Tháng 9
09:21 13/08/2018

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

 tháng 9 và 9 tháng năm 2017

  1. Tài chính - Tín dụng

1.1. Tài chính:

Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 9 năm 2017 được 437.503 triệu đồng, lũy kế được 5.692.405 triệu đồng, đạt 108,32% dự toán Trung ương giao, đạt 107,32% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 230.400 triệu đồng, lũy kế được 1.984.299  triệu đồng, đạt 71,64% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi ngân sách nhà nước tháng 9 năm 2017 được 400.767 triệu đồng, luỹ kế được 3.781.585 triệu đồng, đạt 78,15% dự toán Trung ương giao, đạt 77,36% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi thường xuyên được 271.810 triệu đồng, luỹ kế được 2.473.474 triệu đồng, đạt 75,50% dự toán Trung ương giao, đạt 74,39% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng:

Đến ngày 31/8/2017, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 9.709 tỷ đồng, tăng 14,61% so với cuối năm 2016. Vốn huy động đáp ứng được 50,24% cho hoạt động tín dụng. Chia ra:

- Huy động vốn đối với kỳ hạn 12 tháng trở xuống được 5.393 tỷ đồng.

- Kỳ hạn từ 12 tháng trở lên được 4.316 tỷ đồng .

Đến ngày 31/8/2017, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn được 19.326 tỷ đồng, tăng 8,39% so với cuối năm 2016. Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn được 10.442 tỷ đồng; dư nợ cho vay trung và dài hạn được 8.884 tỷ đồng.

Nợ quá hạn toàn tỉnh đến ngày 31/8/2017 được 884 tỷ đồng, chiếm 4,57% trên tổng dư nợ. Trong đó, nợ cần chú ý được 473 tỷ đồng, chiếm 53,51% trên tổng nợ quá hạn; nợ xấu được 411 tỷ đồng, chiếm 2,13% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 30/9/2017, nợ xấu sẽ giảm còn ở mức 260 tỷ đồng chiếm 1,33% trên tổng dư nợ.

  1. Vốn đầu tư và xây dựng

2.1. Vốn đầu tư:

Tính đến ngày 15 tháng 9 năm 2017, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2017 là 16.291.637 triệu đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.421.637 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.050.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 13.820.000 triệu đồng.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 9 năm 2017 là 1.311.340 triệu đồng, bằng 103,98% so với cùng kỳ năm trước và bằng 95,16% so với tháng trước. Nguyên nhân ước tháng 9 năm 2017 thực hiện vốn đầu tư giảm là do: Vào mùa mưa nên ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các công trình trọng điểm; công tác giải phóng mặt bằng triển khai chậm; các dự án của nhà đầu tư thực hiện còn chưa đúng kế hoạch đã đăng ký ở các khu, cụm Công nghiệp; kết thúc thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2017.

       Ước tính 9 tháng năm 2017, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 12.885.440 triệu đồng, bằng 109,76% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 79,09% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.155.380 triệu đồng, bằng 75,15% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 81,27% so với kế hoạch năm.         

  - Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 887.065 triệu đồng, bằng 106,29% so với cùng kỳ năm trước và đạt 84,48% so với kế hoạch năm.            

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 10.842.995 triệu đồng, bằng 117,01% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 78,46% so với kế hoạch năm.

Ước tính tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang cả năm 2017 (lần 1) thực hiện được 16.650.790 triệu đồng, so với kế hoạch năm mới điều chỉnh hiện tại (16.291.637 triệu đồng), đạt 102,20% và so với cùng kỳ năm 2016 (15.540.790 triệu đồng) bằng 107,14%. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước thực hiện được 1.680.790 triệu đồng, bằng 77,91% so với cùng kỳ năm 2016 (2.157.295 triệu đồng) và đạt 118,23% so với kế hoạch điều chỉnh hiện tại (1.421.637 triệu đồng), chiếm tỷ trọng 10,09% vốn đầu tư toàn xã hội. Nguyên nhân vốn ngân sách Nhà nước ước cao so với kế hoạch hiện tại năm 2017 là do: Từ đây đến cuối năm 2017 vốn ngân sách Nhà nước sẽ có nhiều nguồn vốn bổ sung thêm.

  Để thực hiện hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư XDCB năm 2017 của tỉnh Hậu Giang, Cục Thống kê khuyến nghị một số giải pháp như sau:

Một là: các sở, ngành cần kiểm tra, đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình XDCB, mà đặc biệt là các công trình trọng điểm trên địa bàn; đồng thời gắn với việc giám sát, kiểm tra chất lượng công trình, nhanh chóng hoàn thành các công trình XDCB đang tồn đọng nhất là các công trình dự án trọng điểm đã bố trí vốn (giao thông, nông nghiệp, y tế, giáo dục, v.v…)

Hai là: Điều chỉnh kế hoạch vốn đối với những công trình dự án triển khai chậm sang các công trình đang thiếu.

Ba là: Đẩy nhanh tiến độ lập thủ tục XDCB đối với các công trình dự án đã được bố trí vốn, nhanh chóng làm thủ tục quyết toán các công trình đã hoàn thành.                      

