Tháng 10
13:35 04/12/2018

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 9, ước tháng 10 và 10 tháng năm 2018

  1. Tài chính - Tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 10 được 575.969 triệu đồng, lũy kế được 7.697.462 triệu đồng, đạt 119,65% dự toán Trung ương giao, đạt 90,55% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 280.000 triệu đồng, lũy kế được 2.456.550  triệu đồng, đạt 89,82% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Thu trợ cấp từ Ngân sách Trung ương được 295.969 triệu đồng, lũy kế được 3.218.038 triệu đồng, đạt 87,01% dự toán Trung ương, đạt 86,68% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi ngân sách nhà nước tháng 10 được 898.787 triệu đồng, luỹ kế được 5.686.254 triệu đồng, đạt 93,57% dự toán Trung ương giao, đạt 69,82% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi xây dựng cơ bản được 269.237 triệu đồng, luỹ kế được 2.419.576 triệu đồng, đạt 101,79% dự toán Trung ương giao, đạt 64,78% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chi thường xuyên được 329.550 triệu đồng, luỹ kế được 3.103.762 triệu đồng, đạt 88,19% dự toán Trung ương, đạt 73,87% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 30 tháng 9, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 11.935 tỷ đồng, tăng  2,79% so với cuối tháng 8, tương ứng tăng 12,55% so với cuối năm 2017. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng thương mại nhà nước huy động được 8.159 tỷ đồng (chiếm 68,36% trên tổng huy động), khối Ngân hàng thương mại cổ phần huy động được 3.418 tỷ đồng (chiếm 28,64% trên tổng huy động), phần còn lại là của Ngân hàng chính sách xã hội và quỹ tín dụng nhân dân. Vốn huy động đáp ứng được 54,95% cho hoạt động tín dụng. Dự báo đến ngày 31 tháng 10, tổng vốn huy động trên địa bàn được 12.024 tỷ đồng, tăng 0,75% so với cuối tháng 9, tương ứng tăng 13,39% so với cuối năm 2017.

Đến ngày 30 tháng 9, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn được 21.719 tỷ đồng, tăng 3,08% so với cuối tháng 8, tương ứng tăng 7,91% so với cuối năm 2017. Trong tổng dư nợ trên địa bàn thì khối Ngân hàng thương mại nhà nước được 15.587 tỷ đồng (chiếm 71,77% trên tổng dư nợ), khối Ngân hàng thương mại cổ phần được 3.908 tỷ đồng (chiếm 17,99% trên tổng dư nợ), phần còn lại là của Ngân hàng chính sách xã hội và quỹ tín dụng nhân dân. Vốn huy động đáp ứng được 54,95% cho hoạt động tín dụng. Ước thực hiện đến ngày 31 tháng 10, tổng dư nợ cho vay trên toàn địa bàn được 21.878 tỷ đồng, tăng 0,73% so với cuối tháng 9, tương ứng tăng 8,71% so với cuối năm 2017.

Nợ xấu đến ngày 30 tháng 9, toàn tỉnh là 649 tỷ đồng, chiếm 2,99% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 31 tháng 10, nợ xấu toàn địa bàn được kiểm soát ở mức dưới 3% trên tổng dư nợ.

  1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16 tháng 10, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2018 là 17.575.476 triệu đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.065.476 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.210.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.300.000 triệu đồng.

Vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 9 là 1.375.570 triệu đồng, bằng 95,82% so với tháng trước và bằng 109,46% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 153.200 triệu đồng, bằng 114,12% so với tháng tr­ước và bằng 121,49% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 86.500 triệu đồng, bằng 107,20% so với tháng tr­ước và bằng 110,68% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.135.870 triệu đồng, bằng 93,06% so với tháng tr­ước và bằng 107,93% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 10 là 1.430.810 triệu đồng, bằng 112,53% so với cùng kỳ năm trước và bằng 104,02% so với tháng trước. Nguyên nhân ước tháng 10 thực hiện vốn đầu tư tăng so với tháng trước là do: Chủ đầu tư triển khai nhanh dự án thuộc nguồn vốn trái phiếu Chính phủ;  Được sự quan tâm của tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo giải quyết nhanh, kịp thời các khó khăn vướng mắc và đảm bảo đúng tiến độ, sớm đưa các công trình hoàn thành vào khai thác, sử dụng đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh.

Ước tính 10 tháng, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 14.895.315 triệu đồng, bằng 105,62% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 84,75% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.702.755 triệu đồng, bằng 127,14% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 82,44% so với kế hoạch năm.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 1.011.690 triệu đồng, bằng 108,11% so với cùng kỳ năm trước và đạt 83,61% so với kế hoạch năm.          

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 12.180.870 triệu đồng, bằng 102,99% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 85,18% so với kế hoạch năm.

