Tháng 1
08:03 26/10/2018

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang tháng 01 năm 2018

  1. Sản xuất nông nghiệp

Trồng trọt:

- Lúa đông xuân: Ước toàn tỉnh đã xuống giống được 74.250 ha, bằng 95,56% so với kế hoạch, so với cùng kỳ giảm 3,03% (bằng 2.323 ha). Diện tích lúa đông xuân sớm thu hoạch được 515 ha, năng suất ước được 62,7 tạ/ha, tập trung chủ yếu ở huyện Phụng Hiệp và Thị xã Ngã Bảy.

- Mía niên vụ 2018: Toàn tỉnh đã xuống giống được 5.614 ha tập trung ở huyện Phụng Hiệp, Thành phố Vị Thanh và Thị xã Ngã Bảy. Các giống mía chủ yếu là giống mía ngắn ngày như ROC 16, K85-92, ROC 22, R570,…

- Cây ngô: Diện tích gieo trồng toàn tỉnh được 512 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 3,35% (bằng 16,6 ha).

- Cây lấy củ có chất bột: Cây lấy củ có chất bột toàn tỉnh gieo trồng được 130 ha, giảm 2,62% (bằng 3,65 ha) so cùng kỳ năm trước.

- Cây rau các loại: Diện tích gieo trồng được 5.614 ha, so với năm trước giảm 4,57% (bằng 149,7 ha).

Tình hình sâu bệnh:  Hiện nay ngành Nông nghiệp đang khuyến cáo bà con thường xuyên thăm đồng để phát hiện sinh vật gây hại kịp thời và có biện pháp xử lý như phòng chống rầy nâu, sâu cuốn lá, đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, lem lép hạt trên lúa đông xuân.

Chăn nuôi:

Tình hình chăn nuôi: Ước tính tháng 01, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

- Đàn lợn thịt (heo thịt): Có 129.280 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,23% (bằng 4.045 con).

- Đàn gia cầm: Có 4.058 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,67% (bằng 143,7 ngàn con).

Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, các loại dịch bệnh trên gia súc gia cầm  chưa xảy ra trong địa bàn tỉnh. Ngành thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y đảm bảo an toàn thực phẩm.

Thủy sản:

- Về diện tích: Trong tháng 01 năm 2018, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 1.740,7 ha, giảm 1% ( bằng 18,7 ha) so với cùng kỳ năm trước.

- Về sản lượng:  Tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh ước tính được 5.023 tấn, tăng 0,8% (bằng 39,6 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

+ Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 4.756 tấn, tăng 0,95% (bằng 44,7 tấn).

+ Sản lượng thủy sản khai thác được 267 tấn, giảm 1,86% (bằng 5,1 tấn).

Nhìn chung, trong tháng 01 năm 2018, ngành nông nghiệp tập trung vào công tác xuống giống dứt điểm, phòng chống rầy nâu, sâu cuốn lá, đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, lem lép hạt trên lúa đông xuân. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, phòng dịch trên gia súc, gia

  1. 2. Tình hình sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP)

- Tháng 12 năm 2017 chỉ số IIP tăng 17,31% so với cùng tháng năm trước là do: Ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 17,42%. Trong đó, ngành sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 192,17%, ngành sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 118,79% là những ngành có tỷ lệ tăng cao nhất trong nhóm ngành Công nghiệp chế biến chế tạo; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 6,29%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 22,31%.

- Tháng 01 năm 2018, chỉ số IIP  tăng 30,10% so với cùng kỳ năm trước. trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 30,97%, ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 12,09%.

Giá trị sản xuất công nghiệp

Trong năm 2017, được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban tỉnh và các sở, ban ngành tỉnh, với nhiều chính sách ưu đãi cho các doanh nghiệp đầu tư mới, nên giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng nhiều hơn so với cùng kỳ năm trước, nhiều nhóm ngành vừa đảm bảo nhu cầu sử dụng trong nước, vừa góp phần quan trọng cho tăng trưởng xuất khẩu, ngành công nghiệp chế biến được coi là điểm sáng và là động lực tăng trưởng cho sản xuất công nghiệp của tỉnh trong suốt thời gian vừa qua.

Giá trị sản xuất công nghiệp thực hiện 12 tháng 2017:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 22.743.491 triệu đồng, tăng 13,68% so với cùng kỳ năm trước và đạt 101,60% so với kế hoạch năm.

