Tháng 6
09:21 13/08/2018

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2017

  1. Tăng trưởng kinh tế

Ước tính tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2017 theo giá so sánh 2010 đạt 4,34% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, khu vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,48%; Khu vực sản xuất công nghiệp và hoạt động xây dựng tăng 6,58%; Khu vực dịch vụ tăng 5,01%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,5%.

  1. Tài chính - Tín dụng

2.1 Tài chính:

Ước Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 6 năm 2017, được 476.994 triệu đồng, lũy kế được 4.474.241 triệu đồng, đạt 85,14% dự toán trung ương giao, đạt 84,35% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 259.091 triệu đồng, lũy kế được 1.390.200  triệu đồng, đạt 50,19% chỉ tiêu Hội đồng nhân dân tỉnh.

Tổng chi ngân sách địa phương tháng 6 năm 2017, được 470.782 triệu đồng, luỹ kế được 2.754.828 triệu đồng, đạt 56,93% dự toán Trung ương giao, đạt 56,36% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi thường xuyên được 316.211 triệu đồng, luỹ kế được 1.724.167 triệu đồng, đạt 52,63% dự toán Trung ương giao, đạt 51,85% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

2.2 Tín dụng:

Đến ngày 31/5/2017, huy động vốn trên địa bàn được 9.147 tỷ đồng, tăng 7,98% so với cuối năm 2016. Vốn huy động đáp ứng được 49,03% cho hoạt động tín dụng. Ước đến ngày 30/6/2017, huy động vốn toàn địa bàn được 9.266 tỷ đồng, tăng 9,38% so với cuối năm 2016.

Tổng dư nợ cho vay (bao gồm ngoại tệ quy đổi VND) đến ngày 31/5/2017, được 18.655 tỷ đồng, tăng 4,63% so với cuối năm 2016. Ước đến ngày 30/6/2017, dư nợ toàn địa bàn được 18.802 tỷ đồng, tăng 5,46% so với cuối năm 2016. Nợ xấu toàn địa bàn là 274 tỷ đồng, chiếm 1,47% trên tổng dư nợ, ước đến ngày 30/6/2017, nợ xấu còn ở mức 284 tỷ đồng, chiếm  1,51% trên tổng dư nợ.     

  1. Vốn đầu tư và xây dựng

3.1. Vốn đầu tư:

Tính đến ngày 16 tháng 6 năm 2017, Kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2017 là 16.228.955 triệu đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.358.955 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.050.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 13.820.000 triệu đồng.

Đến đầu tháng 6 năm 2017, các Khu công nghiệp và Cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đã thu hút được 47 dự án đầu tư, gồm 46 nhà đầu tư sản xuất kinh doanh và 01 nhà đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng, với tổng số vốn đăng ký đầu tư là 67.096.370 triệu đồng và 763,7 triệu USD, với quy mô diện tích đăng ký khoảng 902,720 ha, đã giao mặt bằng được 590,190 ha.            

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 6 năm 2017 là 1.588.825 triệu đồng, bằng 121,50% so với cùng kỳ năm trước và bằng 101,06% so với tháng trước. Nguyên nhân ước tháng 6/2017 thực hiện vốn đầu tư tăng là do: Triển khai nhanh vốn chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng xã nông thôn mới; nguồn vốn XDCB đã phân bổ ngay từ đầu năm, nên các chủ đầu tư không gặp khó khăn về nguồn vốn, công trình được triển khai thi công liên tục; quý cao điểm thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2017.

Ước tính 6 tháng đầu năm 2017, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 8.771.290 triệu đồng, bằng 110,65% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 54,05% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 760.340 triệu đồng, bằng 72,40% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 55,95% so với kế hoạch năm.         

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 594.760 triệu đồng, bằng 116,76% so với cùng kỳ năm trước và đạt 56,64% so với kế hoạch năm.            

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 7.416.190 triệu đồng, bằng 117,84% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 53,66% so với kế hoạch năm.

