Tháng 12
20:50 02/03/2019

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

 tháng 11, ước tháng 12 và cả năm 2018

  1. Tăng trưởng kinh tế

Ước tính tốc độ phát triển giá trị tăng thêm của tỉnh Hậu Giang năm 2018 ở mức 6,20% (tính theo giá so sánh 2010). Trong đó, khu vực 1 (khu vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản) tăng 2,22%; khu vực 2 (khu vực sản xuất công nghiệp và hoạt động xây dựng) tăng 13,31%; khu vực 3 (khu vực thương mại và dịch vụ) tăng 5,22%; thuế sản phẩm tăng 5,78% so cùng kỳ. Nếu tính giá trị tuyệt đối thì giá trị tăng thêm năm 2018 ước được 32.481,83 tỷ đồng (tính theo giá thực tế) và tương ứng 23.049,43 tỷ đồng (tính theo giá so sánh 2010).

Mức độ đóng góp của từng khu vực kinh tế, trong tổng số tăng trưởng +6,20% năm 2018 thì khu vực 1 đóng góp 0,60 điểm phần trăm; khu vực 2 đóng góp 2,85 điểm phần trăm; khu vực 3 đóng góp 2,26 điểm phần trăm và thuế sản phẩm đóng góp 0,49 điểm phần trăm.

  1. Tài chính - Tín dụng

2.1. Tài chính

Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 12 được 901.324 triệu đồng, lũy kế được 9.713.575 triệu đồng, đạt 150,99% dự toán Trung ương giao, đạt 114,27% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 248.425 triệu đồng, lũy kế được 3.350.000 triệu đồng, đạt 122,49% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trung ương trợ cấp được 295.955 triệu đồng, lũy kế được 3.810.622  triệu đồng, đạt 103,04% dự toán Trung ương giao và đạt 102,64% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi ngân sách nhà nước tháng 12 được 1.486.306 triệu đồng, luỹ kế được 9.012.874 triệu đồng, đạt 148,32% dự toán Trung ương giao, đạt 110,67% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi xây dựng cơ bản được 856.561 triệu đồng, luỹ kế được 4.546.335 triệu đồng, đạt 191,26% dự toán Trung ương giao, đạt 121,71% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chi thường xuyên được 572.762 triệu đồng, luỹ kế được 4.242.625 triệu đồng, đạt 120,55% dự toán Trung ương giao và đạt 100,97% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.  

2.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 30 tháng 11, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 11.674 tỷ đồng, giảm 0,94% so với cuối tháng 10, tương ứng tăng 10,09% so với cuối năm 2017. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng thương mại nhà nước huy động được 7.926 tỷ đồng (chiếm 67,89% trên tổng huy động), khối Ngân hàng thương mại cổ phần huy động được 3.381 tỷ đồng (chiếm 28,96% trên tổng huy động), phần còn lại là của Ngân hàng chính sách xã hội và quỹ tín dụng nhân dân. Vốn huy động đáp ứng được 53,36% cho hoạt động tín dụng. Dự báo đến ngày 31 tháng 12, tổng vốn huy động trên địa bàn được 12.030 tỷ đồng, tăng 3,05% so với cuối tháng 11, tương ứng tăng 13,45% so với cuối năm 2017.

Đến ngày 30 tháng 11, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn được 21.878 tỷ đồng, tăng 1,10% so với cuối tháng 10, tương ứng tăng 8,70% so với cuối năm 2017. Trong tổng dư nợ trên địa bàn thì khối Ngân hàng thương mại nhà nước được 15.734 tỷ đồng (chiếm 71,92% trên tổng dư nợ), khối Ngân hàng thương mại cổ phần được 3.915 tỷ đồng (chiếm 17,89% trên tổng dư nợ), phần còn lại là của Ngân hàng chính sách xã hội và quỹ tín dụng nhân dân. Ước thực hiện đến ngày 31 tháng 12, tổng dư nợ cho vay trên toàn địa bàn được 22.168 tỷ đồng, tăng 1,33% so với cuối tháng 11, tương ứng tăng 10,15% so với cuối năm 2017.

