Tháng 11
13:35 04/12/2018

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 10, ước tháng 11 và 11 tháng năm 2018

  1. Tài chính - Tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 11 được 525.969 triệu đồng, lũy kế được 8.812.251 triệu đồng, đạt 136,95% dự toán Trung ương giao, đạt 103,67% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 230.000 triệu đồng, lũy kế được 3.115.491  triệu đồng, đạt 113,91% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Thu trợ cấp từ Ngân sách Trung ương được 295.969 triệu đồng, lũy kế được 3.514.007 triệu đồng, đạt 95,01% dự toán Trung ương, đạt 94,65% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi ngân sách nhà nước tháng 11 được 1.439.323 triệu đồng, luỹ kế được 7.526.569 triệu đồng, đạt 123,86% dự toán Trung ương giao, đạt 92,42% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi xây dựng cơ bản được 856.561 triệu đồng, luỹ kế được 3.689.775 triệu đồng, đạt 155,22% dự toán Trung ương giao, đạt 98,78% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chi thường xuyên được 572.762 triệu đồng, luỹ kế được 3.669.863 triệu đồng, đạt 104,27% dự toán Trung ương, đạt 87,34% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 31 tháng 10, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 11.784 tỷ đồng, giảm 1,26% so với cuối tháng 9, tương ứng tăng 11,13% so với cuối năm 2017. Vốn huy động đáp ứng được 54,45% cho hoạt động tín dụng. Dự báo đến ngày 30 tháng 11, tổng vốn huy động trên địa bàn được 11.934 tỷ đồng, tăng 1,27% so với cuối tháng 10.

Đến ngày 31 tháng 10, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn được 21.640 tỷ đồng, giảm 0,36% so với cuối tháng 9, tương ứng tăng 7,52% so với cuối năm 2017. Ước thực hiện đến ngày 30 tháng 11, tổng dư nợ cho vay trên toàn địa bàn được 21.820 tỷ đồng, tăng 0,83% so với cuối tháng 10.

Nợ xấu đến ngày 31 tháng 10, toàn tỉnh là 655 tỷ đồng, chiếm 3,03% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 31 tháng 11, nợ xấu toàn địa bàn được kiểm soát ở mức dưới 3% trên tổng dư nợ.

  1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16 tháng 11, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2018 là 17.575.476 triệu đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.065.476 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.210.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.300.000 triệu đồng.

Vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 10 là 1.350.770 triệu đồng, bằng 98,20% so với tháng trước và bằng 106,24% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 168.500 triệu đồng, bằng 109,99% so với tháng tr­ước và bằng 94,24% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 90.360 triệu đồng, bằng 104,46% so với tháng tr­ước và bằng 137,35% so với cùng kỳ năm tr­ước.

           - Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.091.910 triệu đồng, bằng 96,13% so với tháng tr­ước và bằng 106,33% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 11 là 1.376.360 triệu đồng, bằng 108,75% so với cùng kỳ năm trước và bằng 101,89% so với tháng trước. Nguyên nhân ước tháng 11/2018 thực hiện vốn đầu tư tăng so với tháng trước là do:

- Thời tiết khô ráo, giảm mưa tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị thi công tập trung đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh.

- Sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo các cấp, các sở, ngành và các chủ đầu tư; các giải pháp kịp thời và hợp lý (phân nguồn, chuyển vốn giữa các công trình) với quyết tâm thực hiện hoàn thành vốn đầu tư theo kế hoạch đã đề ra.

- Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh phối hợp với các ngành chức năng đẩy nhanh tiến độ đền bù, giải phóng mặt bằng và bàn giao các Khu tái định cư ở các dự án theo đúng thời gian quy định.     

Ước tính 11 tháng, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 16.191.635 triệu đồng, bằng 105,36% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 92,13% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.908.365 triệu đồng, bằng 122,06% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 92,39% so với kế hoạch năm.       

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 1.111.690 triệu đồng, bằng 111,54% so với cùng kỳ năm trước và đạt 91,88% so với kế hoạch năm.          

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 13.171.580 triệu đồng, bằng 102,84% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 92,11% so với kế hoạch năm.

  1. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

 Diện tích xuống giống lúa hè thu được 77.075 ha, đạt 103,58%  so với kế hoạch tỉnh và bằng 100,11%  so với kỳ năm trước. Hiện nay,trên địa bàn toàn tỉnh, lúa hè thu đã thu hoạch xong, chính thức năng suất được 60,13 tạ/ha, giảm 0,06% (bằng 0,03 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng lúa được 463.452 tấn, tăng 0,05% (bằng 237 tấn) so với sản lượng lúa hè thu năm trước. Sản lượng lúa hè thu tăng ít chủ yếu là do diện tích tăng, vì sau khi thu hoạch xong vụ lúa đông xuân, thời tiết, điều kiện tự nhiên khá thuận lợi nên nông dân tranh thủ xuống giống vụ hè thu làm tăng diện tích hơn so với cùng kỳ.