Bốn là: Lựa chọn những đơn vị tư vấn thiết kế có đủ năng lực thực hiện các hợp đồng đầu tư xây dựng cơ bản nhằm tránh được thời gian thực hiện dự án kéo dài gây thất thoát, lãng phí làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả vốn đầu tư.

Năm là: Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành cấp tỉnh và các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề vướng mắc trong đầu tư XDCB.

       2.2. Xây dựng:

Ước tính quý 3 năm 2017, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 1.398.720 triệu đồng, so với quý trước bằng 98,19% và so với cùng kỳ năm trước (1.418.660 triệu đồng) bằng 98,59%. Trong đó, loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 455.980 triệu đồng, so với quý trước bằng 103,13% và so với cùng kỳ năm trước bằng 77,53%; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 942.740 triệu đồng, so với quý trước bằng 95,96% và so với cùng kỳ năm trước bằng 113,51%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình ước thực hiện trong quý 3 năm 2017 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 877.835 triệu đồng, so với quý trước bằng 94,63% và so với cùng kỳ năm trước (728.500 triệu đồng) bằng 120,50%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 58.690 triệu đồng, so với quý trước bằng 95,62% và so với cùng kỳ năm trước (104.850 triệu đồng) bằng 57,62%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 460.215 triệu đồng, so với quý trước bằng 106,20% và so với cùng kỳ năm trước (585.840 triệu đồng) bằng 78,56%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 1.980 triệu đồng, so với quý trước bằng 89,19% và so với cùng kỳ năm trước (2.470 triệu đồng) bằng 80,16%.

Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng giảm so với quý trước là do: Vào mùa mưa nên ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các công trình trọng điểm; công tác giải phóng mặt bằng triển khai chậm; các dự án của nhà đầu tư thực hiện còn chưa đúng kế hoạch đã đăng ký ở các khu, cụm Công nghiệp; quý kết thúc thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2017 đã góp phần làm giảm giá trị sản xuất.

            Ước tính 9 tháng năm 2017, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực  hiện được 4.195.220 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (4.031.588 triệu đồng) bằng 104,06%. Trong đó, loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 1.248.710 triệu đồng, bằng 95,06% so với cùng kỳ năm trước; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 2.946.510 triệu đồng, bằng 108,41% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện 9 tháng năm 2017 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 2.731.405 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (2.435.425 triệu đồng) bằng 112,15%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 209.270 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (266.622 triệu đồng) bằng 78,49%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 1.244.145 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (1.321.281 triệu đồng) bằng 94,16%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 10.400 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (8.260 triệu đồng) bằng 125,91%.

       Đến nay, tình hình xây dựng trên địa bàn Tỉnh chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở dân dụng và đường giao thông. Riêng các công trình trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước có qui mô lớn thì hầu hết đều do các Doanh nghiệp ngoài tỉnh thi công. Do vậy, đề nghị Lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, để các Doanh nghiệp xây dựng trong tỉnh được thi công nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành xây dựng của Tỉnh tăng cao.

  1. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

3.1. Nông nghiệp:

Trồng trọt

- Vụ lúa Hè thu năm 2017:

 + Diện tích xuống giống được 76.992 ha, đạt 101,33% so với kế hoạch của tỉnh và đạt 99,94% so với vụ lúa hè thu năm 2016. Hiện nay, lúa đã thu hoạch dứt điểm.

+ Năng suất thu hoạch ước được 60,16 tạ/ha, tăng 2,93% (bằng 1,69 tạ/ha) so với vụ lúa hè thu năm 2016.

+ Sản lượng toàn tỉnh ước tính được 463.184 tấn, tăng 2,86% (bằng 12.901 tấn) so với sản lượng lúa hè thu năm 2016. Do thời tiết  thuận lợi nên đa số các huyện thu hoạch lúa đạt năng suất cao hơn so với năm 2016.

- Vụ lúa Thu đông, toàn tỉnh đã xuống giống được 51.859 ha, lúa đang ở giai đoạn mạ đến thu hoạch. Hiện nay, lúa thu đông đã thu hoạch được 12.833 ha, năng suất thu hoạch ước được 49,17 tạ/ha, giảm 1,2% (bằng 0,6 tạ/ha) so với vụ lúa thu đông năm 2016.

- Cây hàng năm:

 + Cây ngô, diện tích gieo trồng toàn tỉnh được 2.436 ha, bằng 103,39% so với cùng kỳ năm trước.

+ Diện tích gieo trồng cây rau, đậu các loại được 14.041 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,21% (bằng 29,66 ha).

+ Mía: Niên vụ 2017, toàn tỉnh xuống giống được 10.781 ha, so với cùng kỳ năm trước giảm 0,56% (bằng 61,19 ha) tập trung ở huyện Phụng Hiệp, Thành phố Vị Thanh, Thị xã Ngã Bảy và huyện Long Mỹ. Do cây mía gặp khó trong tiêu thụ sản phẩm từ các vụ trước nên một số hộ trồng mía chuyển sang trồng cây khác.

Tình hình dịch bệnh: Bà con nông dân đang tích cực chú ý phòng ngừa các đối tượng gây hại trên lúa thu đông như bệnh rầy nâu, đạo ôn cổ bông, lem lép hạt nên tình hình dịch bệnh đang được ngăn chặn kịp thời.