Để thực hiện hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư XDCB năm 2017 của tỉnh Hậu Giang, Cục Thống kê khuyến nghị một số giải pháp như sau:

Một là: các sở, ngành cần kiểm tra, đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình XDCB, mà đặc biệt là các công trình trọng điểm trên địa bàn; đồng thời gắn với việc giám sát, kiểm tra chất lượng công trình, nhanh chóng hoàn thành các công trình XDCB đang tồn đọng nhất là các công trình dự án trọng điểm đã bố trí vốn (giao thông, nông nghiệp, y tế, giáo dục, v.v…)

              Hai là: Điều chỉnh kế hoạch vốn đối với những công trình dự án triển khai chậm sang các công trình đang thiếu.

Ba là: Đẩy nhanh tiến độ lập thủ tục XDCB đối với các công trình dự án đã được bố trí vốn, nhanh chóng làm thủ tục quyết toán các công trình đã hoàn thành.                      

Bốn là: Lựa chọn những đơn vị tư vấn thiết kế có đủ năng lực thực hiện các hợp đồng đầu tư xây dựng cơ bản nhằm tránh được thời gian thực hiện dự án kéo dài gây thất thoát, lãng phí làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả vốn đầu tư.

              Năm là: Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành cấp tỉnh và các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề vướng mắc trong đầu tư XDCB.

3.2. Xây dựng:

Ước tính 6 tháng đầu năm 2017, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực  hiện được 2.784.657 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (2.612.928 triệu đồng) bằng 106,57%. Trong đó loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 826.380 triệu đồng, bằng 113,91% so với cùng kỳ năm trước; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 1.958.277 triệu đồng, bằng 103,75% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện 6 tháng đầu năm 2017 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 1.799.647 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (1.706.925 triệu đồng) bằng 105,43%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 169.780 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (164.772 triệu đồng) bằng 103,04%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 805.830 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (735.441 triệu đồng) bằng 109,57%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 9.400 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (5.790 triệu đồng) bằng 162,35%.

Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng thực hiện 6 tháng đầu năm 2017 tăng so với cùng kỳ năm trước là do hiện nay giá cả nhóm hàng vật liệu xây dựng, chi phí máy thi công và chi phí nhân công tăng cao; một số công trình cơ bản đã hoàn thành đưa vào sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư và nhà thầu góp phần làm tăng giá trị sản xuất; tiếp tục thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ, thắt chặt tiết kiệm chi tiêu, kiềm chế lạm phát, chống lãng phí.

Đến nay, tình hình xây dựng trên địa bàn Tỉnh chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở dân dụng và đường giao thông. Riêng các công trình trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước có qui mô lớn thì hầu hết đều do các Doanh nghiệp ngoài tỉnh thi công. Do vậy, đề nghị Lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, để các Doanh nghiệp xây dựng trong tỉnh được thi công nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành xây dựng của Tỉnh tăng cao.

  1. 4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

4.1. Nông nghiệp:

Về Trồng trọt

- Vụ đông xuân năm 2017, toàn tỉnh xuống giống được 77.863 ha so với kế hoạch tỉnh đạt 101,12%, so với cùng kỳ năm trước giảm 2,02% (bằng 1.602 ha). Các giống lúa sử dụng phổ biến OM5451, IR50404, RVT, OM4900, OM4218... Hiện nay, lúa đông xuân trên địa bàn tỉnh đã thu hoạch được đứt điểm. Năng suất bình quân được 68,26 tạ/ha, giảm 2,46% (bằng 1,72 tạ/ha) so với vụ đông xuân năm 2016. Sản lượng được 531.521 tấn, giảm 4,42% (bằng 24.575 tấn) so với sản lượng lúa đông xuân 2016. Do thời tiết  không thuận lợi nên đa số các huyện thu hoạch lúa đạt năng suất thấp so với cung kỳ.

- Vụ  lúa Hè thu: Diện tích xuống giống lúa hè thu đến nay được 76.992 ha, đạt 101,33%  so với kế hoạch và đạt 99,94% so với cùng kỳ năm trước. Lúa đang ở giai đoạn đòng và cho thu hoạch.

Đến thời điểm này, lúa hè thu toàn tỉnh thu hoạch được 22.548 ha. Năng suất ước được 60,02 tạ/ha.