Lúa thu đông, toàn tỉnh đã xuống giống được 39.573 ha, lúa đang ở giai đoạn đẻ nhánh đến trổ chín cho thu hoạch. Năm nay, do mưa nhiều, lũ về sớm nước dâng cao, ngập úng dẫn đến toàn tỉnh diện tích gieo trồng chỉ đạt 80,76% kế hoạch (kế hoạch của tỉnh là 49.000 ha), so với cùng kỳ giảm 10,83% (bằng 4.805 ha). Sơ bộ năng suất thu hoạch ước được 52,07 tạ/ha, tăng 1,33% (bằng 0,68 tạ/ha) so với cùng kỳ. Năng suất tăng do phù sa bồi đắp, kỹ thuật chăm sóc của nhà nông ngày càng được chú trọng tốt hơn. Sơ bộ sản lượng lúa ước được 208.068 tấn, giảm 9,64% (bằng 21.991 tấn) so với vụ thu đông năm trước. Sản lượng giảm chủ yếu là do diện tích giảm vì thời tiết mưa nhiều không thuận lợi cho việc xuống giống của nhà nông . 

Bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại trên lúa thu đông như: Rầy nâu, sâu cuốn lá, đạo ôn lá và bệnh vàng lùn - lùn xoắn lá ở giai đoạn đẻ nhánh, đối với lúa ở giai đoạn trổ đến trổ chín chú ý bệnh đạo ôn cổ bông, lem lép hạt, cần phải thăm đồng thường xuyên. Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đang được ngăn chặn kịp thời.  

Diện tích ngô gieo trồng toàn tỉnh ước được 3.195 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 0,49% (bằng 16 ha). Do thời tiết mưa nhiều, nông dân xuống giống trễ hơn so cùng kỳ năm trước. Diện tích ngô thu hoạch được 2.484 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,24% (bằng 6 ha). Sản lượng ước được 12.313 tấn, tăng 5,61% (bằng 654 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng ngô tăng do người dân áp dụng kỹ thuật vào chăm sóc và chọn giống có năng suất cao hơn, kháng được sâu bệnh nên sản lượng tăng.

Cây mía niên vụ 2018 đã xuống giống được 10.582 ha, giảm 3,1% (bằng 339 ha) so với cùng kỳ. Mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, huyện Long Mỹ, Thành phố Vị Thanh và Thị xã Ngã Bảy, hiện mía đã thu hoạch được 5.612 ha, năng suất đã thu hoạch ước được 975,51 tạ/ha. 

Tình hình chăn nuôi trong tháng 11, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau: Đàn lợn (heo) có 149.328 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,22% (bằng 326 con). Đàn bò có 3.611 con, giảm 7,55% ( bằng 295 con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn gia cầm có 4.139 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,99% (bằng 80 ngàn con). Trong đó, đàn gà có 1.275 ngàn con, tăng 1,45% (bằng 18 ngàn con) so cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 11 tháng đầu năm: Thịt lợn được 25.179 tấn, so với cùng kỳ giảm 0,07% (bằng 17 tấn), sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng được 187 tấn, so với cùng kỳ năm trước giảm 2,28% (bằng 4 tấn), thịt gia cầm được 8.516  tấn, so với cùng kỳ tăng 2,26% (bằng 188 tấn), sản lượng trứng thu hoạch được 112.549 ngàn quả, tăng 2,82% (bằng 3.087 ngàn quả) so với cùng kỳ.

Diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh 11 tháng, ước tính được 7.533 ha, tăng 4,49% (bằng 324 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích nuôi cá được 7.371 ha, tăng 4,58% (bằng 323 ha) so với cùng kỳ. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng là do diện tích nuôi các loại cá khác ở ruộng không xuống giống vụ thu đông (các loại cá trắng) tăng. Nguyên nhân là do lượng mưa năm nay nhiều nên nước tự nhiên vào ruộng cao hơn năm trước thuận lợi cho việc nuôi loại cá này.

Tổng sản lượng thủy sản 11 tháng đầu năm, toàn tỉnh ước được 62.649 tấn, tăng 3,75% (bằng 2.264 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá được 61.117 tấn, tăng 3,82% (bằng 2.248 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 60.045 tấn, tăng 3,95% (bằng 2.279 tấn). Trong đó, sản lượng cá nuôi được 58.995 tấn, tăng 3,98% (bằng 2.260 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng thuỷ sản thu hoạch tăng so với cùng kỳ là do diện tích cá nuôi trên ruộng tăng đặt biệt giá bán cao hơn năm trước nên tác động đến sự tập trung đầu tư của hộ nuôi thủy sản.