- Tính theo giá thực tế, được 29.167.143 triệu đồng, tăng 14,58% so với cùng kỳ năm trước và đạt 103,79% so với kế hoạch năm.

Trong năm 2017, những ngành chiếm tỷ trong lớn và có tốc độ tăng cao so với mức tăng chung của cả tỉnh như; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; Sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy; Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất; Sản xuất thuốc, hóa dược liệu… Nguyên nhân tăng chủ yếu là do các doanh nghiệp có giá trị sản xuất lớn đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định như; Công ty TNHH giấy Lee & Man Việt Nam; Công ty TNHH Tập đoàn quốc tế Runlong-Hậu Giang; Công ty TNHH MTV dinh dưỡng nông nghiệp quốc tế Hậu Giang; Công ty TNHH MTV nước AquaOne Hậu Giang... Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đang hoạt động ổn định đầu tư mở rộng nhà máy tăng sản lượng sản xuất như; Công ty TNHH Lạc tỷ II; Công ty TNHH MTV Dược Phẩm DHG; Công ty TNHH MTV In Bao Bì DHG 1… những doanh nghiệp này đóng góp trên 3.500 tỷ đồng (giá trị sản xuất theo giá thực tế) vào giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh, đã làm tăng đột biến giá trị sản xuất các ngành này nói riêng và giá trị của toàn tỉnh nói chung.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 01 năm 2018:

- Tính theo giá so sánh 2010 được 2.018.788 triệu đồng, tăng 6,07% so với tháng trước và tăng 30,03% so với cùng kỳ năm trước.

- Tính theo giá thực tế được 2.689.712 triệu đồng, tăng 7,53% so với tháng trước và tăng 37,99% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng cao so với cùng kỳ là do tháng 01 năm 2018 các doanh nghiệp hoạt động nhiều ngày hơn so với cùng kỳ (tháng 01 năm 2017 doanh nghiệp nghỉ 6 ngày cho người lao động được vui xuân đón Tết Nguyên Đán). Ngoài ra, tăng một phần là do chính sách nhà nước khuyến khích “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và chương trình đưa hàng Việt về nông thôn ngày càng phát huy hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở cá thể công nghiệp và doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất các mặt hàng tiêu thụ nội địa để chuẩn bị phục vụ tiêu dùng trong dịp Tết Mậu Tuất 2018 sắp đến.

Nhìn chung, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối đều và ổn định. Tuy nhiên, dù đã có sự tăng trưởng, nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về giá, thị trường xuất khẩu, nguyên liệu đầu vào và một số yếu tố khác như: điện, xăng dầu đang có xu hướng tăng,... Do vậy, để hoàn thành kế hoạch năm 2018, các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy Công ty TNHH NUMBER ONE Hậu Giang đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong thời gian tới và phát triển ổn định trong những năm tiếp theo.

  1. 3. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16 tháng 01 năm 2018, sau khi điều chỉnh và bổ sung Kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2017 là 16.634.829 triệu đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.864.829 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.050.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 13.720.000 triệu đồng.

Thực hiện cả năm 2017, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 16.680.500 triệu đồng, bằng 107,33% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 100,27% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.860.800 triệu đồng, bằng 86,26% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 99,78% so với kế hoạch năm.         

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 1.045.600 triệu đồng, bằng 93,74% so với cùng kỳ năm trước và đạt 99,58% so với kế hoạch năm.                     

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 13.774.100 triệu đồng, bằng 113,20% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 100,39% so với kế hoạch năm.                 

Nguyên nhân vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước không đạt so với kế hoạch năm là do: Thực hiện chỉ thị 07/CT-TTg ngày 30 tháng 4 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ. Các dự án đã được quyết định đầu tư phải thực hiện theo mức vốn kế hoạch đã giao. Không yêu cầu các doanh nghiệp tự bỏ vốn đầu tư khi chưa được bố trí kế hoạch hàng năm hoặc bỏ vốn đầu tư cao hơn mức vốn kế hoạch được giao, dẫn đến phát sinh nợ đọng trong xây dựng cơ bản.

Kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2018 là 16.345.552 triệu đồng, (theo quyết định số 2337/QĐ-UBND ngày 08 tháng 12 năm 2017 của chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang về việc giao kế hoạch vốn đầu tư công thuộc ngân sách nhà nước năm 2018), bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 935.552 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.210.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.200.000 triệu đồng.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 01 năm 2018 là 1.260.830 triệu đồng, bằng 99,90% so với cùng kỳ năm trước và bằng 96,05% so với tháng trước. Trong đó vốn ngân sách nhà nước thực hiện được 171.310 triệu đồng, bằng 170,31% so với cùng kỳ năm trước và bằng 57,61% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn ngân sách giảm so với tháng trước là do: Các đơn vị tập trung thanh, quyết toán khối lượng đã thực hiện để giải ngân vốn năm 2017, đồng thời lập kế hoạch thủ tục vốn cho các công trình năm 2018, nên làm cho Vốn đầu tư phát triển không tăng cao.

  1. Thương mại và dịch vụ

4.1. Tình hình thương mại, dịch vụ

Thực hiện 12 tháng năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 33.871.039 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 107,30% và so với kế hoạch năm đạt 105,35%. Cụ thể:

 - Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 24.908.380 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 107,32%.

- Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 3.218.568 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 109,19%.

- Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 5.744.091 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 106,16%.

Trong năm qua, tổng mức bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh Hậu Giang tăng 7,32% so với cùng kỳ. Các nhóm hàng chiếm tỷ trọng cao trong tổng mức là: Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình, gỗ và vật liệu xây dựng, xăng, dầu, nhiên liệu, lương thực, thực phẩm…, đây là các nhóm hàng thiết yếu, phục vụ cho đời sống của con người hàng ngày. Kinh tế tư nhân trong ngành thương mại có mức tăng khá so với cùng kỳ (tăng 12,21%) chiếm 28,25% trong tổng mức bán lẻ. Nhờ vào các chính sách thu hút nhà đầu tư mà Hậu Giang ngày càng có nhiều hơn hệ thống bán lẻ của các thương hiệu uy tín đến mở rộng thị trường như: Vincom Plaza Hậu Giang, Nguyễn Kim Hậu Giang, Điện máy Chợ Lớn Hậu Giang…

Đối với ngành lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành ước tăng 6,16% so với cùng kỳ, trong đó ăn uống chiếm tỷ trọng rất lớn 97,61% tổng ngành. Hoạt động dịch vụ lưu trú tại Hậu Giang còn chưa phát triển, chủ yếu là các cơ sở kinh doanh nhỏ tập trung tại các trung tâm thành phố, huyện, thị. Bên cạnh đó, do ngành du lịch lữ hành ở Hậu Giang còn nghèo và kém phát triển, một số điểm du lịch chưa được đầu tư nâng cấp, chưa tạo dấu ấn đối với du khách nên lượng khách đến tham quan và lưu trú lại không nhiều nên chưa mang lại giá trị kinh tế chưa cao.

Ước thực hiện tháng 01 năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.065.048 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 103,65% và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,54%.

Năm nay, Tết Nguyên đán Mậu Tuất rơi vào giữa tháng 02 năm 2018 muộn hơn so với thời điểm năm trước khoảng 1 tháng. Thị trường hàng hóa trong tháng chủ yếu là đang trong lúc dự trữ, tiêu dùng chưa thật sự sôi động. Tuy nhiên, công việc chuẩn bị bố trí các vị trí để tổ chức chợ hoa, và hội chợ xuân đã được thực hiện, điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người mua và bán trong dịp Tết sắp đến. Bên cạnh đó, lượng hàng hóa phục vụ Tết năm nay trên địa bàn tỉnh dồi dào, đa dạng về chủng loại, mẫu mã và đảm bảo về chất lượng, giá cả nhờ có các hệ thống bán lẻ uy tín luôn đưa ra các chương trình khuyến mại để thu hút khách hàng, kích thích tiêu dùng của người dân nội tỉnh và một phần khá lớn khách hàng từ các vùng giáp ranh lân cận trong dịp Tết này như: Siêu thị Co.opMart, trung tâm điện máy Chợ Lớn, trung tâm điện máy Nguyễn Kim, siêu thị VinPro...

Để đảm bảo cho người dân vui xuân đón Tết trong không khí an toàn, vui tươi thì các cơ quan chức năng cần quan tâm đến công tác bình ổn giá và kiểm soát lượng hàng, nguồn hàng và chất lượng hàng hóa. Ngoài ra, việc đảm bảo ổn định, trật tự địa điểm kinh doanh, mua bán cho các tiểu thương bán hàng phục vụ Tết đảm bảo thuận tiện cho người bán cũng như người mua cũng cần được quan tâm. Đặc biệt việc kiểm tra an toàn vệ sinh đối với nhóm hàng lương thực, thực phẩm, hàng ăn uống phải được cơ quan chức năng quan tâm và thực hiện nghiêm túc.