  1. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Diện tích lúa hè thu đã xuống giống được 77.075 ha, đạt 103,58% so với kế hoạch tỉnh và bằng 100,11% so với kỳ năm trước. Hiện nay, lúa hè thu đã thu hoạch xong, sơ bộ năng suất thu hoạch được 60,13 tạ/ha, giảm 0,06% (bằng 0,03 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng lúa hè thu năm nay ước được 463.452 tấn, tăng 0,05% (bằng 237 tấn) so với cùng kỳ.

Lúa thu đông sau khi rà soát kiểm tra lại diện tích gieo trồng ở các huyện thị trong tỉnh, đến nay toàn tỉnh đã xuống giống được 39.450 ha, lúa đang ở giai đoạn trổ chín và cho thu hoạch. Năm nay do mưa nhiều, lũ về sớm nước dâng cao dẫn đến ngập úng nên diện tích gieo trồng toàn tỉnh chỉ đạt 80,51% kế hoạch (kế hoạch của tỉnh là 49.000 ha), so với cùng kỳ giảm 18,66% (bằng 4.928 ha). Ước năng suất thu hoạch đạt 51,91 tạ/ha, tăng 1,01% (bằng 0,52 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng lúa ước được 204.783 tấn, giảm 10,21% (bằng 23.276 tấn) so với cùng vụ năm trước. Sản lượng lúa thu đông năm nay giảm là do diện tích giảm vì thời tiết không thuận lợi cho việc xuống giống của nhà nông.    

Diện tích gieo trồng ngô toàn tỉnh ước được 2.487 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 2,1% (bằng 53 ha). Do thời tiết mưa nhiều, nông dân xuống giống trễ hơn so cùng kỳ năm trước.

Cây mía niên vụ 2018, đã xuống giống được 10.582 ha, giảm 3,1% (bằng 339 ha) so với cùng kỳ. Mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, Long Mỹ, Thành phố Vị Thanh và Thị xã Ngã Bảy, hiện mía đã thu hoạch được 2.260 ha, năng suất ước được 952,14 tạ/ha. 

Bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại lúa thu đông như: Rầy nâu, sâu cuốn lá, bạc lá và bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá, bệnh đạo ôn cổ bông, lem lép hạt…. Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đang được ngăn chặn kịp thời.

Từ đầu năm đến nay, các dịch bệnh trên gia súc gia cầm chưa xảy ra trong địa bàn tỉnh. Ngành thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm, tăng cường công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y đảm bảo an toàn thực phẩm. Trong tháng 10, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau: Đàn lợn (heo) có 149.835 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,56% (bằng 833 con). Đàn bò có 3.974 con , tăng 1,74% ( bằng 68 con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn gia cầm có 4.102 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,08% (bằng 44 ngàn con). Trong đó, đàn gà có 1.271 ngàn con, tăng 1,12% (bằng 14 ngàn con) so cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 10 tháng đầu năm: Thịt lợn được 23.706  tấn, so với cùng kỳ tăng 1,80% (bằng 420 tấn), sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng được 177 tấn, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,39% (bằng 7 tấn), thịt gia cầm được 7.556  tấn, so với cùng kỳ tăng 1,07% (bằng 80 tấn), sản lượng trứng thu hoạch được 100.209 ngàn quả, tăng 1,71% (bằng 1.682 ngàn quả) so với cùng kỳ.

Diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh 10 tháng, ước tính được 7.452 ha, tăng 4,52% (bằng 322 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích nuôi cá được 7.297 ha, tăng 4,61% (bằng 322 ha) so với cùng kỳ. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng là do diện tích nuôi các loại cá khác ở ruộng không xuống giống vụ thu đông (các loại cá trắng) tăng. Nguyên nhân là do lượng mưa năm nay khá nên nước tự nhiên vào ruộng cao hơn năm trước thuận lợi cho việc nuôi loại cá này.

Tổng sản lượng thủy sản 10 tháng đầu năm, toàn tỉnh ước được 57.008 tấn, tăng 1,86% (bằng 1.043 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá được 55.663 tấn, tăng 1,88% (bằng 1.027 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 54.515 tấn, tăng 1,91% (bằng 1.021 tấn). Trong đó, sản lượng cá nuôi được 53.588 tấn, tăng 1,91% (bằng 1.005 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng thuỷ sản thu hoạch tăng so với cùng kỳ là do diện tích cá nuôi trên ruộng tăng và giá bán cao hơn năm trước nên tác động đến sự tập trung đầu tư của hộ nuôi thủy sản.