Nhìn chung, tình hình sản xuất nông nghiệp trong 11 tháng qua thuận lợi hơn so với cùng kỳ năm trước, các loại dịch bệnh trên gia súc gia cầm chưa xảy ra trong địa bàn tỉnh. Ngành thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm, tăng cường công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y đảm bảo an toàn thực phẩm.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Trong những năm gần đây, lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đã có nhiều dự án mới đi vào hoạt động, với nhiều chính sách hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, cộng đồng doanh nghiệp trong tỉnh đã không ngừng lớn mạnh. Đến nay, toàn tỉnh có trên 200 doanh nghiệp và hơn 4.644 cơ sở cá thể hoạt động sản xuất công nghiệp, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội.

Giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá so sánh 2010, thực hiện tháng 10 được 2.273.266 triệu đồng, tăng 12,90% so với cùng kỳ năm trước. Theo giá thực tế, thực hiện tháng 10 được 3.242.187 triệu đồng, tăng 19,51% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ năm trước là do các doanh nghiệp hoạt động ổn định, mặc dù tình hình tiêu thụ vẫn chưa hết khó khăn nhưng các doanh nghiệp vẫn duy trì ổn định giá trị sản xuất. Ngoài ra, tăng một phần là do chính sách nhà nước khuyến khích “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất các mặc hàng tiêu thụ nội địa, tăng sản lượng để phục vụ tiêu dùng trong nước dịp Noel và Tết Dương Lịch năm 2019 sắp tới

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 11, tính theo giá so sánh 2010, được 2.400.436 triệu đồng, tăng 5,59% so với tháng trước và tăng 24,98 % so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 3.472.323 triệu đồng, tăng 7,10% so với tháng trước và tăng 27,42% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do Công ty TNHH MTV bê tông HAMACO Hậu Giang, tăng sản lượng sản xuất để hoàn thành các hợp đồng đã ký trước đó; công ty TNHH Hóa Nông Lúa Vàng Hậu Giang, với sản phẩm chính là thuốc bảo vệ thực vật, tăng sản lượng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước, (Hậu Giang và các tỉnh lân cận đang chuẩn bị gieo sạ vụ lúa Đông xuân), nên làm tăng đột biến giá trị ở các ngành này nói riêng và giá trị của toàn tỉnh nói chung.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 11 tháng, tính theo giá so sánh 2010, được 22.950.680 triệu đồng, tăng 14,99% so với cùng kỳ năm trước và đạt 98,29% so với kế hoạch năm. Tính theo giá thực tế, được 31.683.668 triệu đồng, tăng 17,12% so với cùng kỳ năm trước và đạt 104,42% so với kế hoạch năm. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được coi là điểm sáng và là động lực tăng trưởng cho sản xuất công nghiệp trong suốt thời gian vừa qua. Trong đó, những ngành chiếm tỷ trong lớn và có tốc độ tăng cao so với mức tăng chung của tỉnh như; sản xuất chế biến thực phẩm (chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn ngành công nghiệp 46,41% và tăng 9,23% so với cùng kỳ); sản xuất đồ uống (chiếm tỷ trọng 2,42% và tăng 23,20% so với cùng kỳ); sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy (chiếm tỷ trọng 16,23% và tăng 35,79% so với cùng kỳ); sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (chiếm tỷ trọng 8,04% và tăng 49,24% so với cùng kỳ); sản xuất các sản phẩm từ khoán phi kim loại (chiếm tỷ trọng 3,47% và tăng 116,23% so với cùng kỳ).

Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế một số ngành

Chỉ tiêu

Giá trị 11 tháng (Triệu đồng)

11 tháng so với cùng kỳ (%)

Ngành công nghiệp chế biến

31.367.467

117,18

Sản xuất điện, khí đốt, nước nóng,  hơi nước và điều hòa không khí

162.155

110,36

Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải

154.046

113,90

Nguyên nhân tăng đột biến ở các ngành trên là do chính sách thực hiện cải cách thủ tục hành chính tinh gọn, giảm bớt các thủ tục không cần thiết, tổ chức các buổi đối thoại nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp của UBND tỉnh và các Sở, ban ngành có liên quan, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả như: Công ty TNHH giấy Lee & Man Việt Nam; công ty TNHH MTV Xi măng Cần Thơ - Hậu Giang; công ty TNHH MTV bê tông HAMACO Hậu Giang; công ty Cổ Phần dầu khí Bình Minh; công ty TNHH Hóa Nông Lúa Vàng Hậu Giang; công ty Cổ phần thủy sản Minh Phú Hậu Giang; công ty TNHH Lạc Tỷ II; công ty TNHH MTV Masan Brewery HG… các doanh nghiệp trên đã đóng góp trên 18.848,96 tỷ đồng, (theo giá thực tế) trong 11 tháng đầu năm vào các ngành này nói riêng và giá trị sản xuất của toàn tỉnh nói chung.