4.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Thực hiện cả năm 2017, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, ủy thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 1.046,204 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 139,03% và so với kế hoạch năm đạt 149,89%. Chia ra:

- Xuất khẩu thực hiện được 675,849 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 137,75% và so với kế hoạch năm đạt 135,71%.

- Nhập khẩu thực hiện được 307,852 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 155,75% và so với kế hoạch năm đạt 256,54%.

- Uỷ thác xuất khẩu thực hiện được 4,007 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 39,20% và so với kế hoạch năm đạt 26,71%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 58,496 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,41% và so với kế hoạch năm đạt 89,99%.

Ước thực hiện tháng 01 năm 2018, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 77,118 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 171,87% và so với kế hoạch năm đạt 11,05%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 52,391 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 167,29% và so với kế hoạch năm đạt 7,32%.

Nguyên nhân ước giá trị xuất trực tiếp hàng hóa giảm so với tháng trước là do tháng 01 là thời điểm mà các doanh nghiệp trong nước, các nước nhập khẩu được nghỉ Tết Dương lịch mừng năm mới Mậu Tuất 2018. Do đó, quá trình chế biến các sản phẩm xuất khẩu và thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh của các Doanh nghiệp không được liên tục, sẽ có chu kỳ ngắn hơn so với tháng trước. Vì vậy, giá trị xuất khẩu có thể sẽ giảm.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 19,599 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 252,34% và so với kế hoạch năm đạt 7,26%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 93 ngàn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 61,59% và so với kế hoạch năm đạt 2,33%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 5,035 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 89,34% và so với kế hoạch năm đạt 7,19%.

Nhìn lại tình hình xuất khẩu của các Doanh nghiệp trên địa bàn trong năm 2017 có thể nói ngành xuất khẩu được xem là điểm sáng trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh, đây là năm phát triển vượt bậc, khi giá trị xuất khẩu thực hiện cả năm 2017 đã vượt xa so với kế hoạch đề ra, vượt 49,89%. Hầu hết các nhóm hàng xuất khẩu đều có giá trị tăng nhưng các sản phẩm góp phần lớn nhất trong sự tăng trưởng kỷ lục của ngành phải kể đến là Thủy sản chế biến các loại, Giầy dép và Giấy. Chỉ tính riêng giá trị của 03 nhóm hàng này đã chiếm 92,61% trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung năm 2017. Tổng giá trị xuất khẩu tăng 27,57% so với năm 2016.

 Do đó, trong năm 2018 để ngành xuất khẩu vẫn tiếp tục tăng và vượt kế hoạch đề ra thì các doanh nghiệp cần phải chủ động hơn trong việc tìm kiếm mở rộng thị trường, nắm bắt đầy đủ thông tin diễn biến của các nước có nhu cầu nhập khẩu để kịp thời ứng phó khi có diến biến xấu, mặt khác có thể tranh thủ cơ hội xúc tiến thương mại, tăng cường mở rộng cơ hội hợp tác ký kết các hợp đồng có giá trị xuất khẩu lớn để góp phần tích cực làm tăng giá trị xuất khẩu chung.

4.3. Tình hình giao thông vận tải

Để chuẩn bị đón Tết Nguyên đán sắp đến, Sở Giao thông vận tải tỉnh và các ngành có liên quan đã phối hợp, triển khai thực hiện nhiều biện pháp bảo đảm phục vụ tốt nhu cầu đi lại của nhân dân; nâng cao chất lượng dịch vụ, niêm yết công khai giá vé theo tuyến, thời gian và loại hình dịch vụ, kiểm tra, phát hiện xử lý nghiêm các đơn vị kinh doanh vận tải có hành vi chở quá số lượng hành khách, tăng giá vé trái quy định, ép buộc hành khách sử dụng dịch vụ, sang nhượng hành khách trái phép.

Đẩy mạnh tiến độ và nâng cấp, sửa chữa, chỉnh trang, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông, bảo đảm chất lượng các công trình, tuyệt đối không để xảy ra ùn tắc giao thông tại các bến xe, bến tàu, các bến khách ngang sông; đình chỉ hoạt động các bến trái phép, phương tiện không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn, không có dụng cụ cứu sinh, chở quá số người quy định; rà soát, khắc phục các điểm đen về tai nạn giao thông; hoàn thành công tác nâng cấp, sửa chữa, bảo trì các tuyến giao thông trọng điểm, để bảm đảo trật tự, an toàn giao thông cho nhân dân vui đón Tết Nguyên đán Mậu Tuất và Lễ hội xuân năm 2018.