-  Cây hàng năm:

 Cây ngô: Vụ Đông xuân diện tích gieo trồng toàn tỉnh được 1.524 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 2,70% (bằng 40 ha).

Cây lấy củ có chất bột: Toàn tỉnh gieo trồng được 429 ha, giảm 6,13% (bằng 28 ha) so với cùng kỳ năm trước.

 Diện tích gieo trồng cây rau, đậu các loại được 6.933 ha, so với năm trước giảm 8,11% (bằng 612 ha).

Diện tích, năng suất, sản lượng cây hàng năm giảm so với năm trước là do: Năm nay, thời tiết nắng nóng kéo dài mưa bất thường làm ảnh hưởng đến năng suất cây hàng năm. Bên cạnh đó giá đầu ra cây rau màu không ổn định nên ảnh hưởng đến diện tích gieo trồng từng loại cây.

Mía: Niên vụ 2017, toàn tỉnh xuống giống được 10.921 ha, tăng 0,49% (bằng 53ha) so với cùng kỳ năm trước, tập trung ở huyện Phụng Hiệp, TP. Vị Thanh, TX. Ngã Bảy và huyện Long Mỹ.

Về Chăn nuôi

Ước tính thực hiện trong tháng 6, số đầu con gia súc, gia cầm:

- Đàn heo: Có 148.017 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 11,51% (bằng 15.279 con). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm được 8.709 tấn, tăng 8,13% ( bằng 655 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

- Đàn gia cầm: Có 3.754 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,51% (bằng 19 ngàn con). Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm được  3.690 tấn, tăng 1,53% ( bằng 56 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình dịch bệnh: Trong 6 tháng đầu năm 2017, dịch cúm gia cầm không tái xuất hiện trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên Ngành thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh.

4.2. Lâm nghiệp:

Từ đầu năm đến nay, công tác phòng cháy chữa cháy rừng được đảm bảo, chưa xảy ra vụ cháy rừng trên địa bàn tỉnh.

Trong 6 tháng đầu năm 2017, ước tính sản lượng gỗ khai thác được 5.304 m3, so với cùng kỳ năm trước giảm 3,02%. Sản lượng củi thu nhặt ước tính được 51.317 ste, so với cùng kỳ năm trước giảm 5,95 %. Công tác thẩm định, giám sát, kiểm tra, nghiệm thu khai thác rừng, cây phân tán đảm bảo đúng quy định

4.3. Thủy sản:

- Về diện tích: Trong 6 tháng đầu năm 2017, toàn tỉnh có 2.091 ha diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, giảm 0,27% (bằng 6 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá nuôi được 1.959 ha, giảm 0,33% so với cùng kỳ năm trước, tôm nuôi được 87 ha, tăng 0,25% so với cùng kỳ năm trước.

Diện tích nuôi trồng thuỷ sản giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu là do loại cá khác nuôi ở ruộng (các loại cá trắng) giảm, vì lượng mưa năm nay ít, nước tự nhiên vào ruộng thiếu nên diện tích nuôi giảm.

   - Về sản lượng: Tổng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2017, toàn tỉnh ước được 30.311 tấn, tăng 1,24% (348 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

+ Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng được 28.653 tấn, tăng 1,38% (bằng 391 tấn). Sản lượng cá nuôi được 28.091 tấn, tăng 1,35% (bằng 374 tấn)

 + Sản lượng thuỷ sản khai thác được 1.658 tấn, giảm 1,12% (bằng 19 tấn).

Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2017, tình hình sản xuất nông nghiệp có khó khăn hơn so với năm trước, do thời tiết nắng nóng kéo dài mưa bất thường nên ảnh hưởng đến diện tích gieo trồng các loại cây vụ đông xuân. Ngành thú y thực hiện tốt công tác tiêm phòng, quản lý, giám sát dịch bệnh, dịch cúm gia cầm không để xảy ra trên địa bàn tỉnh.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tháng 6/2017 tăng 18,11% so với cùng tháng năm trước, cụ thể:

Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,44%. Trong đó, ngành sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 23,64% so cùng tháng năm trước.

Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 13,43% so cùng tháng năm trước. Trong đó, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,97%.

Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,84% so cùng tháng năm trước.

 So với 6 tháng đầu năm 2016, chỉ số IIP 6 tháng đầu năm 2017 tăng 8,34% cụ thể:

Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,3% so cùng kỳ năm trước.

Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 11,73% so cùng kỳ năm trước.

Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,91% so cùng kỳ năm trước.

Trong những tháng đầu năm 2017, tình hình sản xuất công nghiệp ngày càng có nhiều tín hiệu khả quan, nhiều nhóm ngành vừa đảm bảo nhu cầu sử dụng trong nước, vừa góp phần quan trọng cho tăng trưởng xuất khẩu, Ngành công nghiệp chế biến được coi là điểm sáng và là động lực tăng trưởng cho sản xuất công nghiệp trong suốt thời gian vừa qua.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 6 năm 2017:

- Tính theo giá so sánh 2010 được 1.691.009 triệu đồng, tăng 3,64% so với tháng trước và tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước.

- Tính theo giá thực tế được 2.175.008 triệu đồng, tăng 2,35% so với tháng trước và tăng 14,98% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ là do các doanh nghiệp trong ngành sản xuất đường hoạt động niên vụ 2016 – 2017 kéo dài hơn so với cùng kỳ năm trước, nên đã góp phần làm tăng giá trị sản xuất so với cùng kỳ.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 6 tháng năm 2017:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 9.781.456 triệu đồng, tăng 8,49% so với cùng kỳ năm trước và đạt 43,69% so với kế hoạch năm.

- Tính theo giá thực tế, được 12.436.305 triệu đồng, tăng 9,58% so với cùng kỳ năm trước và đạt 44,25% so với kế hoạch năm.

Nguyên nhân ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2017 tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước là do chính sách ưu đãi thuế, chính sách giải quyết các thủ tục hành chính nhanh gọn của các cơ quan, ban ngành có thẩm quyền đã khuyến khích các doanh nghiệp đang đầu tư sớm đi vào hoạt động như; Công ty TNHH giấy Lee & Man, Công ty TNHH Tập đoàn quốc tế Runlong-Hậu Giang, Công ty TNHH MTV dinh dưỡng nông nghiệp quốc tế Hậu Giang… đã tiến hành sản xuất thử để kiểm tra chất lượng sản phẩm và đánh giá lại tác động đối với môi trường của doanh nghiệp. Dự kiến sẽ đi vào hoạt động chính thức trong thời gian tới. Ngoài ra, tăng một phần là do các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành như; sản xuất giày dép; sản xuất hóa chất; sản xuất thuốc, hóa dược liệu… đầu tư mở rộng nhà máy, đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh nên làm tăng giá trị sản xuất của các ngành này nói riêng và giá trị của toàn tỉnh nói chung.

Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2017, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối đồng đều và ổn định. Tuy nhiên, để hoàn thành kế hoạch năm 2017, các doanh nghiệp cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững, đáp ứng các yêu cầu thực tế đặt ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới

  1. 6. Thương mại, dịch vụ và giá cả

6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ:

Ước thực hiện tháng 6 năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 2.604.515 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 97,01% và so với cùng kỳ năm trước bằng 106,64%.

Thị trường hàng hóa tháng 6 tiếp tục trầm lắng, các nhóm ngành hàng trong tháng có xu hướng giảm như: Lương thực, hàng may mặc và một số hàng hóa khác, giảm nhiều nhất là nhóm hàng thực phẩm, do giá các mặt hàng rau xanh, thịt heo tiếp tục giữ ở mức giá thấp. Tuy thời điểm này đang bước vào thu hoạch rộ nhiều loại cây ăn trái như: Sầu riêng, chôm chôm, măng cụt,..., nguồn cung dồi dào, tuy nhiên sản lượng thu hoạch, giá cả biến động không đáng kể. Vì vậy, tổng mức bán lẻ so với tháng trước không tăng.