Tháng 10 chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 17,05% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,47%. Trong đó, ngành sản xuất cao su và plastic tăng 99,99% là ngành có chỉ số tăng rất cao trong nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 3,91% so cùng kỳ năm trước. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,41% so cùng kỳ năm trước.

Ước tính tháng 11 tăng 11,56% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,73%. Trong đó, ngành sản xuất cao su và plastic tăng 89,82%. Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 7,11% so cùng kỳ năm trước. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,52% so cùng kỳ năm trước.

So với 11 tháng đầu năm 2017, chỉ số IIP 11 tháng đầu năm 2018 tăng 14,52%, do ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 14,81%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 7,58%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,95%.

  1. 5. Thương mại và dịch vụ

5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong tháng 10 giảm so với tháng trước do đây là thời điểm bước vào mùa nước nổi, một số loại cây trồng chủ đạo đã hết mùa thu hoạch, riêng cây mía tại: Thành phố Vị Thanh, Phụng Hiệp, Ngã Bảy đang vào mùa thu hoạch nhưng giá không cao đã ảnh hưởng lớn đến thu nhập của người dân. Ngoài ra, tại một số địa phương do ảnh hưởng của triều cường, gây ra ngập lụt đã làm cho việc vận chuyển hàng hóa của các tiểu thương gặp khó khăn, sản lượng tiêu thụ hàng hóa giảm.

Thực hiện tháng 10, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 2.919.151 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 97,34% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,42%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.170.699 triệu đồng, so với tháng trước bằng 98,40% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,98%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 257.402 triệu đồng, so với tháng trước bằng 88,03% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,82%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 491.050 triệu đồng, so với tháng trước bằng 98,10% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,80%.

Ước thực hiện tháng 11, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 2.969.622 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 101,73% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,81%. Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.199.039 triệu đồng, so với tháng trước bằng 101,31% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,10%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 508.111 triệu đồng, so với tháng trước bằng 103,47% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,47%.

Bước qua tháng 11, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh tăng nhẹ so với tháng trước nguyên nhân là do giá cả hàng lương thực, thực phẩm tiếp tục tăng, nhất là hàng thực phẩm tươi sống như: Thịt heo, thịt gà, hàng hải sản, rau xanh… Bên cạnh đó, đây là thời điểm sắp bước vào vụ mùa gieo trồng chính trong năm, nên nhóm hàng đồ dùng, nhóm vật tư nông nghiệp, giống cây trồng được tiêu thụ mạnh. Ngoài ra, thời điểm này các doanh nghiệp bắt đầu chuẩn bị hàng hóa để phục vụ cho lễ Noel, Tết dương lịch, Tết Nguyên đán Kỷ Hợi nên thương mại sẽ tăng trong những tháng cuối năm. Doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng cũng có xu hướng tăng hơn so với tháng trước tuy nhiên mức tăng cũng không đáng kể, nhu cầu trong dân không có nhiều biến động, trong tháng không diễn ra các sự kiện nổi bậc, nguyên nhân tăng chủ yếu là do thời tiết thuận lợi cho kinh doanh.

Ước thực hiện 11 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 32.116.542 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,63%  và so với kế hoạch năm đạt 91,18%.

Nhìn chung, ngành thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh có tốc độ tăng trưởng đều và ổn định. Tuy nhiên, chưa phát huy hết tìm năng của tỉnh nên các cấp lãnh đạo cần quan tâm hơn nữa trong công tác xây dựng kế hoạch trong thời gian tới.

5.2. Xuất nhập khẩu hàng hóa

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện tháng 10 được 96,189 triệu USD, so với tháng trước bằng 115,11% và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,71%. Chia ra: Xuất khẩu được 59,097 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 99,30% và so với cùng kỳ năm trước bằng 78,14%. Nguyên nhân giảm so với tháng trước là do giá trị xuất khẩu mặt hàng Giày dép và rau quả các loại giảm, chỉ bằng 78,84% so với tháng trước, các nhóm hàng xuất khẩu khác còn lại vẫn có giá trị ổn định. Vì vậy, giá trị xuất khẩu trong tháng bị giảm. Nhập khẩu được 37,092 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 154,24% và so với cùng kỳ năm trước bằng 170,02%. Nguyên nhân tăng cao so với cùng kỳ là do trên địa bàn huyện Châu Thành và Châu Thành A có một số doanh nghiệp mới phát sinh giá trị nhập khẩu trong những tháng cuối năm. Vì vậy, kim ngạch tăng nhiều so với cùng kỳ.