Thực hiện tháng 12 năm 2017 doanh thu vận tải hàng hóa, hành khách và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 107.573 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 102,32% (trong đó vận tải hành khách được 38.437 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 102,63%).

Thực hiện 12 tháng năm 2017, doanh thu vận tải hàng hóa, hành khách và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 1.077.865 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 103,68% (trong đó doanh thu vận tải hành khách được 485.090 triệu đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 107,20%).

Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa:

Thực hiện 12 tháng năm 2017, toàn tỉnh vận chuyển được 10.276.004 tấn hàng hóa (316.843.166 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 104,36% (101,24%). Chia ra:

- Đường sông thực hiện được 7.624.484 tấn (232.392.867 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 105,89% (101,59%).

- Đường bộ thực hiện được 2.651.520 tấn (84.450.299 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 100,21% (100,31%).

Ước thực hiện tháng 01 năm 2018, toàn tỉnh vận chuyển được 1.100.518 tấn (55.269.066 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,45 % (101,19 %) và so với cùng kỳ năm trước bằng 140,09% (239,89%). Chia ra:

- Đường sông ước thực hiện được 671.204 tấn (26.397.026 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 102,19% (102,37%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,73% (160,13%).

- Đường bộ thực hiện được 429.314 tấn (28.872.040 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 100,33% (100,13%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 225,76% (440,44%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách:

 Thực hiện 12 tháng năm 2017, hành khách vận chuyển được 110.341.335 lượt hành khách (638.423.825 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 103,34% (106,33%). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 95.167.529 lượt hành khách (506.499.902 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 102,79% (106,30%).

- Đường sông vận chuyển được 15.173.806 lượt hành khách (131.923.923 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 106,94% (106,41%).

Ước thực hiện tháng 01 năm 2018, hành khách vận chuyển được 9.442.189 lượt hành khách (52.024.552 HK.km), so với tháng trước bằng 101,1%  (101,18%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,49% (93,04%). Trong đó:

- Đường bộ vận chuyển được 7.994.160 lượt hành khách (40.041.897 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 99,23% (99,95%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,68% (90,26%).

- Đường sông vận chuyển được 1.448.029 lượt hành khách (11.982.655 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 112,88% (105,49%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,85% (103,71%).

  1. 5. Tài chính - tín dụng

5.1. Tài chính

 Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 01 năm 2018 được 2.019.554 triệu đồng, đạt 31,39% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Nếu loại trừ tồn quỹ ngân sách năm 2017 mang sang được 1.461.354 triệu đồng thì tổng thu ngân sách nhà nước tháng 01 là 558.200 triệu đồng, đạt 8,68% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 250.000 triệu đồng, đạt 9,14% dự toán Trung ương giao và dự toán Hội đồng nhân dân giao.

Ước tổng chi ngân sách nhà nước tháng 01 năm 2018 được 493.166 triệu đồng, đạt 8,23% dự toán Trung ương giao, đạt 8,26%  dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi xây dựng cơ bản được 195.867 triệu đồng, đạt 8,24% dự toán Trung ương giao, đạt 8,33% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

5.2. Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 31/12/2017, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 10.604 tỷ đồng, tăng trưởng 25,18% so với cuối năm 2016. Vốn huy động đáp ứng được 52,69% cho hoạt động tín dụng. Ước đến ngày 31/01/2018, huy động vốn toàn địa bàn được 10.659 tỷ đồng, tăng trưởng 0,52% so với cuối năm 2017.

Đến ngày 31/12/2017, tổng dư nợ cho vay trên toàn tỉnh được 20.126 tỷ đồng, tăng trưởng 12,89% so với cuối năm 2016. Ước thực hiện đến ngày 31/01/2018, tổng dư nợ toàn địa bàn được 20.211 tỷ đồng, tăng trưởng 0,42% so cuối năm 2017.

Nợ xấu toàn tỉnh đến ngày 31/12/2017 là 290 tỷ đồng, chiếm 1,44% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 31/01/2018 nợ xấu toàn địa bàn sẽ vẫn giữ ở mức <3% trên tổng dư nợ.