- Chăn nuôi:

 Ước tính trong 9 tháng đầu năm 2017, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

+ Đàn heo có 148.017 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,85% (bằng 6.844 con). Đàn heo tăng so với cùng kỳ năm trước là do giá heo hơi trong cuối quý II và đầu quý III có xu hướng tăng và giá heo giống thấp nên người chăn nuôi heo có lãi, vì vậy nhiều hộ trước đây tạm dừng nuôi nay nuôi lại hay nuôi tăng đàn lên.

+ Đàn gia cầm có 3.754 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,51% (bằng 19 ngàn con). Đàn gia cầm năm nay tăng do tâm lý hộ nuôi yên tâm hơn khi dịch cúm gia cầm không tái xuất hiện trên địa bàn tỉnh.

Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, dịch bệnh trên gia súc gia cầm chưa xảy ra trong địa bàn tỉnh. Ngành thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm, tăng cường công tác kiểm dịch động vật để tránh dịch bênh lây lan.

3.2. Thủy sản:

Về diện tích: Trong tháng 9, diện tích nuôi thủy sản ước tính được 2.974 ha, chủ yếu là nuôi trên ruộng. Trong đó, diện tích cá tra nuôi được 20,30 ha. So với cùng kỳ năm trước tăng 2,1%. Trong đó,  cá tra nuôi tăng 1,2%.

Nguyên nhân diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh tăng là do sản phẩm cá tra năm  nay giá bán cao hơn năm trước nên người nuôi chủ động tăng diện tích.

 Lũy kế từ đầu năm đến nay, diện tích nuôi thủy sản  được 6.007 ha, tăng 1,26%  so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá tra nuôi được 122  ha, tăng 1,13%  so với cùng kỳ năm trước.

Về sản lượng: Trong 9 tháng, tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh ước tính được  51.422,91 tấn, tăng 1,77% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể:

- Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 49.078,78 tấn, tăng 1,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá được 48.279,59 tấn, tăng 1,90% so với cùng kỳ năm trước.

- Sản lượng thủy sản khai thác được 2.344,13 tấn, giảm 1,20% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân sản lượng thủy sản nuôi trồng tăng chủ yếu do diện tích nuôi thủy sản ao mương thường và các loại thủy sản nuôi thâm canh, nuôi thả ruộng  tăng hơn cùng kỳ.

Nhìn chung: Tình hình sản xuất nông nghiệp trong 9 tháng đầu năm 2017 có chiều hướng tốt hơn, cụ thể là:

- Lúa hè thu đã thu hoạch xong, năng suất khá cao, diện tích lúa thu đông đã xuống giống tăng hơn cùng kỳ năm 2016. Ngành thú y thực hiện tốt công tác tiêm phòng, quản lý, giám sát dịch bệnh ở gia súc, dịch cúm gia cầm không xảy ra trên địa bàn tỉnh.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tháng 9 năm 2017 tăng 12,10% so với cùng tháng năm trước, cụ thể:

- Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,17%. Trong đó, ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,91% so cùng kỳ năm trước, ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 26,89%.

- Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 12,61% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành sản xuất và phân phối điện tăng 12,61%.

- Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,82% so cùng kỳ năm trước.

 So với 9 tháng đầu năm 2016, chỉ số IIP 9 tháng đầu năm 2017 tăng 11,09%. Cụ thể như sau:

- Ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 11,12%. Trong đó, ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 26,60%, ngành sản xuất thuốc hóa dược và dược liệu tăng 27,91%, đó là 2 ngành có chỉ số tăng cao nhất trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo.

 - Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 13,09%.

- Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,31%.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 9 năm 2017:

- Tính theo giá so sánh 2010 được 2.173.411 triệu đồng, tăng 10,35% so với tháng trước và tăng 17,65% so với cùng kỳ năm trước.

- Tính theo giá thực tế được 2.797.124 triệu đồng, tăng 10,31% so với tháng trước và tăng 18,03% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ là do Bộ Thương Mại Hoa Kỳ (DOC) hủy bỏ các khoản thuế chống bán phá giá đối với sản phẩm tôm xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam vào thị trường Mỹ, nên các doanh nghiệp hoạt động trong ngành này tăng sản lượng sản xuất để hoàn thành các hợp đồng đã ký trước đó. Ngoài ra, tăng một phần là do ngành chế biến nông sản xuất khẩu cũng đã tạo dựng được thương hiệu trong và ngoài nước, thị trường tiêu thụ của ngành này luôn ổn định và các doanh nghiệp hoạt động trong ngành này có xu hướng nâng cao chất lượng sản phẩm, để thâm nhập vào những thị trường mới, nên làm tăng giá trị sản xuất ngành này nói riêng và tăng giá trị sản xuất toàn tỉnh nói chung.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 9 tháng năm 2017:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 16.308.041 triệu đồng, tăng 11,54% so với cùng kỳ năm trước và đạt 72,85% so với kế hoạch năm.

- Tính theo giá thực tế, được 20.955.686 triệu đồng, tăng 12,32% so với cùng kỳ năm trước và đạt 74,57% so với kế hoạch năm.