Ước thực hiện tháng 11, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 97,183 triệu USD, so với tháng trước bằng 101,03% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,28%. Chia ra: Xuất khẩu ước thực hiện được 62,365 triệu USD so với thực hiện tháng trước bằng 105,53% và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,20%. Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu tăng so với tháng trước là do vào những tháng cuối năm ở các nước phương tây và các thị trường nhập khẩu lớn của Việt Nam như: Nhật Bản, Mỹ, Canada… thường diễn ra nhiều lễ hội. Do đó, để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong các dịp lễ hội, các thị trường này có thể sẽ tăng sản lượng nhập khẩu các loại thực phẩm thủy sản tươi sống và cá loại thực phẩm rau quả. Vì vậy, dự đoán trong tháng 11 giá trị xuất khẩu có thể sẽ tăng. Nhập khẩu ước thực hiện được 34,818 triệu USD so với tháng trước bằng 93,87% và so với cùng kỳ năm trước bằng 142,31%.

Ước thực hiện 11 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 964,386 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 111,78% và so với kế hoạch năm đạt 90,98%. Trong đó, xuất khẩu ước thực hiện được 637,103 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 103,68% và so với kế hoạch năm đạt 88,98%. Nhập khẩu ước thực hiện được 274,184 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 96,84% và so với kế hoạch năm đạt 101,5%.  Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 52,234 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 107,18% và so với kế hoạch năm đạt 74,62%.

Hiện nay, nhìn chung ngành xuất khẩu thủy sản trên địa bàn vẫn còn nhiều cơ hội để phát triển trong thời gian tới. Khi hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) chính thức được ký kết sẽ là điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp có thể dễ dàng tìm kiếm mở rộng thị trường xuất khẩu, gia tăng quy mô hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Do đó, để có thể chủ động hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngay từ bây giờ các doanh nghiệp cần có bước chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt một cách tốt nhất để khi hiệp định chính thức được ký kết và có hiệu lực thì các doanh nghiệp có thể chủ động được trong mọi tình huống, nắm bắt được nhiều cơ hội hơn trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu góp phần làm gia tăng giá trị xuất khẩu chung trên địa bàn.

5.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Tình hình vận chuyển, luân chuyển hàng hóa, hành khách trên địa bàn vẫn hoạt động ổn định và có giá trị tăng so với tháng trước. Tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện tháng 10 được 114.301 triệu đồng, so với tháng trước bằng 115,84% và so với cùng kỳ năm trước bằng 118,54%. Trong đó, đường bộ được 67.302 triệu đồng, bằng 116,42% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước bằng 133,74%. Đường sông được 46.999 triệu đồng, bằng 115,04% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,94%. Nguyên nhân là do đây là thời điểm đang bước vào vụ thu hoạch mía nên các cơ sở hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy có giá trị tăng mạnh so với tháng trước. Ngoài ra, trong tháng 10 tình hình thời tiết diễn biến thuận lợi, các ngành chức năng tăng cường chỉ đạo công tác duy tu sửa chữa các tuyến đường bị hư hại nặng gây cản trở giao thông trên địa bàn tạo điều kiện cho hoạt động vận chuyển, luân chuyển lưu thông hàng hóa của người dân được thuận lợi và có giá trị tăng trưởng ổn định trong những tháng cuối năm.

Ước thực hiện 11 tháng, tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 1.104.485 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 106,78%. Trong đó, đường bộ được 637.487 triệu đồng, bằng 119,12% so với cùng kỳ năm trước. Đường sông được 466.998 triệu đồng, bằng 93,56% so với cùng kỳ năm trước.

 Vận chuyển luân chuyển hành khách thực hiện tháng 10, toàn tỉnh vận chuyển được 9.872,11 nghìn lượt hành khách (HK) (57.917,59 nghìn HK.Km), so với thực hiện tháng trước bằng 103,69% (102,50%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,20% (103,60%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.496,72 nghìn lượt HK (44.192,76 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 101,26% (102,88%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,60% (97,62%). Đường sông vận chuyển được 2.375,39 nghìn lượt HK (13.724,83 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 112,19% (101,27%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 119,07% (129,04%).

Ước thực hiện tháng 11, toàn tỉnh thực hiện được 10.073,78 nghìn lượt HK (59.932,51 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 102,04% (103,48%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,05% (103,26%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.552,47 nghìn lượt HK (45.717,06 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,74% (103,45%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,01% (99,87%). Đường sông vận chuyển được 2.521,31 nghìn lượt HK (14.215,45 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 106,14% (103,57%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 115,43% (115,92%).