Nhìn chung, tình hình sản xuất nông nghiệp trong 10 tháng qua thuận lợi hơn so với cùng kỳ năm trước do lúa hè thu năng suất giảm ít nhưng diện tích tăng hơn nên sản lượng lúa tăng. Ngành thú y thực hiện tốt công tác tiêm phòng, quản lý, giám sát dịch bệnh, dịch cúm gia cầm không để xảy ra trên địa bàn tỉnh. Diện tích, sản lượng thủy sản tăng do người nuôi đầu tư nuôi trên ruộng nhiều vì không hao phí nhiều thức ăn do thức ăn một phần có sẵn trong tự nhiên.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tháng 9 tăng 9,84% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,06%. Trong đó, ngành sản xuất cao su và plastic tăng 86,77%. Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 4,24% so cùng kỳ năm trước. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,07% so cùng kỳ năm trước.

Ước tính tháng 10 chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 9,77% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,94%. Trong đó, ngành sản xuất cao su và plastic tăng 101,4% là ngành có chỉ số tăng rất cao trong nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 7,47% so cùng kỳ năm trước. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,08% so cùng kỳ năm trước.

So với 10 tháng đầu năm 2017, chỉ số IIP 10 tháng đầu năm 2018 tăng 14,03%, do ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 14,30%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 8,01%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,96%.

Thực hiện tháng 9, giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá so sánh 2010 được 2.290.505 triệu đồng, tăng 17,17% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế được 3.042.280 triệu đồng, tăng 14,54% so với cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 98,97% trong tổng giá trị toàn ngành và phát triển bền vững trong thời gian vừa qua là do các nhà máy chế biến chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh. Đặc biệt, tỉnh đang ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông - thuỷ sản có lợi thế cạnh tranh và sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, có khả năng xuất khẩu và giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội. Vì vậy, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng so với cùng kỳ

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 10, tính theo giá so sánh 2010, được 2.400.128 triệu đồng, tăng 4,79% so với tháng trước và tăng 19,24% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế được 3.296.215 triệu đồng, tăng 8,35% so với tháng trước và tăng 21,50% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tháng nay tăng so với tháng trước là do các xí nghiệp đường trên địa bàn tỉnh đều đồng lọt hoạt động trong đầu tháng 10, để thu hoạch mía chạy lũ cho bà con nông dân, nên ước thực hiện tháng 10 tăng so với tháng trước và cùng kỳ.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 10 tháng, tính theo giá so sánh 2010 được 20.677.106 triệu đồng, tăng 14,63% so với cùng kỳ năm trước và đạt 88,55% so với kế hoạch năm. Tính theo giá thực tế, được 28.265.373 triệu đồng, tăng 16,19% so với cùng kỳ năm trước và đạt 93,13% so với kế hoạch năm.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có trên 200 doanh nghiệp và hơn 4.644 cơ sở cá thể hoạt động sản xuất công nghiệp, những ngành chiếm tỷ trong lớn và có tốc độ tăng cao so với mức tăng chung của tỉnh như; Sản xuất chế biến thực phẩm (chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn ngành công nghiệp 46,14% và tăng 7,43% so với cùng kỳ); Sản xuất đồ uống (chiếm tỷ trọng 2,53% và tăng 34,17% so với cùng kỳ); Sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy (chiếm tỷ trọng 16,63% và tăng 35,76% so với cùng kỳ); Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (chiếm tỷ trọng 7,93% và tăng 46,47% so với cùng kỳ); sản xuất các sản phẩm từ khoán phi kim loại (chiếm tỷ trọng 3,20% và tăng 117,12% so với cùng kỳ)… Nguyên nhân là do các doanh nghiệp có giá trị sản xuất lớn, sau thời gian đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định như: Công ty TNHH giấy Lee & Man Việt Nam; công ty TNHH MTV Xi măng Cần Thơ - Hậu Giang; Công ty TNHH MTV bê tông HAMACO Hậu Giang; công ty Cổ Phần dầu khí Bình Minh; công ty TNHH Hóa Nông Lúa Vàng Hậu Giang… nên đã làm tăng đột biến các ngành này so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp gặp thuận lợi trong quá trình sản xuất và tiêu thụ nên đầu tư mở rộng nhà máy, tăng sản lượng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước như: Công ty Cổ phần thủy sản Minh Phú Hậu Giang (sản lượng tăng trên 22,36% so với cùng kỳ); công ty TNHH Lạc Tỷ II (sản lượng tăng trên 21,71% so với cùng kỳ); công ty TNHH MTV Masan Brewery HG (sản lượng tăng trên 49,36% so với cùng kỳ)… các doanh nghiệp trên đã đóng góp trên 16.934,35 tỷ đồng (theo giá thực tế) trong 10 tháng đầu năm vào các ngành này nói riêng và giá trị sản xuất của toàn tỉnh nói chung.