Nợ xấu đến ngày 30 tháng 11, toàn tỉnh là 954 tỷ đồng, chiếm 4,36% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 31 tháng 12, nợ xấu toàn địa bàn được kiểm soát ở mức dưới 3% trên tổng dư nợ.

  1. Vốn đầu tư và xây dựng

3.1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 14 tháng 12, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2018 là 17.653.110 triệu đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.143.110 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.210.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.300.000 triệu đồng.

Vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 11 là 1.412.675 triệu đồng, bằng 104,58% so với tháng trước và bằng 111,62% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 220.820 triệu đồng, bằng 131,05% so với tháng tr­ước và bằng 98,52% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 105.955 triệu đồng, bằng 117,26% so với tháng tr­ước và bằng 174,04% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.085.900 triệu đồng, bằng 99,45% so với tháng tr­ước và bằng 110,73% so với cùng kỳ năm trước.

Đến đầu tháng 12, các Khu công nghiệp và Cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đã thu hút được 50 dự án đầu tư, gồm 48 dự án đầu tư sản xuất kinh doanh và 02 dự án đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng, với tổng số vốn đăng ký đầu tư là 69.497.100 triệu đồng và 420.900 triệu USD, với quy mô diện tích đăng ký khoảng 644.090 ha, đã giao mặt bằng được 499.870 ha.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 12 là 1.438.030 triệu đồng, bằng 109,55% so với cùng kỳ năm trước và bằng 101,79% so với tháng trước. Nguyên nhân ước tháng 12 thực hiện vốn đầu tư tăng so với tháng trước là do: Được sự quan tâm, hỗ trợ tích cực của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương; sự chỉ đạo thường xuyên, kịp thời của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các Sở, ban, ngành và địa phương trong tỉnh tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm, bức xúc trên địa bàn tỉnh, đảm bảo đúng tiến độ, hoàn thành và đưa vào sử dụng sớm, đạt hiệu quả cao.

Ước tính quý IV, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 4.201.475 triệu đồng, so với quý trước bằng 96,99% và so với cùng kỳ năm trước (3.849.745 triệu đồng) bằng 109,14%. Nguyên nhân vốn đầu tư phát triển toàn xã hội quý IV giảm so với quý trước là do: Công tác phối hợp giữa các ngành và các chủ đầu tư còn chậm trong việc lập, thẩm định, phê duyệt các thủ tục đầu tư dự án dẫn đến một số dự án đến nay vẫn chưa khởi công; công tác giải phóng mặt bằng triển khai chậm do các hộ dân chưa nhận tiền bồi hoàn; các dự án của nhà đầu tư thực hiện còn chưa đúng kế hoạch đã đăng ký ở các Khu, cụm Công nghiệp; kết thúc thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2018.

Ước tính tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang cả năm 2018 thực hiện được 17.665.980 triệu đồng, bằng 105,91% so với cùng kỳ năm trước và đạt 100,07% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 2.170.500 triệu đồng, bằng 116,64% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 101,28% so với kế hoạch năm.       

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 1.203.800 triệu đồng, bằng 115,13% so với cùng kỳ năm trước và đạt 99,49% so với kế hoạch năm.                   

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 14.291.680 triệu đồng, bằng 103,76% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 99,94% so với kế hoạch năm. Nguyên nhân vốn ngân sách Nhà nước ước cao so với kế hoạch hiện tại là do: Từ đây đến cuối năm 2018 vốn ngân sách Nhà nước sẽ có nguồn vốn bổ sung thêm.

Để thực hiện hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư XDCB năm 2018 của tỉnh Hậu Giang, Cục Thống kê khuyến nghị một số giải pháp như sau:

Một là: Các sở, ngành cần kiểm tra, đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình XDCB, mà đặc biệt là các công trình trọng điểm trên địa bàn; đồng thời gắn với việc giám sát, kiểm tra chất lượng công trình, nhanh chóng hoàn thành các công trình XDCB đang tồn đọng nhất là các công trình dự án trọng điểm đã bố trí vốn (giao thông, nông nghiệp, y tế, giáo dục, v.v…)

Hai là: Tập trung hoàn thành các công trình khánh thành và khởi công theo đúng tiến độ.         

