch năm đạt 22,52%.

                        - Nhập khẩu ước thực hiện được 30,060 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 169,23% và so với kế hoạch năm đạt 25,05%.

            - Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 1,026 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 64,98% và so với kế hoạch năm đạt 6,84%.

            - Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 15,124 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 113,42% và so với kế hoạch năm đạt 23,27%.

            Hiện nay, quá trình hội nhập kinh tế đang có xu hướng diễn ra ngày càng sâu rộng, mở ra nhiều thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, nhưng song song đó cũng phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, đặc biệt là tình hình xuất khẩu hàng hóa. Các nước nhập khẩu dựng lên ngày càng nhiều các rào cản thương mại phi thuế quan. Tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng an toàn vệ sinh thực phẩm cùng với việc áp đặt các loại thuế chống bán phá giá, thuế trợ cấp là những vấn đề nan giải gây ra nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận và tìm đầu ra cho sản phẩm.

         Vì vậy, trong năm 2017 để giá trị xuất khẩu tiếp tục có mức tăng trưởng và bền vững thì đòi hỏi các doanh nghiệp cần sớm đưa ra kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý để có thể chủ động ứng phó. Bên cạnh việc từng bước nâng cao chất lượng sản phẩm, không ngừng cải tiến các hình thức mẫu mã để đưa ra thị trường các sản phẩm mới có tính cạnh tranh, phù hợp với xu hướng nhu cầu của người tiêu dùng tại các nước nhập khẩu thì cũng cần kết hợp việc mở rộng hệ thống kênh thông tin quảng bá thương hiệu, đưa sản phẩm có thể xuất sang được nhiều thị trường mới trên thế giới, từ đó góp phần nâng cao giá trị xuất khẩu chung.

            5.3. Tình hình giao thông vận tải:

Tổng doanh thu đường bộ, đường sông và dịch vụ, đại lý vận tải ước thực hiện quý I năm 2017 được 261.212 triệu đồng, so với cùng kỳ tăng 6,64%. Trong đó, đường bộ được 117.410 triệu đồng, tăng 5,20% so với cùng kỳ; đường sông được 143.802 triệu đồng, tăng 7,84% so với cùng kỳ. Sở Giao thông vận tải cùng với các ngành chức năng sẽ tiếp tục tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông, đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình trọng điểm, triển khai đồng bộ các giải pháp kiềm chế và kéo giảm tai nạn giao thông. Trong đó, ưu tiên xây dựng các tuyến đường tỉnh đi qua những vùng khó khăn, kết nối lưu thông liên hoàn với hệ thống đường huyện, xây dựng hệ thống giao thông nông thôn gắn với chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới nhằm góp phần giúp cho việc lưu thông, giao thương hàng hóa trên địa bàn tỉnh được an toàn, thông suốt hơn, đáp ứng khá tốt nhu cầu giao thương hàng hóa và đi lại an toàn cho người dân. Tình hình vận chuyển, luân chuyển hàng hóa và hành khách cụ thể như sau:

Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa:

Ước thực hiện tháng 3 năm 2017, toàn tỉnh vận chuyển được 803.650 tấn (20.579.614 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,06% (102,47%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,45% (106,71%). Chia ra:

- Đường sông thực hiện được 641.068 tấn (18.637.133 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 100,51% (102,43%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,14% (105,82%).

- Đường bộ thực hiện được 162.582 tấn (1.942.481 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 103,29% (102,87%) và so với cùng kỳ năm trước bằng  106,67% (116,01%).

Ước thực hiện quý I năm 2017, toàn tỉnh vận chuyển được 2.400.244 tấn (62.866.953 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 103,71% (107,91%). Chia ra:

- Đường sông thực hiện được 1.921.565 tấn (56.893.525 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 103,82% ( 106,89%).

- Đường bộ thực hiện được 478.679 tấn (5.973.428 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 103,27% ( 118,66%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách:

Ước thực hiện tháng 3 năm 2017, vận chuyển được 9.286.823 lượt hành khách (54.042.062 HK.km), so với tháng trước bằng 100,68% (102,26%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,99% ( 107,44%). Chia ra:

- Vận chuyển bằng đường bộ được 8.009.218 lượt hành khách (42.963.982 HK.km), so với tháng trước bằng 100,47% (102,36%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,34% (107,44%).

- Vận chuyển bằng đường sông được 1.277.605 lượt hành khách (11.078.080 HK.km), so với tháng trước bằng 101,99% (101,91%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,23% (107,43%).

 Ước thực hiện quý I năm 2017, vận chuyển được 28.010.601 lượt hành khách (162.800.497 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 102,45% (105,79%). Chia ra:

- Vận chuyển bằng đường bộ được 24.188.054 lượt hành khách (129.692.507 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 101,80% (105,63%).