  1. 5. Thương mại và dịch vụ

5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Trong tháng 9 thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh có tăng so với tháng trước do nhu cầu hàng hóa phục vụ năm học mới tiếp tục tăng cao và lượng hàng hóa phục vụ cho kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, Tết Trung thu. Ngoài ra, để kích thích nhu cầu tiêu dùng, trong tháng đã tổ chức được một hội chợ thương mại, và một đợt bán hàng giảm giá với quy mô lớn tại Vincom plaza thu hút được lượng lớn khách hàng tại thành phố Vị Thanh và các vùng giáp ranh đã làm tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa khá cao so với tháng trước. Điều này cũng đã kéo theo các ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh cùng tăng.

Thực hiện tháng 9, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 2.998.877 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 107,67% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,28%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.205.902 triệu đồng, so với tháng trước bằng 107,04% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,46%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 292.408 triệu đồng, so với tháng trước bằng 114,01% và so với cùng kỳ năm trước bằng 113,28%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 500.567 triệu đồng, so với tháng trước bằng 106,95% và so với cùng kỳ năm trước bằng 113,86%.

Ước thực hiện tháng 10, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 2.922.986 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 97,47% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,51%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.175.374 triệu đồng, so với tháng trước bằng 98,62% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,16%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 255.761 triệu đồng, so với tháng trước bằng 87,47% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,51%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 491.851 triệu đồng, so với tháng trước bằng 98,26% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,98%.

Bước qua tháng 10, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh giảm so với tháng trước nguyên nhân là do đây là thời điểm bước vào mùa nước nổi, một số loại cây trồng tại các địa phương đã hết mùa thu hoạch như: Lúa, xoài, khóm, dưa hấu... Ngoài ra, giá cây mía đang ở mức thấp và tình trạng ngập lụt ở một số địa phương đã làm cho việc vận chuyển hàng hóa của các tiểu thương gặp khó khăn, sản lượng tiêu thụ hàng hóa giảm đã ảnh hưởng không nhỏ đến thu nhập của người dân.

Ước thực hiện 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 29.150.755 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,43%  và so với kế hoạch năm đạt 82,76%.

Hiện nay, điều kiện kinh tế, mức sống dân cư trên địa bàn tỉnh được cải thiện đáng kể nhu cầu vui chơi, giải trí của người dân là cần thiết, không chỉ đáp ứng nhu cầu trong tỉnh mà còn có các vùng lân cận. Vì vậy, để các ngành dịch vụ của tỉnh ngày càng phát triển thì cần phải quan tâm, chú trọng đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.

Nhìn chung, ngành thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh có tốc độ tăng trưởng đều và ổn định. Tuy nhiên, chưa phát huy hết tìm năng của tỉnh nên các cấp lãnh đạo cần quan tâm hơn nữa trong công tác xây dựng kế hoạch trong thời gian tới.

5.2. Xuất nhập khẩu hàng hóa

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện tháng 9 được 83,560 triệu USD, so với tháng trước bằng 93,15% và so với cùng kỳ năm trước bằng 87,98%. Trong đó, xuất khẩu được 59,512 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 84,60% và so với cùng kỳ năm trước bằng 90,98%. Nguyên nhân giá trị xuất khẩu hàng hóa trực tiếp giảm so với tháng trước là do giá trị xuất khẩu các mặt hàng thủy sản chế biến các loại giảm. Doanh nghiệp có giá trị giảm nhiều nhất là Minh Phú, bằng 77,01% so với tháng trước, các doanh nghiệp khác còn lại cũng có giảm nhưng không nhiều. Vì vậy, giá trị xuất khẩu giảm. Nhập khẩu được 24,048 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 124,24% và so với cùng kỳ năm trước bằng 81,33%.

Ước thực hiện tháng 10, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 85,522 triệu USD, so với tháng trước bằng 102,35% và so với cùng kỳ năm trước bằng 87,76%. Trong đó, xuất khẩu ước thực hiện được 62,593 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 105,18% và so với cùng kỳ năm trước bằng 82,76%. Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu tăng so với tháng trước là do trong thời gian tới các doanh nghiệp xuất khẩu trên địa bàn có nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển kinh doanh. Bộ thương mại Hoa Kỳ vừa công bố mức thuế chống bán phá giá áp dụng trên mặt hàng Tôm chế biến các loại của Việt Nam thấp hơn gấp 5 lần so với mức sơ bộ ban đầu. Do đó, trong thời gian tới các doanh nghiệp chế biến thủy sản có thể tận dụng lợi thế để tăng cường tìm kiếm ký các đơn hàng xuất khẩu và đẩy mạnh thu mua nguyên liệu để phục vụ chế biến xuất khẩu vào thị trường lớn này. Ngoài ra, các thị trường nhập khẩu lớn khác như: Nhật Bản, EU, Hàn Quốc cũng được dự đoán là sẽ có sự tăng trưởng trong thời gian tới, các thị trường này có thể sẽ tăng nhập khẩu để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong các dịp lễ hội cuối năm. Vì vậy, dự đoán trong tháng 10 xuất khẩu có thể sẽ tăng. Nhập khẩu ước thực hiện được 22,929 triệu USD so với tháng trước bằng 95,35% và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,10%.