Nguyên nhân là do từ đầu năm đến nay, có hơn 04 doanh nghiệp có giá trị sản xuất lớn đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động và 01 doanh nghiệp đang trong giai đoạn chạy thử, đã đóng góp trên 250 tỷ đồng/tháng vào giá trị chung của toàn tỉnh. Ngoài ra, tăng một phần là do môi trường kinh doanh thuận lợi đã thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư mở rộng tăng công suất nhà máy đóng góp giá trị rất lớn vào giá trị chung của toàn tính. Bên cạnh đó, chính sách nhà nước khuyến khích “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và chương trình đưa hàng Việt về nông thôn của các doanh nghiệp đã phát huy hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở cá thể công nghiệp và doanh nghiệp tăng cường sản xuất các mặt hàng tiêu thụ nội địa để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước. Vì vậy, giá trị sản xuất công nghiệp ước 9 tháng đầu năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện cả năm 2017:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 22.631.703 triệu đồng, tăng 13,12% so với cùng kỳ năm trước và đạt 101,10% so với kế hoạch năm.

- Tính theo giá thực tế, được 29.119.135 triệu đồng, tăng 14,40% so với cùng kỳ năm trước và đạt 103,62% so với kế hoạch năm.

Nhìn chung, ước thực hiện cả năm 2017, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang phát triển ổn định. Tuy nhiên, dù đã có sự tăng trưởng, nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về giá nguyên liệu đầu vào và thị trường tiêu thụ,... Do vậy các doanh nghiệp cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch cụ thể hơn để tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy các doanh nghiệp mới chính thức đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra như; Công ty TNHH Number One Hậu Giang; Công ty TNHH giấy Lee & Man Việt Nam… để ngành công nghiệp phát triển đúng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.

  1. 5. Thương mại, dịch vụ và giá cả

5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ:

Ước thực hiện tháng 9 năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 2.722.634 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 104,79% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,25%.

Bước qua tháng 9, giá xăng, gas, và giá các mặt hàng thực phẩm tươi sống (thịt heo, thịt gà, rau xanh...) có xu hướng tăng so với tháng trước. Thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh cũng trở nên sôi động do lượng hàng phục vụ cho kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, các mặt hàng phục vụ Tết Trung thu như: Bánh trung thu, lồng đèn và một số hàng hóa khác đã được bày bán trên các tuyến đường và hầu hết trong các chợ. Ngoài ra, để kích thích nhu cầu tiêu dùng trong những tháng cuối năm với phương châm người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam, đưa hàng Việt về nông thôn luôn được quan tâm và đẩy mạnh thực hiện, vừa qua đã có 2 hội chợ hàng Việt Nam tổ chức tại 2 địa bàn là huyện Vị Thủy và Thị xã Long Mỹ, và 01 hội chợ thành tựu Nông, Công, Thương nghiệp tỉnh Hậu Giang năm 2017 được tổ chức tại thành phố Vị Thanh đã kích thích tiêu dùng rất lớn trong tháng. Điều này đã kéo theo các ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh cũng sẽ tăng hơn so với tháng trước.

Ước thực hiện 9 tháng năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 24.247.914 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 104,91% và so với kế hoạch năm đạt 75,42%. Cụ thể:

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 17.677.039 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 105,08%.

- Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 2.309.046 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 104,22%.

- Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 4.261.829 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 104,58%.

Với số liệu trên cho thấy, tốc độ tăng trưởng thương mại - dịch vụ trong 9 tháng năm 2017 không cao. Diễn biến về giá cả của một số nhóm hàng thực phẩm xuống thấp trong thời gian qua, tình trạng được mùa mất giá và ngược lại vẫn còn diễn ra đã ảnh hưởng đến thu nhập của một bộ phận không nhỏ người dân. Diễn biến phức tạp của thời tiết, cơ sở hạ tầng giao thông chưa được cải thiện tốt ở nhiều địa bàn nông thôn đã gây khó khăn cho việc sản xuất, kinh doanh, vận chuyển hàng hóa, làm ảnh hưởng đến hoạt động thương mại. Bên cạnh đó, các địa điểm vui chơi, giải trí lành mạnh còn thiếu về cơ sở vật chất và chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân.

Dự tính thực hiện cả năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 32.157.100 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 107,64% và so với kế hoạch năm đạt 100,02%. Cụ thể:

 - Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 23.318.143 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,34%.

- Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 3.149.882 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 107,10%.

- Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 5.689.075 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 105,14%.

Trong thời gian qua, việc đẩy mạnh các yếu tố kích cầu tiêu dùng được sự quan tâm và hỗ trợ rất lớn từ các ngành chức năng. Các chương trình xúc tiến thương mại, chương trình đưa hàng Việt về nông thôn được thực hiện một cách rộng rãi, mẫu mã hàng hóa đa dạng, nguồn hàng dồi dào thu hút được lượng người tiêu dùng rất lớn đến tham quan, mua sắm, đóng góp doanh thu không nhỏ vào ngành thương mại - dịch vụ của tỉnh. Tuy nhiên, chất lượng hàng hóa chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng, nên lượng hàng được tiêu thụ còn hạn chế so với nhu cầu thực tế. Vì vậy, trong những tháng còn lại của năm 2017, cần phát `huy mạnh mẽ hơn nữa hoạt động của các chương trình này, và cần kiểm tra chất lượng hàng hóa để nâng cao mức tiêu dùng trong dân. Chú trọng công tác bình ổn giá cả thị trường, nhất là trong dịp lễ, Tết.