Ước thực hiện 11 tháng, đường bộ ước thực hiện được 85.946,05 nghìn HK (493.471,62 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 101,34% (102,03%). Đường sông ước thực hiện được 18.554,37 nghìn HK (143.434,29 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 113,54% (117,04%). Toàn tỉnh vận chuyển được 104.500,42 nghìn HK (636.905,90 nghìn HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 103,32% (105,07%).

Vận chuyển luân chuyển hàng hóa thực hiện tháng 10 được 777,54 nghìn tấn (33.030,32 nghìn tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 108,35% (101,13%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,56% (94,13%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 191,60 nghìn tấn (9.576,75 nghìn tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 99,82% (97,02%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 90,97% (90,86%). Đường sông thực hiện được 585,94 nghìn tấn (23.453,75 nghìn tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 111,47% (102,92%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,54% (95,54%).

Ước thực hiện tháng 11, đường bộ thực hiện được 198,97 nghìn tấn (9.676,97 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 103,85% (101,05%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 93,91% (96,84%). Đường sông thực hiện được 600,74 nghìn tấn (24.136,99 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 102,53% (102,91%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,28% (96,88%). Toàn tỉnh vận chuyển được 799,71 nghìn tấn (33.813,96 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 102,85% (102,37%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,41% (96,87%).

Ước thực hiện 11 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 9.028,02 nghìn tấn (397.544,98 nghìn tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 104,13% (122,53%). Chia ra: Đường bộ ước thực hiện được 3.046,73 nghìn tấn (182.173,51 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 128,29% (196,61%). Đường sông ước thực hiện được 5.981,29 nghìn tấn (215.371,46 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 95,02% (92,92%).

  1. Các vấn đề văn hóa và xã hội, y tế, khoa học công nghệ và tai nạn giao thông

6.1. Tình hình văn hóa                                          

Đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức giao lưu trong và ngoài tỉnh 02 cuộc; xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 95 buổi, thu hút 48.300 lượt người xem. Trong tháng, Đoàn Ca múa nhạc dân tộc tỉnh đã xây dựng và biểu diễn văn nghệ phục vụ nông thôn và các sở ban ngành trong tỉnh với 12 suất diễn phục vụ trên 7.200 lượt người xem.

Trong tháng, hệ thống thư viện tỉnh và huyện đã phục vụ 83.345 lượt người với 170.845 lượt sách báo, truy cập máy tính; cấp mới 1.679 thẻ bạn đọc. Trưng bày sách tại chỗ 3 lần trên 80 quyển, bao gồm: Sách kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11; sách chuyên đề cải cách hành chính và Sách mới các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, pháp luật...

Triển lãm thường xuyên tại di tích Chiến thắng Chương Thiện và Trung tâm Hội nghị tỉnh phục vụ sự kiện Hội nghị tập huấn tuyên truyền, vận động nhân dân ở khu dân cư tham gia bảo vệ môi trường với các chuyên đề: Thành tựu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh tỉnh Hậu Giang năm 2017…Triển lãm ảnh phục vụ Đại hội thi đua quyết thắng năm 2018 tại Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh với 03 chuyên đề: Thành tựu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh tỉnh Hậu Giang năm 2017; triển lãm bản đồ và tư liệu “Hoàng sa, Trường sa của Việt Nam - những bằng chứng lịch sử và pháp lý”; Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng chỉnh đốn Đảng. Sưu tầm hình ảnh chuẩn bị cho triển lãm kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh Hậu Giang.

Trong tháng, đài Phát thanh và truyền hình tỉnh Hậu Giang tập trung tuyên truyền, phổ biến tốt các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chú trọng triển khai có hiệu quả Kết quả hội nghị Trung ương 7 khóa XII; kết quả kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa 14; các kỳ họp HĐND tỉnh…. tuyên truyền bằng các khẩu hiệu, các tin bài, phóng sự, phỏng vấn trên cả 2 sóng phát thanh truyền hình. Bám sát Kế hoạch số 966/KH-BTC ngày 28/5/2018 của Ban Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn tỉnh về việc tuyên truyền và tổ chức các hoạt động chào mừng kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh Hậu Giang, Đài thực hiện cao điểm tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh Hậu Giang. Mỗi tuần thực hiện 01 video clip “Con số ấn tượng” về những kết quả đã đạt được của tỉnh trong 15 năm qua trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, quốc phòng an ninh, an sinh xã hội. Chuẩn bị tổ chức truyền hình trực tiếp các sự kiện chào mừng kỷ niệm 15 năm thành lập Tỉnh: Họp mặt kỷ niệm 15 năm ngày thành lập tỉnh (01/01/2004 -01/01/2019), Chương trình “Vầng trăng cổ nhạc”, Chương trình nghệ thuật mừng năm mới 201.