Ước thực hiện 10 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 852,024 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 98,76% và so với kế hoạch năm đạt 80,38%. Chia ra: Xuất khẩu ước thực hiện được 578,234 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 104,82% và so với kế hoạch năm đạt 80,76%. Nhập khẩu ước thực hiện được 225,203 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 87,06% và so với kế hoạch năm đạt 83,41%. Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 755 ngàn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 20,49% và so với kế hoạch năm đạt 18,88%. Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 47,832 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 98,15% và so với kế hoạch năm đạt 68,33%.

Hiện nay, nhìn chung ngành xuất khẩu thủy sản trên địa bàn vẫn còn nhiều cơ hội để phát triển. Chính phủ trong thời gian vừa qua đã có những chính sách ưu đãi để thực hiện mục tiêu xây dựng ngành thủy sản phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hiệu quả và đồng bộ. Ngoài ra, việc thực hiện ký kết các Hiệp định Thương mại tự do cũng sẽ mang lại lợi thế lớn cho xuất khẩu nhóm hàng thủy sản phát triển mạnh. Do đó, đây được xem là một cơ hội thuận lợi để doanh nghiệp có thể mở rộng quy mô sản xuất, mở rộng thị trường tìm kiếm cơ hội hợp tác và xuất khẩu sang nhiều nước hơn nữa trong thời gian tới, đồng thời có thể chủ động hơn trong việc đầu tư đổi mới các trang thiết bị thực hiện ứng dụng vào quá trình sản xuất để giảm giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới, đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu, tiến tới mục tiêu làm gia tăng giá trị xuất khẩu chung.

5.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện tháng 9 được 98.668 triệu đồng, so với tháng trước bằng 123,20% và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,39%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 57.812 triệu đồng, so với tháng trước bằng 126,43% và so với cùng kỳ năm trước bằng 116,66%. Đường sông được 40.856 triệu đồng, so với tháng trước bằng 118,91% và so với cùng kỳ năm trước bằng 89,06%.

Ước thực hiện 10 tháng, tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 975.202 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 106,22%. Trong đó, đường bộ được 563.320 triệu đồng, bằng 118,55% so với cùng kỳ năm trước. Đường sông được 411.882 triệu đồng, bằng 92,99% so với cùng kỳ năm trước.

Thực hiện tháng 9, hàng hoá vận chuyển được 717.620 tấn (32.659.820 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 117,82% (121,96%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 90,33% (93,15%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 191.950 tấn (9.870.390 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 95,88% (88,71%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,20% (89,28%). Đường sông thực hiện được 525.670 tấn (22.789.430 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 128,56% (145,59%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 91,14% (94,93%).

Ước thực hiện tháng 10, toàn tỉnh vận chuyển được 725.720 tấn hàng hóa các loại (33.300.020 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,13% (101,96%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 91,26% (94,90%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 186.880 tấn (9.435.170 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 97,36% (95,59%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,73% (89,51%). Đường sông thực hiện được 538.840 tấn (23.864.850 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 102,51% (104,72%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,17% (97,21%).

Ước thực hiện 10 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 8.176.489 tấn (364.000.715 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 104,29% (126,82%). Chia ra: Đường bộ ước thực hiện được 2.843.042 tấn (172.355.144 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 131,44% (208,50%). Đường sông ước thực hiện được 5.333.447 tấn (191.645.571 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 93,94% (93,78%).

Thực hiện tháng 9, toàn Tỉnh vận chuyển được 9.520.470 lượt hành khách (56.507.240 HK.Km), so với thực hiện tháng trước bằng 106,59% (100,44%) và so với cùng kỳ năm trước bằng bằng 101,49% (102,10%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.403.220 lượt hành khách (42.954.740 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 98,78% (98,57%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,91% (98,74%). Đường sông vận chuyển được 2.117.250 lượt hành khách (13.552.500 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 147,33% (106,88%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,65% (114,44%).

Ước thực hiện tháng 10, toàn tỉnh thực hiện được 9.966.960 lượt hành khách (58.336.230 HK.km), so với tháng trước bằng 104,69% (103,24%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,17% (106,25%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.673.190 lượt hành khách (44.191.760 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 103,65% (102,88%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,88% (99,82%). Đường sông vận chuyển được 2.293.770 lượt hành khách (14.144.470 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 108,34% (104,37%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 114,98% (132,99%).

Ước thực hiện 10 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 94.521.492 hành khách (577.392.033 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 103,67% (105,33%). Chia ra: Đường bộ ước thực hiện được 78.570.051 hành khách (447.753.558 HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 102,01% (102,26%). Đường sông ước thực hiện được 15.951.441 hành khách (129.638.475 HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 112,67% (117,54%).