Ba là: Đẩy nhanh tiến độ lập thủ tục XDCB đối với các công trình dự án đã đ­ược bố trí vốn, nhanh chóng làm thủ tục quyết toán các công trình đã hoàn thành.

Bốn là: Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành cấp tỉnh và các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề vướng mắc trong đầu tư XDCB.

3.2. Xây dựng

Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành quý III thực hiện được 1.640.776 triệu đồng, so với quý trước (1.797.415 triệu đồng) bằng 91,29% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,69%. Trong đó, loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 689.536 triệu đồng; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 951.240 triệu đồng. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện quý III như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 1.027.560 triệu đồng, so với quý trước (1.146.375 triệu đồng) bằng 89,64% và so với cùng kỳ năm trước bằng 136,93%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 172.500 triệu đồng, so với quý trước (143.890 triệu đồng) bằng 119,88% và so với cùng kỳ năm trước bằng 118,48%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 351.866 triệu đồng, so với quý trước (409.480 triệu đồng) bằng 85,93% và so với cùng kỳ năm trước bằng 76,45%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 88.850 triệu đồng, so với quý trước (97.670 triệu đồng) bằng 90,97% và so với cùng kỳ năm trước bằng 63,68%.

Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng giảm so với quý trước là do: Vào mùa mưa nên ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các công trình trọng điểm; công tác giải phóng mặt bằng triển khai chậm; các dự án của nhà đầu tư thực hiện còn chưa đúng kế hoạch đã đăng ký ở các Khu, cụm Công nghiệp; quý kết thúc thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2018 đã góp phần làm giảm giá trị sản xuất.

Ước tính quý IV, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 1.776.600 triệu đồng, so với quý trước bằng 108,28% và so với cùng kỳ năm trước (1.685.546 triệu đồng) bằng 105,40%. Trong đó, loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 880.600 triệu đồng, so với quý trước bằng 127,71% và so với cùng kỳ năm trước bằng 106,71%; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 896.000 triệu đồng, so với quý trước bằng 94,19% và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,15%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình ước thực hiện trong quý IV năm 2018 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 1.117.590 triệu đồng, so với quý trước bằng 108,76% và so với cùng kỳ năm trước bằng 106,36%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 137.500 triệu đồng, so với quý trước bằng 79,71% và so với cùng kỳ năm bằng 102,31%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 453.760 triệu đồng, so với quý trước bằng 128,96% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,49%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 67.750 triệu đồng, so với quý trước bằng 76,25% và so với cùng kỳ năm trước bằng 75,55%.

Ước tính cả năm 2018, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 6.650.715 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (5.887.893 triệu đồng) bằng 112,96%. Trong đó, loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 3.123.292 triệu đồng, bằng 102,75% so với cùng kỳ năm trước; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 3.527.423 triệu đồng, bằng 123,85% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện cả năm 2018 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 3.945.195 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (3.108.668 triệu đồng) bằng 126,91%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 724.450 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (925.759 triệu đồng) bằng 78,25%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 1.601.115 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (1.466.890 triệu đồng) bằng 109,15%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 379.955 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (386.576 triệu đồng) bằng 98,29%.

Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng thực hiện cả năm 2018 tăng so với cùng kỳ năm trước là do hiện nay giá cả nhóm hàng vật liệu xây dựng, chi phí máy thi công và chi phí nhân công tăng cao; một số công trình cơ bản đã hoàn thành đưa vào sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư và nhà thầu góp phần làm tăng giá trị sản xuất; tiếp tục thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ, thắt chặt tiết kiệm chi tiêu, kiềm chế lạm phát, chống lãng phí.

Đến nay, tình hình xây dựng trên địa bàn Tỉnh chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở dân dụng và đường giao thông. Riêng các công trình trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước có qui mô lớn thì hầu hết đều do các Doanh nghiệp ngoài tỉnh thi công. Do vậy, đề nghị Lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, để các Doanh nghiệp xây dựng trong tỉnh được thi công nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành xây dựng của Tỉnh tăng cao.