- Vận chuyển bằng đường sông được 3.822.547 lượt hành khách (33.107.990 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 106,74% ( 106,44%).

  1. Các vấn đề xã hội

6.1. Giải quyết việc làm:

Năm 2017, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách giải quyết việc làm cho người lao động, ngành Lao động thương binh và xã hội phối hợp với các ngành có liên quan, thông qua các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tư vấn giới thiệu việc làm, tạo việc làm trong và ngoài tỉnh. Từ đầu năm đến nay, tỉnh đã giải quyết và tạo việc làm mới cho 1.259 lao động trên địa bàn tỉnh. Trong đó, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 03 lao động. Trong quí I, tỉnh còn tiếp nhận và ký kết thỏa thuận hợp đồng cung ứng lao động với 29 lượt doanh nghiệp, số lượng lao động được đề nghị cung ứng là 3.338 lao động.

6.2. An sinh xã hội:

Công tác giảm nghèo:

- Ngành Lao động thương binh và xã hội đã tổ chức họp mặt, tặng quà, ăn tết với gia đình chính sách, hộ nghèo. Trong quý I, tỉnh đã bàn giao và đưa vào sử dụng 03 căn nhà tình thương cho hộ nghèo; tặng 1.950 phần quà cho gia đình chính sách, hộ nghèo với tổng kinh phí tổ chức họp mặt và tặng quà trên 1 tỷ đồng. Chăm lo Tết cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn: Tỉnh Ủy, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân phối hợp với các đơn vị sở ngành và các huyện tổ chức các chương trình “Xuân yêu thương”, “Nụ cười xuân”, qua đó đã trao tặng 3.972 phần quà với số tiền trên 2,7 tỷ đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

- Bằng nhiều biện pháp hỗ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất như hỗ trợ vốn và các chương trình của dự án xóa đói giảm nghèo và sự nỗ lực vươn lên từ các hộ nghèo, đến nay số hộ nghèo đã giảm đáng kể. Theo báo cáo sở Lao động thương binh và xã hội về tổng hợp sơ bộ kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2016 theo chuẩn tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, toàn tỉnh có 24.695 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 12,55%. Hộ cận nghèo là 10.396 hộ chiếm tỷ lệ 5,28%. Kết quả này, là cơ sở để nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách hỗ trợ giảm nghèo bền vững. Đồng thời, xúc tiến xây dựng kế hoạch về các dự án, chính sách giảm nghèo giai đoạn 2016-2020.

Bảo trợ xã hội:  

- Tết Nguyên đán Đinh Dậu năm 2017, các ngành, các cấp trong tỉnh đã vận động các đơn vị, các mạnh thường quân, nhà hảo tâm, các ngân hàng, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thực hiện trao tặng 253.157 phần quà cho người có công với cách mạng, hộ nghèo và các đối tượng bảo trợ xã hội khác với tổng kinh phí trên 93 tỷ đồng. Trợ cấp thường xuyên cho 52.605 đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền trên 19 tỷ đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 220 trường hợp với tổng số tiền trên 845,4 triệu đồng; trợ cấp đột xuất cho 35 trường hợp với tổng số tiền 314,4 triệu đồng.

Thực hiện chính sách đối với người có công:

- Tết Nguyên đán 2017, Tỉnh Ủy, UBND tỉnh đã tổ chức 08 đoàn đi thăm, chúc tết và tặng 1.080 phần quà cho các gia đình chính sách, người có công với các mạng trên địa bàn tỉnh với số tiền 324 triệu đồng. Bên cạnh đó, ngành Lao động thương binh và xã hội đã phối hợp với các ngành, đoàn thể thành lập đoàn đến thăm và tặng 437 phần quà cho các thương, bệnh binh, người có công với cách mạng đang nằm điều trị tại các bệnh viện trong tỉnh với số tiền 218,5 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, ngành Lao động  thương binh và xã hội đã tiếp nhận mới 327 hồ sơ các loại, xem xét, giải quyết thực hiện chế độ chính sách được 291 hồ sơ.

6.3. Tình hình thực hiện an toàn giao thông:

Theo số liệu của Ban an toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 3 năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông, tập trung ở đường bộ. So với tháng trước tăng 02 vụ và tăng 04 vụ so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tổng số 08 người chết, so với tháng trước tăng 03 người và tăng 04 người so với cùng kỳ năm trước và 02 người bị thương, so với tháng trước và cùng kỳ năm trước tăng 01 người.

Trong 3 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông (tập trung ở đường bộ), làm chết 17 người và bị thương 05 người. So với cùng kỳ năm trước, giảm 06 vụ (đường bộ giảm 05 vụ, đường sông giảm 01 vụ), số người chết giảm 03 người (đường bộ giảm 02 người và đường sông giảm 01 người), số người bị thương giảm 01 người (chỉ tập trung ở đường bộ)./.