  1. Các vấn đề văn hóa và xã hội, y tế và giáo dục, khoa học công nghệ và tai nạn giao thông

6.1. Tình hình văn hóa                                            

Ngành Văn hóa - thể thao và du lịch đã thực hiện 1.670m2 panô các loại, 47 băng rol, treo và tháo gỡ 2.050 cờ các loại, 104 lượt phóng thanh cổ động, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành.

Trong tháng, đài Phát thanh và truyền hình tỉnh Hậu Giang tập trung tuyên truyền các hoạt động ngày lễ lớn của đất nước và địa phương như:  Ngày Sân khấu Việt Nam 12/8(AL);  ngày quốc tế người cao tuổi 1/10, Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, ngày truyền thống Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam 15/10, thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam 20/10,… tuyên truyền Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII; hội nghị Diễn đàn kinh tế thế giới ASEAN 2018, các hoạt động chuẩn bị kỷ niệm 15 năm thành lập Tỉnh. Đài đã sản xuất 553 tin; 245 phóng sự, 10 phỏng vấn và 03 cầu truyền thanh.

Đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức giao lưu trong và ngoài tỉnh 03 cuộc; xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 91 buổi, thu hút 44.000 lượt người xem.Tổ chức Hội thi “Các hoạt động tuyên truyền cổ động” tỉnh Hậu Giang năm 2018, từ ngày 16 đến 17 tháng 10 năm 2018. Trong tháng, Đoàn Ca múa nhạc dân tộc tỉnh đã xây dựng và biểu diễn văn nghệ phục vụ nông thôn và các sở ban ngành trong tỉnh với 09 suất diễn phục vụ trên 5.400 lượt người xem.

Trưng bày sách tại chỗ 3 lần trên 80 quyển, bao gồm: Sách kỷ niệm ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam 20/10; sách chuyên đề cải cách hành chính và sách mới các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, pháp luật.... Trong tháng, hệ thống thư viện tỉnh và huyện đã phục vụ 87.380 lượt người với 174.153 lượt sách báo, truy cập máy tính; cấp mới 641 thẻ bạn đọc.

6.2. Giải quyết việc làm và đào tạo nghề

Trong tháng, sở Lao động - thương binh và xã hội đã giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 1.712 lao động, đạt 99,20% chỉ tiêu kế hoạch năm 2018. Trong đó, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 10 lao động, đạt tỷ lệ 107,50% so với kế hoạch đề ra.

Sở Lao động - thương binh và xã hội đã ký kết hợp đồng cung ứng lao động với 124 doanh nghiệp, với số lao động được đề nghị cung ứng là 15.009 lao động. Bằng nhiều hình thức hỗ trợ tuyển dụng, Sở đã hỗ trợ tuyển dụng được 6.798 lao động cho các doanh nghiệp. Trong đó, đối với 05 doanh nghiệp được ký kết tại “Hội nghị hỗ trợ, đào tạo, tuyển dụng lao động cho doanh nghiệp” được tổ chức vào ngày 14/3/2018, số lao động đề nghị cung ứng là 10.068 lao động.  Đến thời điểm này đã cung ứng được 5.075 lao động (Công ty Cổ phần May Nhật Thành 215 lao động; Công ty Cổ phần May Nhà Bè - Hậu Giang 825 lao động; Công ty Cổ phần thủy sản Minh Phú 1.314lao động; Công ty TNHH Lạc Tỷ II 2.721lao động …); đối với 119 doanh nghiệp còn lại, số lao động đề nghị cung ứng là 4.941 lao động, đến nay đã cung ứng được 1.723 lao động.

Số lao động được đào tạo nghề đến thời điểm hiện tại được 7.043 người, đạt 108,4% so với kế hoạch. Trong đó, đào tạo trình độ Trung cấp, Cao đẳng được 594 người, đạt 112% so với kế hoạch (Trường Trung cấp Kỹ thuật – Công nghệ được 233 người; Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật được 62 người; trường Trung cấp Luật được 152 người; trường Cao đẳng Cộng đồng tỉnh Hậu Giang được 147 người); đào tạo nghề cho lao động nông thôn (theo Đề án 1956) được 89 lớp với 2.210 người, đạt 63,10% so với kế hoạch; đào tạo nghề cho thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an được 77 người, đạt 15,4% so với kế hoạch.