6.2. An sinh xã hội và chính sách người có công

 Theo báo cáo tháng 11 của Sở Lao động – thương binh và xã hội đã tổ chức đưa, đón 74 người có công với cách mạng đi tham quan tại huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Xây dựng kế hoạch thực hiện công tác điều dưỡng người có công với cách mạng năm 2019.

 Nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ, đến thời điểm này đã triển khai xây dựng và sửa chữa được 2.300 căn nhà với số tiền trên 66 tỷ đồng (Trong đó, xây mới 1.028 căn nhà; sửa chữa 1.272 căn). Nhà ở từ nguồn vận động, từ đầu năm 2018 đến nay, đã vận động xây dựng và sửa chữa được 113 căn nhà tình nghĩa với số tiền trên 4,49 tỷ đồng (Trong đó, xây mới 78 căn, sửa chữa 35 căn).

Sở Lao động – thương binh và xã hội đã trợ cấp thường xuyên cho 28.598 lượt đối tượng bảo trợ với số tiền trên 10,69 tỷ triệu đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 147 trường hợp với số tiền trên 793 triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho 06 trường hợp với số tiền trên 56 triệu đồng. Phối hợp với các đơn vị có liên quan tiến hành rà soát, chấn chỉnh hoạt động của 08 cơ sở chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội thuộc các tổ chức tôn giáo trên địa bàn tỉnh. Qua kiểm tra, đã đề nghị 07 cơ sở lập hồ sơ đăng ký hoạt động trợ giúp xã hội theo Nghị định số 103/2017/NĐ-CP ngày 12/9/2017 của Chính phủ quy định việc thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội.

Tổ chức Lễ phát động tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới  năm 2018, với chủ đề Chủ động phòng, chống bạo lực, xâm hại phụ nữ và trẻ em” với 250 đại biểu tham dự. Trong khuôn khổ tháng hành động, đã tổ chức Hội thi tìm hiểu chính sách pháp luật về bình đẳng giới tại 12 đơn vị cấp xã; tuyên truyền 16 chuyên trang, chuyên đề về bình đẳng giới trên Báo Hậu Giang, Đài Phát thanh – Truyền hình Hậu Giang, tổng kinh phí thực hiện trên 170 triệu đồng.

Tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nội bộ và ra dân được 18 cuộc với 675 lượt người tham dự. Thực hiện kế hoạch của Ban Chỉ đạo 138 tỉnh về việc kiểm tra xử lý vi phạm về trật tự xã hội, tệ nạn xã hội. Đội, tổ kiểm tra liên ngành các cấp đã kiểm tra được 30 lượt cơ sở; phát hiện 05 cơ sở vi phạm, phạt hành chính 05 cơ sở với số tiền 7,5 triệu đồng; cho cam kết và nhắc nhở 01 cơ sở.

6.3. Y tế

Theo báo cáo của Sở Y tế, trong tháng 11 có 57 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, tăng 1 ca so với tháng trước. Cộng dồn 11 tháng, có 257 ca mắc bệnh, giảm 127 ca so với cùng kỳ. Bệnh tay chân miệng có 185 ca mắc mới, tăng 79 ca so với tháng trước. Cộng dồn có 520 ca mắc bệnh , giảm 110 ca so với cùng kỳ. Bệnh viêm gan do virut B có 03 ca mắc mới, cộng dồn có 06 ca. Bệnh dịch lạ chưa phát hiện ra trên địa bàn tỉnh. Nhờ sự phát hiện sớm và điều trị kịp thời nên không có ca tử vong do các bệnh truyền nhiễm. Chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 891 trẻ, cộng dồn được 11.189 trẻ, đạt 94,98%. Tiêm ngừa uống ván thai phụ trong tháng được 2.088 thai phụ, cộng dồn được 11.189 thai phụ, đạt 94,98% kế hoạch.

Tất cả các cơ sở y tế đã đưa phần mềm quản lý khám chữa bệnh và thanh toán Bảo hiểm y tế (BHYT). Bước đầu đã đạt được những thuận lợi như thống kê số liệu chính xác hơn; dễ dàng, nhanh chóng trong việc tổng hợp số liệu; tạo ra sự nhất quán giữa các cơ sở y tế trong việc thống kê báo cáo số liệu. Quản lý tốt thông tin bệnh nhân đồng thời báo cáo số liệu về Sở Y tế, Bộ Y tế cũng như thanh quyết toán với bảo hiểm y tế kịp thời và chính xác hơn. 100% cơ sở y tế thực hiện đẩy dữ liệu lên Cổng Bộ Y tế và Cổng giám định BHYT. 100% cơ sở y tế đều thực hiện được việc kiểm tra thông tuyến thông qua Cổng giám định BHYT. Tính đến ngày 31/10/2018 đã có 79,76% dân số trên địa bàn tỉnh tham gia BHYT.