Ngoài ra, các nhóm ngành dịch vụ khác trong tháng hoạt động ổn định, riêng nhóm ngành giáo dục, đào tạo và nhóm ngành dịch vụ vui chơi, giải trí giảm (giảm 3,49%) nên kéo theo ngành dịch vụ khác trên địa bàn tỉnh giảm so với tháng trước. Ngành lưu trú, ăn uống trong tháng cũng có cùng xu hướng, vì nhu cầu của người dân trong thời điểm này không tăng. Vì vậy, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước giảm hơn so với tháng trước.

Ước thực hiện 6 tháng năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 16.350.039 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 104,79% và so với kế hoạch năm đạt 50,86%. Chia ra:

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa ước thực hiện được 11.911.379 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 105,01% và so kế hoạch năm đạt 51,11%.

- Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) ước thực hiện được 1.552.417 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 105,39% và so kế hoạch năm đạt 49,24%.

- Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước thực hiện được 2.886.243 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 103,60% và so với kế hoạch năm đạt 50,71%.

Với số liệu trên cho thấy trong 6 tháng đầu năm 2017, tình hình thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có nhiều khả quan, tuy tốc độ tăng không cao nhưng có đà phát triển ổn định và bền vững, không có nhiều biến động. Tuy nhiên, cần chú trọng đầu tư cơ sở, hạ tầng để phát triển nhóm dịch vụ vui chơi, giải trí của tỉnh nhà, nhất là ở Thành phố Vị Thanh, trên cơ sở đó đề ra chiến lượt và định hướng phát triển thương mại - dịch vụ nói riêng và kinh tế tỉnh nhà nói chung

6.2. Tình hình xuất nhập khẩu:

Ước thực hiện tháng 6 năm 2017, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 68,662 triệu USD, so với tháng trước bằng 108,54% và so với cùng kỳ năm trước bằng 133,64%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 41,348 triệu USD so với tháng trước bằng 93,56% và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,36%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 27,314 triệu USD so với tháng trước bằng 143,29% và so với cùng kỳ năm trước bằng 225,12%.

Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu hàng hóa trực tiếp giảm là do thị trường nhập khẩu Austraylia mới ban hành một số quy định mới về điều kiện tiêu chuẩn, kỹ thuật đối với sản phẩm Tôm chế biến các loại của Việt Nam vào thị trường nước này, điều này đã gây nhiều khó khăn cho Doanh nghiệp trong việc chế biến tạo ra sản phẩm đạt chuẩn. Vì vậy, giá trị xuất khẩu trong tháng tới có thể sẽ giảm.

Về giá trị nhập khẩu, để có thể đáp ứng đầy đủ những quy định mới đối với các sản phẩm Tôm chế biến các loại của Việt Nam thì đòi hỏi các Doanh nghiệp phải từng bước đổi mới phương thức sản xuất kinh doanh, đầu tư cải tiến công nghệ và máy móc, thiết bị phục vụ tốt cho nhu cầu chế biến sản phẩm đạt yêu cầu kỹ thuật. Vì vậy, giá trị nhập khẩu trong tháng tới dự báo sẽ tăng.

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2017, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 418,751 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 119,42% và so với kế hoạch năm đạt 59,99%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 252,944 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 125,60% và so với kế hoạch năm đạt 50,79%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 133,387 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 112,57% và vượt 11,16% so với kế hoạch năm. Nguyên nhân là do trên địa bàn huyện Châu Thành có nhà máy giấy với công suất lớn vừa mới đi vào hoạt động. Doanh nghiệp này gia tăng nhập khẩu nguyên liệu và một số máy móc thiết bị phục vụ sản xuất. Vì vậy, giá trị nhập khẩu tăng và vượt kế hoạch năm.

+ Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 3,988 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 109,89% và so với kế hoạch năm đạt 26,59%.

+ Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 28,432 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 104,76% và so với kế hoạch năm đạt 43,74%.