6.3. An sinh xã hội và chính sách người có công

Theo báo cáo tháng 10 của Sở Lao động – thương binh và xã hội, tỉnh đã trợ cấp thường xuyên cho 8.222 lượt người có công với cách mạng với số tiền trên 12,26 tỷ đồng. Tổ chức đưa, đón 53 người có công đi điều dưỡng tập trung tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về nhà ở đến thời điểm này đã triển khai xây dựng và sửa chữa được 2.176 căn nhà tình nghĩa với số tiền trên 62,66 tỷ đồng. Trong đó, xây mới 957 căn, sửa chữa 1.219 căn. Nhà ở từ nguồn vận động từ đầu năm 2018 đến nay, đã vận động xây dựng và sửa chữa được 113 căn nhà tình nghĩa với số tiền trên 4,49 tỷ đồng. Trong đó, xây mới 78 căn; sửa chữa 35 căn.

Trợ cấp thường xuyên cho 28.604 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền trên 10,66 tỷ đồng, hỗ trợ mai táng phí cho 109 trường hợp với số tiền trên 588 triệu đồng, hỗ trợ đột xuất cho 21 trường hợp với số tiền trên 212 triệu đồng. Tổ chức 08 lớp tập huấn bồi dưỡng nghiệp vụ về công tác Bảo trợ xã hội năm 2018 với trên 1.000 đại biểu tham dự.

6.4. Y tế và Giáo dục

Theo báo cáo của Sở y tế trong tháng 10 có 56 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, tăng 23 ca so với tháng trước. Cộng dồn 10 tháng có 200 ca mắc bệnh, giảm 168 ca so với cùng kỳ. Bệnh tay chân miệng có 104 ca mắc mới, tăng 56 ca so với tháng trước. Cộng dồn có 334 ca mắc bệnh , giảm 193 ca so với cùng kỳ. Bệnh ho gà có 01 ca, cộng dồn có 15 ca. Bệnh quai bị không có ca mắc mới, cộng dồn có 14 ca. Bệnh dịch lạ chưa phát hiện ra trên địa bàn tỉnh. Nhờ sự phát hiện sớm và điều trị kịp thời nên không có ca tử vong do các bệnh truyền nhiễm. Chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 1.007 trẻ, cộng dồn được 9.963 trẻ, đạt 84,58%.

Số ca nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng là 09 ca, cộng dồn có 66 ca tăng 15 ca so với cùng kỳ, số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng có 01 ca, cộng dồn có 27 ca, giảm 06 ca so với cùng kỳ. Số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 01 ca, cộng dồn là 12 ca, giảm 01 ca so với cùng kỳ. Số bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc ARV là 664 ca; số bệnh nhân điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone là 52 ca.

Thực hiện chương trình Vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) trong tháng sở y tế kết hợp với bệnh viện đa khoa tỉnh Hâu Giang đã tổ chức kiểm tra, thanh tra 86 cơ sở. Trong đó, đoàn liên ngành là 01 cơ sở, tuyến huyện và xã là 85 cơ sở. Kết quả kiểm tra có 209 cơ sở vi phạm. Có 13 cơ sở bị phạt, hủy sản phẩm đối với 04 cơ sở và nhắc nhở đối với 192 cơ sở. Số tiền xử phạt là 18,9 triệu đồng. Công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường với nhiều biện pháp quyết liệt nên các trường hợp ngộ độc thực phẩm đã không xảy ra trên địa bàn tỉnh.

Trong tháng 10, phòng Giáo dục mầm non thành lập đoàn kiểm tra một số cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập trên địa bàn huyện Châu Thành A và thị xã Ngã Bảy; phối hợp các phòng tổ chức cán bộ, quản lý cơ sở vật chất và kế hoạch tài chính tổ chức thẩm định trường mầm non đăng ký chuẩn quốc gia năm học 2018-2019 ở huyện Phụng Hiệp; tổ chức chuyên đề "Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học" tại đơn vị Trường Hoa Trà Mi, thành phố Vị Thanh.

Trong tháng 10, phòng Giáo dục tiểu học phối hợp với các phòng chuyên môn tổ chức thành công hội nghị tổng kết 20 năm xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 1997-2017; tiếp tục phối hợp với Ban An toàn giao thông triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình trao tặng Mũ bảo hiểm cho trẻ em năm 2018 với chủ đề “Giữ trọn ước mơ” của Ban An toàn giao thông quốc gia phối hợp Honda Việt Nam thực hiện; tổ chức các chuyên đề, thao giảng năm học 2018- 2019 tại huyện Châu Thành, huyện Long Mỹ và thị xã Ngã Bảy; phối hợp các Phòng chuyên môn và chức năng chuẩn bị công tác kiểm tra kỹ thuật công tác phổ cập giáo dục, xóa mù chữ năm 2018 các huyện, thị xã, thành phố.

6.5. Khoa học và công nghệ

Sở Khoa học và công nghệ phối hợp với Sở Tài chính thẩm định kinh phí dự án “Quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể Quýt đường Long Trị dùng cho sản phẩm quýt đường xã Long Trị, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang”. Lũy kế từ đầu năm đến nay, sở đã xét duyệt 11 đề tài, dự án; nghiệm thu 08 đề tài, dự án; kiểm tra tiến độ 14 đề tài, dự án; thẩm tra kinh phí quyết toán 02 đề tài, dự án và ký hợp đồng thực hiện 03 đề tài, dự án.