Công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường với nhiều biện pháp quyết liệt nên các trường hợp ngộ độc thực phẩm đã không xảy ra trên địa bàn tỉnh (không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm trên 30 người/vụ). Triển khai thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Chỉ đạo các đơn vị có giường bệnh tập trung triển khai thực hiện tốt kế hoạch về đổi mới phong cách và thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh.

6.4. Khoa học và công nghệ

Sở Khoa học và công nghệ phối hợp với Sở Tài chính thẩm định kinh phí thực hiện 05 đề tài: Một là đánh giá mức độ hài lòng của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Hậu Giang; hai là xây dựng mô hình quản lý dinh dưỡng bền vững cho cây bưởi Năm Roi ở Hậu Giang; ba là xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) phục vụ quản lý nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang; bốn là đánh giá tiềm năng khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo ở Hậu Giang: Hiện trạng và giải pháp đến năm 2030; nghiên cứu, chế tạo máy gieo hạt đa năng phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang; năm là đầu tư vào Hậu Giang: Hiện trạng và giải pháp đến năm 2025.

Sở Khoa học và công nghệ  chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra về chất lượng và ghi nhãn hàng hóa thiết bị điện - điện tử gia dụng lưu thông trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2018 (theo Quyết định số 117/QĐ-TĐC ngày 29/10/2018 của Chi cục trưởng Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng (TCĐLCL)). Qua kiểm tra thực tế tại 07 cơ sở kinh doanh thiết bị điện - điện tử gia dụng trên địa bàn TP.Vị Thanh, có một số lỗi vi phạm như: Lưu chưa đầy đủ hồ sơ công bố chất lượng, giấy chứng nhận hợp quy, hóa đơn chứng từ hàng hóa, sử dụng 01 cân đồng hồ lò xo hết hiệu lực kiểm định. Đoàn kiểm tra lấy thử nghiệm chất lượng 01 mẫu bàn là điện.

Trong tháng 11, Trung tâm Kỹ thuật TCĐLCL kiểm định định kỳ 709 lượt phương tiện đo các loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh Hậu Giang gồm 324 cân đồng hồ lò xo các loại, 06 cân phân tích, 03 cân kỹ thuật, 02 cân bàn, 06 cân đĩa, 48 huyết áp kế, 235 đồng hồ nước lạnh và 85 cột đo xăng dầu. Lũy kế tính từ đầu năm đến nay kiểm định định kỳ được 4.592 lượt phương tiện đo các loại trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Trong đó, có 1.265 cân đồng hồ lò xo, 92 cân phân tích, 68 cân kỹ thuật, 25 cân bàn điện tử, 18 cân bàn cơ khí, 33 cân đĩa, 02 cân đĩa điện tử, 04 quả cân, 04 bình đong, 855 đồng hồ nước lạnh, 1.176 công tơ điện một pha, 48 huyết áp kế và 1.002 cột đo xăng dầu.

Báo cáo thông qua thuyết minh 03 dự án trước Hội đồng khoa học huyện Phụng Hiệp: Một là  “Xây dựng mô hình ứng dụng Khoa học Kỹ thuật trồng và chế biến sau thu hoạch rau đắng đất Polygonum aviculare L. tại huyện Phụng Hiệp”;  hai là “Xây dựng mô hình hỗ trợ chuyển giao khoa học kỹ thuật trồng dưa lưới đạt tiêu chuẩn GlobalGAP tại huyện Phụng Hiệp, Hậu Giang”; ba là “Xây dựng mô hình ứng dụng khoa học kỹ thuật thực hành chuỗi giá trị Mãng cầu xiêm đạt chứng nhận GlobalGAP ở huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang”.

6.5. An toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 11, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 06 vụ tai nạn giao thông, chỉ tập trung ở đường bộ. Bằng với số vụ của tháng trước (06 vụ) và so với cùng kỳ năm trước giảm 09 vụ, tập trung ở đường bộ. Trong đó, có tổng cộng 04 người chết, so với tháng trước giảm 02 người và so với cùng kỳ năm trước giảm 03 người. Tổng số có 03 người bị thương, so với tháng trước tăng 02 người và so với cùng kỳ năm trước giảm 05 người.

Trong 11 tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 95 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 93 vụ, đường sông 02 vụ), làm chết tổng cộng 83 người và bị thương 40 người, tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước giảm 07 vụ (đường thủy tăng 02 vụ, đường bộ giảm 09 vụ), số người chết tăng 17 người và số người bị thương giảm 09 người, chỉ tập trung ở đường bộ ./.