Hiện nay, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm trong sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam vẫn đang còn là mối lo ngại. Nhiều lô hàng xuất đi sang thị trường các nước do vướng phải dư lượng chất kháng sinh đã không thể thông cảng. Do đó, để có thể xuất khẩu bền vững và xây dựng được thương hiệu đẹp trong mắt người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu, các Doanh nghiệp cần quản lý chặt hơn trong dây chuyền sản xuất đồng thời tìm nguồn nguyên liệu sạch không nhiễm bệnh cho chế biến. Muốn vậy, Doanh nghiệp cần liên kết chặt chẽ với người nuôi và cả các ngành chức năng, một mặt có được nguồn nguyên liệu đảm bảo ổn định, mặt khác có thể nắm bắt kịp thời thông tin diễn biến của thị trường, những quy định mới về tiêu chuẩn kỹ thuật, các rào cản thương mại mà các nước nhập khẩu dựng lên ngày càng nhiều, từ đó sẽ chủ động hơn trong việc xây dựng kế hoạch ứng phó, tạo điều kiện thuận lợi để hàng hóa xuất đi được dễ dàng hơn, góp phần làm tăng giá trị xuất khẩu chung

6.3. Tình hình giao thông vận tải:

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2017, doanh thu vận tải hàng hóa và hành khách được 505.903 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 106,67% (trong đó doanh thu vận tải hàng hóa được 267.675 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 108,55%). Các đơn vị kinh doanh vận tải duy trì tốt chất lượng phục vụ, đầu tư nâng cấp phương tiện vận chuyển đảm bảo phục vụ nhu cầu giao thương hàng hóa đi lại được thông suốt và an toàn cho người dân. Cụ thể:

Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa:

Ước thực hiện tháng 6 năm 2017, toàn tỉnh vận chuyển được 795.821 tấn hàng hóa các lọai (19.897.062 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,44% (100,39%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 106,26% (106,34%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 159.963 tấn (1.818.507 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 103,74% (101,11%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,56% (112,61%).

 - Đường sông thực hiện được 635.858 tấn (18.078.555 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 100,88% (100,32%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,70% (105,75%).

Ước thực hiện 6 tháng năm 2017, toàn tỉnh vận chuyển được 4.777.798 tấn (122.164.170 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 105,16% (107,40%). Chia ra:

- Đường bộ ước thực hiện được 956.479 tấn (11.445.518 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 104,92% (115,21%).

- Đường sông ước thực hiện được 3.821.319 tấn (110.718.652 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 105,22% (106,65%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách:

Ước thực hiện tháng 6 năm 2017 toàn tỉnh thực hiện được 9.104.501 lượt hành khách (53.073.524 HK.km), so với tháng trước bằng 100,34% (100,55%). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 7.830.502 lượt hành khách (42.065.628 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,41% (100,70%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,39% (106,12%).

 - Đường sông, vận chuyển được 1.273.999 lượt hành khách (11.007.896 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 99,89% (99,95%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,03% (109,46%).

Ước thực hiện 6 tháng năm 2017, toàn tỉnh vận chuyển được 55.539.157 hành khách (321.104.795 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 103,35% (105,70%). Chia ra:

- Đường bộ ước thực hiện được 47.878.731 hành khách (254.857.524 HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 102,65% (105,24%).

- Đường sông ước thực hiện được 7.660.426 hành khách (66.247.271 HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 107,94% (107,50%).

  1. Các vấn đề xã hội

7.1. Giải quyết việc làm:

Năm 2017, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trưởng, chính sách giải quyết việc làm cho người lao động, ngành Lao động - thương binh và xã hội phối hợp với các ngành có liên quan, thông qua các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tư vấn giới thiệu việc làm, tạo việc làm trong và ngoài tỉnh. Từ đầu năm đến nay, Hậu Giang đã giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 7.725 lao động trên địa bàn tỉnh. Trong đó, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 34 lao động.

Trong 6 tháng đầu năm, Hậu Giang còn tiếp nhận và ký kết thỏa thuận hợp đồng cung ứng lao động với 108 lượt doanh nghiệp, số lượng lao động được đề nghị cung ứng là 7.770 lao động. Đó dà dấu hiệu đáng mừng cho người lao động chưa có việc làm.

7.2. An sinh xã hội:

Công tác giảm nghèo

Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã tổng hợp sơ bộ kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2016 theo chuẩn tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, toàn tỉnh có 24.695 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 12,55%. Hộ cận nghèo là 10.396 hộ, chiếm tỷ lệ 5,28%. Kết quả này là cơ sở để nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách hỗ trợ giảm nghèo bền vững. Đồng thời, xúc tiến xây dựng kế hoạch về các dự án, chính sách giảm nghèo giai đoạn 2016-2020.