Về ngành dịch vụ, tuy tốc độ tăng không cao nhưng ổn định, không có nhiều biến động. Tuy nhiên, cần chú trọng đầu tư cơ sở, hạ tầng để phát triển nhóm dịch vụ vui chơi, giải trí, lưu trú và ăn uống của tỉnh, nhất là ở các địa bàn có mật độ dân cư và tỷ trọng doanh thu thương nghiệp - dịch vụ cao như: Thành phố Vị Thanh, Thị xã Ngã Bảy, Thị xã Long Mỹ.

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu:

Ước thực hiện tháng 9 năm 2017, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 97,059 triệu USD, so với tháng trước bằng 91,45% và so với cùng kỳ năm trước bằng 168,02%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 71,027 triệu USD so với tháng trước bằng 102,13% và so với cùng kỳ năm trước bằng 167,46%.

Nguyên nhân ước giá trị xuất trực tiếp hàng hóa tăng so với tháng trước là do hiện nay tình hình thị trường đang có nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi để các Doanh nghiệp thực hiện gia tăng hoạt động xuất khẩu. Nhờ có các chính sách và sự can thiệp điều tiết kịp thời của các ngành chức năng mà hiện nay tình hình thị trường xuất khẩu các mặt hàng thủy sản đã tương đối ổn định. Thời điểm hiện tại, mặc dù mặt hàng xuất khẩu Tôm chủ lực còn đang đối mặt với mức đánh thuế chống bán phá giá cao nhưng nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm Tôm chế biến các loại của người dân ở các nước nhập khẩu lại đang có xu hướng gia tăng, điển hình là thị trường Mỹ và các nước EU có mức tiêu thụ lớn. Nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong khi nguồn nguyên liệu chế biến đang thiếu hụt. Do đó, dự đoán trong thời gian tới sản lượng hàng hóa cung ứng có thể sẽ không đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng (cầu sẽ vượt cung). Điều này sẽ khiến giá xuất khẩu có thể tăng đáng kể. Vì vậy, giá trị xuất khẩu trong tháng 9 sẽ tăng.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 26,032 triệu USD so với tháng trước bằng 71,14% và so với cùng kỳ năm trước bằng 169,57%.

                        Ước thực hiện 9 tháng năm 2017, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, ủy thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 761,578 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 138,79% và so với kế hoạch năm đạt 109,11%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 481,612 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 140,71% và so với kế hoạch năm đạt 96,71%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 233,323 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 144,63% và so với kế hoạch năm vượt 94,44%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 3,775 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 57,34% và so với kế hoạch năm đạt 25,17%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 42,868 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 111,25% và so với kế hoạch năm đạt 65,95%.

Nhìn chung, tình hình xuất, nhập khẩu 9 tháng năm 2017 tăng nhiều so với cùng kỳ năm trước. Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu chủ yểu trên địa bàn vẫn ổn định không thay đổi nhiều. Thủy sản vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu chung của toàn tỉnh (chiếm 63,10 %) Doanh nghiệp có giá trị đóng góp lớn nhất là Minh Phú. Chỉ tính riêng giá trị xuất khẩu của Doanh nghiệp này đã chiếm 86,18 % trong tổng giá trị xuất khẩu thủy sản trên địa bàn.

Bên cạnh đó, mặt hàng xuất khẩu giày dép cũng có giá trị tương đối lớn (chiếm 21,41 % trong tổng kim ngạch xuất khẩu) và có mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước. Tính đến thời điểm ước 9 tháng giá trị xuất đi của mặt hàng này được 103,106 triệu USD tăng gần gấp đôi, so với cùng kỳ năm trước bằng 180,81 %. Hiện nay quy mô hoạt động sản xuất của ngành hàng này đang được mở rộng do đó dự báo từ đây đến cuối năm giá trị xuất khẩu có thể tiếp tục tăng.

Năm nay, trên địa bàn có thêm mặt hàng xuất khẩu mới đó là sản phẩm giấy thành phẩm các loại của Nhà máy giấy đang hoạt động trên địa bàn huyện Châu Thành. Giá trị xuất đi của mặt hàng này tính từ tháng 6 năm 2017 đến thời điểm hiện tại đã được 35,651 triệu USD (chiếm 7,40 % tổng giá trị xuất khẩu). Các mặt hàng xuất khẩu khác còn lại bao gồm: Hàng rau quả, nông sản, hàng dệt may và một số hàng hóa khác vẫn có giá trị ổn định không thay đổi nhiều so với cùng kỳ.

Ước cả năm 2017, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, ủy thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 1.050,975 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 139,67% và so với kế hoạch năm đạt 150,57%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 677,586 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 138,10% và so với kế hoạch năm đạt 136,06%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 309,831 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 156,75% và so với kế hoạch năm đạt 258,19%.

Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu tăng cao so với cùng kỳ và vượt kế hoạch đề ra là do hiện nay thị trường đã dần ổn định, các Doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu trên địa bàn hoạt động lâu năm, có nhiều kinh nghiệm. Thêm vào đó, một số Doanh nghiệp hiện nay đang mở rộng quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư đổi mới trang thiết bị, công nghệ, một mặt nhằm gia tăng sản lượng sản xuất, mặt khác để nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng đầy đủ yêu cầu về tiêu chuẩn thương mại mà các nước nhập khẩu đã đặt ra, tiến tới ngày càng hoàn thiện sản phẩm, phá vỡ các rào cản thương mại, từng bước nâng cao và giữ giá trị xuất khẩu ổn định. Vì vậy, dự đoán giá trị xuất, nhập khẩu năm 2017 sẽ tăng và vượt kế hoạch năm.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 4,849 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 47,43% và so với kế hoạch năm đạt 32,33%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 58,709 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,81% và so với kế hoạch năm đạt 90,32%.

Hiện nay, tình hình xuất, nhập khẩu vẫn còn đối mặt với nhiều khó khăn. Nguồn nguyên liệu đầu vào cung ứng phục vụ cho các Doanh nghiệp chế biến vẫn còn đang thiếu hụt. Tôm vẫn là mặt hàng nguyên liệu thiếu hụt trầm trọng nhất. Để dây chuyền sản xuất được duy trì thường xuyên liên tục, nhà máy hoạt động được hết công suất, cũng như đảm bảo cho các hợp đồng được thực hiện thuận lợi thì đa số các doanh nghiệp phải nhập khẩu thêm nguồn nguyên liệu từ bên ngoài, do nguồn nguyên liệu trong nước không đáp ứng đủ để làm đầu vào cho quá trình sản xuất. Điều này đã gây ra không ít khó khăn, buộc các doanh nghiệp phải phụ thuộc lớn vào nguồn lực bên ngoài từ đó làm hạn chế đi tính chủ động của các Doanh nghiệp trong việc lên kế hoạch sản xuất kinh doanh, không kịp thời trong công tác ứng phó với biến động của thị trường.

Vì vậy, trong thời gian tới không chỉ đòi hỏi các doanh nghiệp cần xây dựng riêng cho mình một vùng nguyên liệu ổn định mà còn cần liên kết chặt với người nuôi và các ngành chức năng để kịp thời cập nhật thông tin diễn biến thị trường các qui định mới được áp dụng trong hoạt động xuất, nhập khẩu để từ đó có phương án giải quyết và quyết định tối ưu. Song song đó, các doanh nghiệp cũng cần phải chủ động hơn trong việc tìm kiếm thị trường tiềm năng mới để đa dạng hóa thị trường tránh phụ thuộc vào một thị trường nhất định nhằm giảm thiểu, hạn chế  rủi ro hơn trong quá trình xuất khẩu hàng hóa, đảm bảo tăng giá trị xuất khẩu chung và vượt kế hoạch đề ra

5.3. Tình hình giao thông vận tải:

Ước thực hiện 9 tháng năm 2017, doanh thu vận tải hàng hóa, hành khách và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 769.924 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 107,94 % (trong đó doanh thu vận tải hành khách được 356.949 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 105,84 %).

Ước thực hiện cả năm 2017, doanh thu vận tải hàng hóa, hành khách và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 1.077.818 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 103,68 % (trong đó doanh thu vận tải hành khách được 467.432 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 103,30 %).

Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa:

Ước thực hiện tháng 9, toàn tỉnh vận chuyển được 846.439 tấn (25.160.458 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,73 % (119,71 %) và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,34 % (132,51 %). Chia ra:

- Đường sông ước thực hiện được 627.134 tấn (19.005.334 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,58 % (106,72 %) và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,20 % (110,89 %).

- Đường bộ thực hiện được 219.305 tấn (6.155.124 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 105,17 % (191,83 %) và so với cùng kỳ năm trước bằng 100,40 % (100,25 %).

Ước thực hiện 9 tháng năm 2017, hàng hóa vận chuyển được 7.229.139 tấn (187.966.179 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 106,36 % (110,45 %). Chia ra:

- Đường sông thực hiện được 5.691.717 tấn (165.336.819 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 104,74 % (106,57 %).

- Đường bộ thực hiện được 1.537.422 tấn (22.629.360 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 100,89 % (102,49 %).

Ước thực hiện cả năm 2017, hàng hóa vận chuyển được 10.279.512 tấn (317.379.894 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 104,40 % (101,42 %). Chia ra:

- Đường sông thực hiện được 7.629.104 tấn (233.094.429 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 105,95 % (101,89 %).

- Đường bộ thực hiện được 2.650.408 tấn (84.285.465 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 100,16 % (100,11 %).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách:

 Ước thực hiện tháng 9, hành khách vận chuyển được 8.918.885 lượt hành khách (52.405.197 HK.km), so với tháng trước bằng 100,94 % (100,39 %) và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,01 % (103,73 %). Trong đó:

- Đường bộ vận chuyển được 7.672.729 lượt hành khách (41.598.243 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,97 % (100,45 %) và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,61 % (103,26 %).

- Đường sông vận chuyển được 1.246.156 lượt hành khách (10.806.954 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,77 % (100,19 %) và so với cùng kỳ năm trước bằng 106,43 % (105,60 %).