Thực hiện Chương trình “Hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2017 - 2020” (gọi tắt là CT824), tính từ đầu năm đến nay đã thực hiện 5 trên 8 huyện, thị xã, thành phố. Dự kiến tổ chức tuyên truyền và phổ biến nội dung CT824 tại thị xã Ngã Bảy. Phối hợp thực hiện 03 dự án trong CT824: Một là “Xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể “Mãng cầu HG” dùng cho sản phẩm mãng cầu trong tỉnh Hậu Giang”; Hai là “Quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể Quýt đường Long Trị”; ba là “Xây dựng và quản lý chỉ dẫn địa lý “Khóm cầu đúc Hậu Giang” cho sản phẩm khóm của tỉnh Hậu Giang”.

Triển khai thanh tra chuyên đề năm 2018 về tiêu chuẩn đo lường chất lượng trong kinh doanh xăng dầu và việc sử dụng mã số mã vạch trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Đoàn đã kiểm tra 24 doanh nghiệp tại các huyện trên địa bàn tỉnh, trong đó có các vi phạm như: Nhân viên trực tiếp bán hàng chưa tập huấn nghiệp vụ bảo vệ môi trường và phòng cháy chữa cháy, chưa trang bị bộ bình đong đối chứng (02 doanh nghiệp), có 02 doanh nghiệp biển hiệu chưa đúng với thương nhân đầu mối xăng dầu, 01 doanh nghiệp chưa thực hiện dán tem niêm phong công tơ tổng, niêm yết giá không đúng với giá bán thực tế (01 doanh nghiệp); kiểm tra đo lường 93 cột đo (63 cột đo xăng, 30 cột đo dầu) chưa phát hiện vi phạm về đo lường. Đoàn thanh tra đã lấy 05 mẫu xăng RON 95 để gửi đi kiểm nghiệm về chất lượng.

Trong tháng 10, Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng đã kiểm định định kỳ 317 lượt phương tiện đo các loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh gồm 236 cân đồng hồ lò xo các loại và  81 cột đo xăng dầu. Lũy kế từ đầu năm đến nay kiểm định định kỳ 3.883 lượt phương tiện đo các loại trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Trong đó, có 941 cân đồng hồ lò xo, 86 cân phân tích, 65 cân kỹ thuật, 25 cân bàn điện tử, 16 cân bàn cơ khí, 27 cân đĩa, 02 cân đĩa điện tử, 04 quả cân, 04 bình đong, 620 đồng hồ nước, 1.176 công tơ điện một pha và 917 cột đo xăng dầu.

Báo cáo trước Hội đồng khoa học và công nghệ cấp huyện 06 dự án: Thứ nhất là xây dựng mô hình hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật trồng rau màu ứng dụng công nghệ cao đạt tiêu chuẩn GlobalGAP phục vụ phát triển nền nông nghiệp thông minh tại huyện Châu Thành A; thứ hai là xây dựng thử nghiệm mô hình nuôi cua đồng và cá chạch lấu quy mô nông hộ tại huyện Châu Thành A; thứ ba là xây dựng mô hình ứng dụng Khoa học kỹ thuật trồng và chế biến sau thu hoạch rau đắng đất Polygonum aviculare L tại huyện Phụng Hiệp; thứ tư là xây dựng mô hình áp dụng tiêu chuẩn GlobalGAP để phát triển vùng chuyên canh cây khóm Queen “Cầu Đúc” ở Hậu Giang; thứ năm là xây dựng mô hình hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật trồng dưa lưới đạt tiêu chuẩn GlobalGAP tại huyện Phụng Hiệp; thứ sáu là xây dựng mô hình ứng dụng khoa học kỹ thuật thực hành chuỗi giá trị Mãng cầu xiêm đạt chứng nhận GlobalGAP ở huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

6.6. An toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 10, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 06 vụ tai nạn giao thông, chỉ tập trung ở đường bộ. So với tháng trước tăng 02 vụ và so với cùng kỳ năm trước tăng 04 vụ tập trung ở đường bộ. Trong đó, có tổng cộng 06 người chết, so với tháng trước tăng 03 người và so với cùng kỳ năm trước tăng 06 người. Tổng số có 01 người bị thương, so với tháng trước và cùng kỳ năm trước giảm 01 người.

Trong 10 tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 89 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 87 vụ, đường sông 02 vụ), làm chết tổng cộng 79 người và bị thương 37 người, tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước tăng 02 vụ tập trung ở đường thủy, số người chết tăng 20 người và số người bị thương giảm 04 người, chỉ tập trung ở đường bộ ./.