Lĩnh vực xã hội

Các dịp lễ, dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu năm 2017, ngành Lao động – Thương binh và Xã hội cùng các ngành, các cấp trong tỉnh đã vận động các đơn vị, các mạnh thường quân, nhà hảo tâm, các ngân hàng, doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã thực hiện trao tặng 253.157 phần quà cho người có công với cách mạng, hộ nghèo và các đối tượng xã hội khác với tổng kinh phí trên 93 tỷ đồng (so với Tết Nguyên đán năm 2016, tăng 33 tỷ đồng). Mức quà cơ bản tăng từ 300.000 đồng/phần (năm 2016 lên 500.000đồng/phần năm 2017); bình quân mỗi đối tượng thụ hưởng được tặng quà trị giá khoảng 1.100.000đồng, tăng gấp 3,5 lần so với mức quà cơ bản năm 2016.

Trợ cấp thường xuyên cho 129.178 đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền gần 49 tỷ đồng, hỗ trợ mai tang phí cho 599 trường hợp với số tiền gần 3 tỷ, trợ cấp đột xuất cho 93 trường hợp với số tiền 771 triệu đồng.

Trong tháng 6, sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã thực hiện 3.660 m2 panô, 145 băng rol, treo và tháo gỡ 4.000 cờ các loại, trang trí 03 sân khấu, 69 lượt phóng thanh cổ động, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành.

Hệ thống các di tích toàn tỉnh phục vụ 18.460 lượt khách (trong đó có 24 đoàn khách) tham quan tại các khu di tích: Chiến thắng Chương Thiện (Tp Vị Thanh); Căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ; Đền thờ Bác Hồ; Khu trù mật Vị Thanh - Hỏa Lựu...

Thực hiện chính sách đối với người có công

Trong những tháng đầu năm Tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tổ chức 08 đoàn đi thăm, chúc tết và tặng 1.080 phần quà cho các gia đình chính sách, người có công với các mạng trên địa bàn tỉnh với số tiền 324 triệu đồng. Bên cạnh đó, ngành lao động thương binh và xã hội đã phối hợp với các ngành đoàn thể thành lập đoàn đến thăm và tặng 437 phần quà cho các thương, bệnh binh, người có công với cách mạng đang nằm điều trị tại các bệnh viện trong tỉnh với số tiền 218,5 triệu đồng; từ đầu năm đến nay đã tiếp nhận mới 1.416 hồ sơ các loại, xem xét, giải quyết thực hiện chế độ chính sách được 1.227 hồ sơ; Điều chỉnh tỷ lệ thương tật và truy lĩnh tiền chênh lệch trợ cấp hàng tháng đối với 51 trường hợp thương binh, người hưởng chính ách như thương binh; giới thiệu ra Hội đồng thẩm định y khoa khám giám định tỷ lệ nhiễm chất độc hóa học đối với 8 trường hợp.

7.3. Tình hình thực hiện an toàn giao thôngvà an toàn cháy nổi:

Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban an toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 6 năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông, tập trung ở đường bộ. So với tháng trước giảm 07 vụ và tăng 03 vụ so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có tổng số 05 người chết, so với tháng trước giảm 04 người và tăng 02 người so với cùng kỳ năm trước. Tổng số có 06 người bị thương, bằng với số người của tháng trước và so với cùng kỳ năm trước tăng 04 người.

Trong 6 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 51 vụ tai nạn giao thông (tập trung ở đường bộ), làm chết 37 người và bị thương 22 người. So với cùng kỳ năm trước, tăng 14 vụ (đường bộ tăng 16 vụ, đường sông giảm 02 vụ), số người chết tăng 06 người (đường bộ tăng 08 người, đường sông giảm 02 người), số người bị thương tăng 11 người (chỉ tập trung ở đường bộ).

Tình hình thực hiện an toàn cháy nổ

Trong 6 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ cháy. Làm 02 người chết và 03 người bị thương, thiệt hại tài sản khoản 1,1 tỷ đồng. Nguyên nhân do thời tiết nắng nóng kèo dài dẫn đến khô hạn dễ sảy ra cháy nổ đặt biệt là ở những khu dân cư và ở chợ vì vậy cần tăng cường phòng chống cháy nổ.