Ước thực hiện 9 tháng năm 2017, vận chuyển được 82.278.263 lượt hành khách (477.731.222 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 103,60 % (105,20 %). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 70.904.410 lượt hành khách (379.176.558 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 103,03 % (104,77 %).

- Đường sông vận chuyển được 11.373.853 lượt hành khách (98.554.664 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 107,29 % (106,88 %).

Ước thực hiện cả năm 2017, vận chuyển được 110.471.149 lượt hành khách (641.438.123 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 103,46 % (106,83 %). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 95.309.681 lượt hành khách (509.732.197 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 102,94 % (106,98 %).

- Đường sông vận chuyển được 15.161.468 lượt hành khách (131.705.926 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 106,85 % (106,24 %).

  1. Các vấn đề văn hóa và xã hội

6.1 Văn hóa:

Trong tháng 9, ngành Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã thẩm định và thống nhất 28 hồ sơ thông báo sản phẩm quảng cáo trên bảng, băng rol của tổ chức, cá nhân; cấp 02 giấy phép kinh doanh karaoke (điều chỉnh nội dung trên giấy phép) và đồng ý cho 03 lượt tổ chức biểu diễn nghệ thuật. Trong 9 tháng đầu năm, thẩm định và thống nhất 164 hồ sơ thông báo sản phẩm quảng cáo trên bảng, băng rol của tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ quảng cáo; đồng ý cho 28 lượt tổ chức biểu diễn nghệ thuật; cấp 21 giấy phép kinh doanh karaoke.

Ngành Văn hóa - Thể thao và Du lịch phối hợp với Phòng PA83, Phòng PC 64 Công an tỉnh, Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố Vị Thanh, Phòng Quản lý đô thị thành phố Vị Thanh, UBND Phường 3 thành phố Vị Thanh trong tháng 9 đã kiểm tra 20 cơ sở, trong đó: 03 cơ sở quảng cáo, 03 cơ sở ghi âm, ghi hình, 05 cơ sở karaoke, 04 cơ sở lưu trú, 01 cơ sở chiếu phim, 03 cơ sở cầm đồ, 01 cơ sở kinh doanh nước đá. Kết quả kiểm tra: Phát hiện 05 cơ sở vi phạm (02 cơ sở quảng cáo vượt quá diện tích, 03 cơ sở đặt biển hiệu lấn ra vỉa hè). Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 02 cơ sở quảng cáo với số tiền 7.000.000 đồng; nhắc nhở 03 cơ sở đặt biển hiệu lấn vỉa hè.

Trong 9 tháng, thanh tra sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch phối hợp với Phòng An ninh Chính trị nội bộ (PA83), Phòng cảnh sát Quản lý hành chính (PC64) Công an tỉnh, Phòng Văn hóa và Thông tin các huyện, thị xã, thành phố tiến hành kiểm tra 74 cuộc đối với 235 lượt cơ sở  kinh doanh dịch vụ văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo trên địa bàn tỉnh. Qua kiểm tra phát hiện 48 cơ sở vi phạm, ra quyết định xử lý vi phạm hành chính đối với 16 cơ sở với số tiền 138,5 triệu đồng; nhắc nhở, làm cam kết 26 cơ sở, thuộc thẩm quyền ngành khác xử lý 06 cơ sở.

Tháng 9, ngành Văn hóa - Thể thao và Du lịch thực hiện được 3.930 m2 panô, 170 băng rol, treo và tháo gỡ 4.860 cờ các loại, 98 lượt phóng thanh cổ động, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành.

Đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 96 buổi, thu hút 44.000 lượt người xem.

6.2. Giải quyết việc làm và đào tạo nghề:

Tháng 9 vừa qua, ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã tư vấn việc làm cho 1.235 lao động; có 439 lao động đăng ký tìm việc làm; giới thiệu việc làm cho 322 lao động.

Trong tháng, giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 559 lao động, đạt 86,07% chỉ tiêu kế hoạch năm 2017. Trong đó, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài 05 lao động, lũy kế đến cuối tháng này là 65/70 lao động, đạt 92,9% chỉ tiêu kế hoạch năm 2017.

Ra Quyết định hưởng chế độ Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định cho 473 người lao động với số tiền trên 3.405,75 triệu đồng.

Tổ chức phỏng vấn 20 lao động đăng ký dự tuyển vào làm việc tại Công ty Cổ phần thương mại tổng hợp Vincommerce – Tập đoàn Vingroup, kết quả có 08 lao động trúng tuyển.

Về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn, đã phê duyệt được 135 lớp với 3.315 học viên (phi nông nghiệp 89 lớp; nông nghiệp 46 lớp); khai giảng được 103 lớp với 2.530 học viên, bế giảng được 33 lớp với 825 học viên.

Đến thời điểm này, Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật tỉnh đã nhận được 98 hồ sơ dự tuyển năm học 2017 - 2018, đã xét tuyển được 98 học sinh; Trường Trung cấp Kỹ thuật – Công nghệ tỉnh đã nhận được 168 hồ sơ dự tuyển năm học 2017 – 2018, đã xét tuyển 158 học sinh.