  1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

 Diện tích lúa cả năm 2018, xuống giống được 194.566 ha, so với cùng kỳ giảm 2,34% (4.667 ha). Năng suất sơ bộ được 63,71 tạ/ha, tăng 3,8% (bằng 2,33 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng sơ bộ được 1.239.564 tấn, tăng 1,37% (bằng 16.769 tấn) so với cùng kỳ.

- Lúa đông xuân: Diện tích xuống giống được 77.918 ha, bằng 100,28% so với kế hoạch, tăng 0,07% (bằng 55 ha) so với cùng kỳ. Năng suất được 73,16 tạ/ha, tăng 7,17% (bằng 4,90 tạ/ha) so với cùng kỳ. Năng suất tăng chủ yếu là do thời tiết thuận lợi, phù sa bồi đắp, kỹ thuật chăm sóc tốt hơn. Sản lượng được 570.044 tấn, tăng 7,25% (bằng 38.523 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng lúa đông xuân tăng chủ yếu năng suất tăng.

- Lúa hè thu: Diện tích xuống giống được 77.075 ha, đạt 103,58%  so với kế hoạch tỉnh và bằng 100,11% so với kỳ năm trước. Năng suất được 60,13 tạ/ha, giảm 0,06% (bằng 0,03 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng lúa hè thu được 463.452 tấn, tăng 0,05% (bằng 237 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng lúa hè thu tăng ít, chủ yếu do diện tích tăng vì sau khi sản xuất lúa đông xuân gặp thời tiết, điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, năng suất lúa đạt khá cao nên nông dân tranh thủ xuống giống cho vụ hè thu.

- Lúa thu đông: Toàn tỉnh đã xuống giống được 39.573 ha. Tập trung chủ yếu là huyện Châu Thành A, huyện Vị Thủy, huyện Phụng Hiệp, huyện Long Mỹ, Thị xã Long Mỹ và Thành phố Vị Thanh. Năm nay do mưa nhiều, lũ về sớm nước dâng cao, ngập úng dẫn đến toàn tỉnh diện tích gieo trồng chỉ đạt 80,76% kế hoạch (kế hoạch của tỉnh là 49.000 ha), so với cùng kỳ giảm 10,83% (bằng 4.805 ha); sơ bộ năng suất thu hoạch được 52,07 tạ/ha, tăng 1,33% (bằng 0,68 tạ/ha) so với cùng kỳ. Năng suất tăng do phù sa bồi đắp, kỹ thuật chăm sóc của nhà nông ngày càng được chú trọng tốt hơn; sơ bộ sản lượng lúa được 206.068 tấn, giảm so với cùng kỳ là 9,64% (bằng 21.991 tấn). Sản lượng lúa thu đông năm nay giảm chủ yếu là do diện tích giảm vì thời tiết không thuận lợi cho việc xuống giống của nhà nông.    

Diện tích gieo trồng ngô toàn tỉnh ước đã xuống giống được 3.195 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 0,49% (bằng 16 ha). Do thời tiết mưa nhiều, nông dân xuống giống trễ hơn so cùng kỳ năm trước.

Cây mía niên vụ 2018, xuống giống được 10.582 ha, giảm 3,1% (bằng 339 ha) so với cùng kỳ. Mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, huyện Long Mỹ, Thành phố Vị Thanh và Thị xã Ngã Bảy. Hiện mía đã thu hoạch được 9.267 ha, năng suất đã thu hoạch ước được 975,51 tạ/ha. 

Trong quý IV, toàn tỉnh có 2.590 ha diện tích rừng sản xuất trồng mới tập trung, tăng 4,02% so với năm trước (bằng 100 ha). Năm 2018, có 4.270 ha diện tích rừng sản xuất trồng mới tập trung, tăng 3,89% so với năm trước (bằng 160 ha). Sản phẩm gỗ khai thác trong quý IV được 48.420 m3, tăng 2,63% (bằng 4.240 m3) so với cùng kỳ. Cả năm khai thác được 145.700 m3, tăng 4% (bằng 5.600 m3) so với cùng kỳ. Sản lượng củi khai thác cả năm được 695.800 ster, giảm 2% so với cùng kỳ (bằng 14.200). Ngành lâm nghiệp tuy tăng trưởng không đáng kể nhưng đặc biệt là đảm bảo tốt công tác phòng cháy chữa cháy rừng, không xảy ra vụ cháy rừng nào trên địa bàn tỉnh.