  1. Tình hình văn hóa - xã hội và an toàn giao thông:

6.1. Văn hóa - xã hội:

Sở Lao động – Thương binh & Xã hội đã phối hợp với Sở Tài chính trình Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh về định mức quà cho người có công nhân dịp Tết. Theo đó, tổng số người có công được nhận quà là 21.264 người với tổng kinh phí là 10,665 tỷ đồng (kinh phí trung ương là 3,206 tỷ đồng; kinh phí địa phương là 7,459 tỷ đồng).

Thành lập 08 Đoàn đi thăm, tặng 1.880 phần quà (mỗi phần trị giá 300.000 đồng) cho gia đình chính sách, người có công tiêu biểu tại 08 huyện, thị xã, thành phố vào lúc 8 giờ ngày 09/02/2018 (nhằm ngày 24/12 âm lịch);

- Sở Lao động – Thương binh & Xã hội tỉnh phối hợp với các ngành, phòng Lao động - Thương binh & Xã hội các huyện, thị xã, thành phố tổ chức các Đoàn đi thăm, chúc Tết 09 Trung tâm, cơ sở Bảo trợ xã hội trong và ngoài tỉnh từ ngày 04/02/2017 đến ngày 10/02/2018 (nhằm ngày 19/12 đến 25/12 âm lịch) với  mức quà 5 triệu đồng/phần, riêng Trung tâm Công tác xã hội tỉnh 10 triệu đồng;

Phối hợp với Ban Công tác Người cao tuổi tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố tổ chức Đoàn đi chúc thọ, mừng thọ 680 cụ tròn 90 tuổi và 49 cụ tròn 100 tuổi tại các hộ gia đình vào ngày 22/01/2018 đến 30/01/2018 (nhằm ngày 06/12 đến 14/12 âm lịch). Mức quà tặng cụ tròn 90 tuổi là 400.000 đồng; mức quà tặng cụ tròn 100 tuổi là 500.000 đồng + 05 mét vải lụa);

- Sở Lao động – Thương binh & Xã hội phối hợp với Đài Phát thanh-Truyền hình Hậu Giang, Tỉnh đoàn, Ban Thi đua - Khen thưởng tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố tổ chức Họp mặt và tặng 900 phần quà (mỗi phần 1 triệu đồng) cho 900 thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn tại Trung tâm Hội nghị tỉnh, vào lúc 15 giờ ngày 05/02/2018 (nhằm ngày 20/12 âm lịch);

- Sở Lao động – Thương binh & Xã hội đã tư vấn việc làm cho 815 lao động; có 276 lao động đăng ký tìm việc làm; giới thiệu việc làm cho 139 lao động.

- Trong tháng, giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 599 lao động, đạt 4,00% chỉ tiêu kế hoạch năm 2018.

- Ban hành Quyết định hưởng chế độ Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định cho 222 người lao động với số tiền trên 3.034.771,77 tỷ đồng.

- Ký kết hợp đồng cung ứng lao động đối với 06 doanh nghiệp với số lượng lao động đề nghị được cung ứng là 77 lao động.

- Trợ cấp thường xuyên cho 28.318 đối tượng với số tiền 10,440 tỷ đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 162 trường hợp với số tiền 874,8 triệu đồng; trợ cấp đột xuất cho 09 trường hợp với số tiền 83,4 triệu đồng.

- Tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nội bộ và ra dân được 77 cuộc với 3.917 người tham dự. Trong đó, nội bộ có 14 cuộc với 414 lượt người tham dự, ra dân có 63 cuộc với 3.503 người tham dự.

- Thực hiện Kế hoạch của Ban Chỉ đạo 138 tỉnh về việc kiểm tra xử lý vi phạm về trật tự xã hội, tệ nạn xã hội. Đội, tổ kiểm tra liên ngành các cấp đã kiểm tra được 105 lượt cơ sở; cho cam kết và nhắc nhở 13 cơ sở.

- Về công tác quản lý đối tượng: Số người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý tại địa phương là 776 đối tượng; số đối tượng mại dâm có hồ sơ quản lý là 93 đối tượng.

6.2. Tình hình an toàn giao thông:

Theo số liệu của Ban an toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 01 năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 15 vụ tai nạn giao thông tập trung ở đường bộ. Bằng số vụ so với tháng trước và tăng 12 vụ so với cùng kỳ năm trước. Với số vụ trên đã làm chết 14 người, tăng 09 người so với tháng trước và tăng 10 người so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng có 09 người bị thương, so với tháng trước giảm 03 người và so với cùng kỳ năm trước tăng 07 người tập trung ở đường bộ./.