6.3. An sinh xã hội:

Bảo trợ xã hội:  

Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã trợ cấp thường xuyên cho 27.412 đối tượng bảo trợ xã hội với tổng số tiền trên 10.047,79 triệu đồng. Hỗ trợ mai táng phí cho 144 trường hợp với số tiền 777,6 triệu đồng; trợ cấp đột xuất cho 68 trường hợp với số tiền 461,6 triệu đồng.

Ban đại diện Hội người cao tuổi tỉnh hướng dẫn các địa phương thành lập Câu lạc bộ liên thế hệ tự giúp nhau. Kết quả đã có 02 Câu lạc bộ được thành lập tại thị xã Ngã Bảy và huyện Long Mỹ, còn 07 Câu lạc bộ ở các đơn vị còn lại đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ, chuẩn bị ra mắt.

Tổng hợp nhu cầu kinh phí thực hiện Nghị định số 136/2013/NĐ-CP của các huyện, thị xã, thành phố. Phối hợp với Trung tâm Chỉnh hình và Phục hồi chức năng thành phố Cần Thơ tổ chức khám sàng lọc cho 140 người khuyết tật trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện chính sách đối với người có công:

Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã tiếp nhận mới 165 hồ sơ các loại, xét giải quyết 195 hồ sơ. Còn lại 110 hồ sơ đang tiếp tục xem xét, giải quyết.

Tổ chức đưa, đón 157 người có công với cách mạng đi điều dưỡng tại huyện Phú Quốc – tỉnh Kiên Giang và thành phố Nha Trang – tỉnh Khánh Hòa.

Phối hợp với Sở Nội vụ tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị Chủ tịch nước quyết định truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước bà mẹ Việt Nam anh hùng cho 13 trường hợp.

Phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức Hội nghị gặp gỡ, trao đổi và thông tin đến người có công với cách mạng về các chính sách ưu đãi người có công tại 03 xã: Vĩnh Viễn, Vĩnh Viễn A và Thuận Hưng (huyện Long Mỹ) với 91 người có công tham dự, qua đó có hơn 50 lượt ý kiến của đại biểu xoay quanh các vấn đề: hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Bảo hiểm y tế cho thân nhân thương binh có tỷ lệ dưới 61%; cấp lại Bằng Tổ ghi công đối với liệt sĩ; nâng mức trợ cấp thường xuyên; chế độ thờ cúng liệt sĩ; hướng dẫn hồ sơ hưởng chế độ chính sách thương binh,….

Giới thiệu ra Hội đồng Giám định y khoa 02 trường hợp đề nghị giám định tỷ lệ bị nhiễm chất độc hóa học.

Hoàn thành công tác sao lưu 6.441 hồ sơ liệt sĩ thuộc Đề án số hóa hồ sơ người có công với cách mạng (giai đoạn 1).

Thanh tra và phòng chống tệ nạn xã hội:

Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nội bộ và ra dân được 52 cuộc với 2.638 lượt người tham dự. Trong đó, nội bộ có 13 cuộc với 360 lượt người tham dự, ra dân có 39 cuộc với 2.296 lượt người tham dự.

Thực hiện Kế hoạch của Ban Chỉ đạo 138 tỉnh về việc kiểm tra xử lý vi phạm về trật tự xã hội, tệ nạn xã hội. Đội, tổ kiểm tra liên ngành các cấp đã kiểm tra được 45 lượt cơ sở; phát hiện có 02 cơ sở vi phạm, cho cam kết và nhắc nhở 11 cơ sở.

Về công tác quản lý đối tượng: số người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý tại địa phương là 705 đối tượng; số đối tượng mại dâm có hồ sơ quản lý là 88 đối tượng.

Tiếp nhận mới 09 đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân, đã giải quyết dứt điểm 03 đơn, còn 06 đơn đang xem xét, giải quyết cho đối tượng.

6.4. Tình hình thực hiện an toàn giao thông, cháy nổ:

Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban an toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 9 năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông, tập trung ở đường bộ. So với tháng trước giảm 07 vụ và tăng 02 vụ so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có tổng số 05 người chết, so với tháng trước giảm 06 người và tăng 01 người so với cùng kỳ năm trước. Tổng số có 03 người bị thương, so với tháng trước giảm 02 người và bằng với số người với của cùng kỳ năm trước.

Trong 9 tháng năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 85 vụ tai nạn giao thông (tập trung ở đường bộ), làm chết 59 người và bị thương 39 người. So với cùng kỳ năm trước, tăng 36 vụ (đường bộ tăng 38 vụ, đường sông giảm 02 vụ), số người chết tăng 19 người (đường bộ tăng 21 người, đường sông giảm 02 người), số người bị thương tăng 19 người (chỉ tập trung ở đường bộ).

Tình hình thực hiện an toàn cháy nổ

Trong 9 tháng đầu năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ cháy, làm 03 người chết và 03 người bị thương. Tổng giá trị tài sản thiệt hại ước tính khoản 1,1 tỷ đồng. Nguyên nhân do thời tiết nắng hạn nhiều, ít mưa nên dễ sảy ra cháy nổ đặt biệt là ở những khu dân cư và ở chợ vì vậy cần tăng cường những biện pháp phòng chống cháy nổ./.