Ước tính thực hiện trong tháng 12, số đầu con gia súc, gia cầm như sau: Đàn lợn (heo) có 149.328 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,22% (bằng 326 con). Trong đó, heo thịt có 129.558 con, tăng 0,22% (bằng 278 con). Đàn heo tăng do giá bán heo hơi năm nay tăng mạnh so với năm rồi, người chăn nuôi heo có lãi, nên nhiều hộ trước đây tạm thời dừng nuôi, nay nuôi lại. Đàn bò có 3.611 con, giảm 7,55% ( bằng 295 con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn dê có 2.752 con, giảm 324,69% ( bằng 2.104 con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn gia cầm có 4.139 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,99% (bằng 80 ngàn con). Trong đó, đàn gà có 1.275 ngàn con, tăng 1,45% (bằng 18 ngàn con) so cùng kỳ. Đàn vịt có 2.724 ngàn con, tăng 2,79% (bằng 74 ngàn con) so cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 12 tháng đầu năm: Thịt lợn được 27.126 tấn, so với cùng kỳ giảm 0,07% (bằng 19 tấn), sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng được 195 tấn, so với cùng kỳ năm trước giảm 6,57% (bằng 14 tấn), thịt gia cầm được 9.389  tấn, so với cùng kỳ tăng 2,21% (bằng 202 tấn), sản lượng trứng thu hoạch được 123.741 ngàn quả, tăng 2,82% (bằng 3.393 ngàn quả) so với cùng kỳ.

Trong năm 2018, dịch cúm gia cầm không tái xuất hiện trên địa bàn tỉnh. Ngành thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh.

Cả năm 2018, toàn tỉnh có 7.375 ha diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,16% (bằng 84 ha). Trong đó, diện tích nuôi cá toàn tỉnh có 7.209 ha, tăng 1,17% (bằng 83 ha) so với cùng kỳ. Về nuôi lồng bè, có số lồng nuôi là 5.909 lồng với 66.357 m3, giảm ít cả về số lồng và thể tích lồng nuôi.

Tổng sản lượng thủy sản năm 2018 toàn tỉnh được 64.861 tấn, tăng 4,75%  (bằng 2.940 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 62.185 tấn, tăng 5,06% (bằng 2.99 tấn). Trong đó, cá tra nuôi được 37.023 tấn, tăng 5,53% (bằng 1941 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng thủy sản khai thác được 2.676 tấn, giảm 1,94% (bằng 52,83 tấn) so cùng kỳ. Diện tích và sản lượng thuỷ sản năm nay tăng so với cùng kỳ là do loại thuỷ sản nuôi tăng, chủ yếu là loại cá khác nuôi ở ruộng (các loại cá trắng) vì lượng mưa năm nay khá, nước tự nhiên vào ruộng nhiều nên diện tích nuôi tăng.