  1. Đề xuất một số giải pháp

Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế: Triển khai thực hiện Chương trình số: 05/CTr-UBND ngày 30 tháng 5 năm 2017 về thực hiện Nghị quyết số 27/NQ-CP của Chính phủ và Kế hoạch số 35-KH/TU của Tỉnh ủy về tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 – 2020.

Rà soát bổ sung những giải pháp thực hiện các chương trình, đề án lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, đầu tư công, kế hoạch khởi nghiệp, hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác. Tập trung tái cơ cấu nông nghiệp, nâng cao hoạt động kinh tế tư nhân, hộ cá thể, kinh tế tập thể và các Công ty cổ phần có vốn nhà nước, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Thực hiện hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các thành phần kinh tế phát triển nhanh và ổn định, chú trọng tổ chức xúc tiến thương mại để nhiều sản phẩm chủ lực có thêm thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước; tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư triển khai đầu tư các dự án. Tăng cường đối thoại tiếp xúc doanh nghiệp, xem doanh nghiệp là đối tượng phục vụ.

Tập trung quyết liệt trong huy động nguồn lực đầu tư, vận dụng linh hoạt các cơ chế, chính sách để huy động tối đa các nguồn vốn thuộc mọi thành phần kinh tế, đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sớm đưa các dự án vào hoạt động, nhất là các dự án ở khu công nghiệp và các dự án, công trình trọng điểm.

 Nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, phát triển mạnh thủy sản, chăn nuôi, cây ăn trái gắn với xây dựng nông thôn mới

Tiếp tục tái cơ cấu ngành trồng trọt theo hướng tập trung gắn với bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo chuỗi giá trị đối với lúa gạo, trái cây và thủy sản; đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, ứng dụng cơ giới hóa trong sản xuất nhằm tiết giảm chi phí; rà soát điều chỉnh cơ cấu cây trồng phù hợp để nâng cao thu nhập của nông dân.

Tập trung triển khai các chương trình Đề án nông nghiệp, các mô hình sản xuất hiệu quả để tiếp tục nhân rộng. Triển khai Đề án phát triển giống cây trồng, vật nuôi và giống thủy sản chất lượng cao tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 - 2020, Đề án phát triển trạm bơm điện tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2016 - 2020; Tăng cường công tác thanh, kiểm tra chất lượng vật tư nông nghiệp, chất lượng giống nhất là giống cây có múi và vật nuôi, thực hiện nghiêm các quy định về chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm.

Phát triển công nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư kết cấu hạ tầng,  cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

Triển khai thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách về khuyến công, phát triển làng nghề truyền thống; tăng cường xúc tiến thu hút đầu tư nhằm nâng cao tỷ lệ lấp đầy các khu công nghiệp và cụm công nghiệp, đối với các dự án đang triển khai thì có giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để các dự án sớm đi vào hoạt động, đặc biệt là các dự án đưa vào hoạt động năm 2017. Đẩy nhanh tiến độ thi công và vận hành tốt các dự án xử lý nước thải ở các khu công nghiệp.

Chủ động theo dõi diễn biến giá cả thị trường và công tác bình ổn thị. Tăng cường công tác quản lý thị trường, kịp thời phát hiện những trường hợp đầu cơ, gây mất cân bằng cung cầu, xử lý nghiêm những trường hợp kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng; quản lý giá bán theo giá niêm yết, xử lý các vi phạm về giá.

Tăng cường quản lý thu, chống thất thu và xử lý nợ đọng thuế. Tập trung tháo gỡ khó khăn, tạo môi trường thuận lợi phát triển sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo tiền đề phát triển nguồn thu ổn định, vững chắc cho ngân sách.

Đảm bảo hoạt động tiền tệ, ngân hàng trên địa bàn ổn định, hiệu quả và phát triển bền vững, trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế kinh tế - xã hội ở địa phương. Khai thác có hiệu quả các nguồn vốn huy động trong Nhân dân./.