Nhìn chung tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2018 có chiều hướng tốt hơn cùng kỳ. Cụ thể: Lúa cả năm đã thu hoạch xong, năng suất, sản lượng đều tăng so với cùng kỳ. Ngành thú y thực hiện tốt công tác tiêm phòng, quản lý, giám sát dịch bệnh ở gia súc, dịch cúm gia cầm không xảy ra trên địa bàn tỉnh.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Thực hiện tháng 11, giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá so sánh 2010, được 2.375.705 triệu đồng, tăng 23,69% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế được 3.362.353 triệu đồng, tăng 23,39% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ là do chính sách nhà nước khuyến khích “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và chương trình đưa hàng Việt về nông thôn ngày càng phát huy hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở cá thể công nghiệp và doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất các mặt hàng tiêu thụ nội địa để chuẩn bị phục vụ tiêu dùng trong dịp Noel và Tết Dương Lịch năm 2019 sắp đến.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 12, tính theo giá so sánh 2010 được 2.516.367 triệu đồng, tăng 5,92% so với tháng trước và tăng 27,75% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế được 3.625.999 triệu đồng, tăng 7,84% so với tháng trước và tăng 33,94% so với cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chiếm tỷ trọng trên 72,52% trong tổng giá trị ngành chế biến thực phẩm. Riêng Công ty Cổ phần thủy sản Minh Phú Hậu Giang với sản phẩm chính là tôm đông lạnh, đóng góp giá trị sản xuất lớn nhất trong ngành này, nhưng trong thời gian vừa qua doanh nghiệp này đã cải tiến máy móc, thiết bị và thực hiên tốt các yêu cầu của đối tác khi chế biến như: Ghi nhật ký nuôi trồng thủy sản, nhật ký chế biến, nhập kho, xuất kho… theo quy định của Bộ thương mại Hoa Kỳ (DOC), nên sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp đáp ứng được các rào cản chất lượng khắc khe của các nước nhập khẩu. Vì vậy, doanh nghiệp đã nhận được nhiều đơn đặt hàng từ những thị trường lớn như: Mỹ, EU, Nhật Bản… nên giá trị sản xuất tăng cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện quý IV, tính theo giá so sánh 2010 được 7.165.338 triệu đồng, tăng 5,74% so với quý trước và tăng 21,31% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế được 10.230.539 triệu đồng, tăng 11,79% so với quý trước và tăng 25,60% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã tận dụng được nguồn nguyên liệu tập trung tại chổ, lao động sẵn có, chi phí nhân công thấp… chính vì các yếu tố trên đã thúc đẩy các doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo mạnh dạn đầu tư mở rộng nhà máy, không ngừng đa dạng hoá sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh, hạ giá thành sản phẩm nên một số ngành tăng đột biến so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Ngoài ra, tăng một phần là do Công ty Cổ phần mía đường Cần Thơ và Công ty Cổ phần Cồn Long Mỹ Phát hoạt động niên vụ mía 2018-2019 vào đầu tháng 10 năm 2018, nên ước giá trị sản xuất tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước.

Cả năm 2018, giá trị sản xuất công nghiệp ước tính theo giá so sánh 2010, được 25.442.316 triệu đồng, tăng 16,02% so với cùng kỳ năm trước và đạt 108,96% so với kế hoạch năm. Tính theo giá thực tế, được 35.199.697 triệu đồng, tăng 18,21% so với cùng kỳ năm trước và đạt 115,91% so với kế hoạch năm. Sự phát triển mạnh mẽ của cộng đồng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang trong thời gian vừa qua là do những chính sách thực hiện cải cách thủ tục hành chính tinh gọn, giảm bớt các thủ tục không cần thiết, tổ chức các buổi đối thoại nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp của Ủy ban nhân dân tỉnh và các Sở, ban ngành có liên quan, đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, nhiều doanh nghiệp tạo ra doanh thu đạt và vượt kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra. Vì vậy, đã làm tăng đột biến ở mốt số ngành chiếm tỷ trọng lớn trong toàn ngành như: Sản xuất chế biến thực phẩm (chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn ngành công nghiệp 46,41% và tăng 9,97% so với cùng kỳ); sản xuất đồ uống (chiếm tỷ trọng 2,42% và tăng 36,01% so với cùng kỳ); sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy (chiếm tỷ trọng 16,23% và tăng 40,73% so với cùng kỳ); sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (chiếm tỷ trọng 8,04 % và tăng 44,55% so với cùng kỳ); sản xuất các sản phẩm từ khoán phi kim loại (chiếm tỷ trọng 3,47% và tăng 104,96% so với cùng kỳ)… nên giá trị sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh tăng cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, ước thực hiện cả năm 2018, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang phát triển ổn định. Tuy nhiên, các ngành chức năng cần có kế hoạch cụ thể hơn để tạo điều kiện thuận lợi, thúc đẩy các doanh nghiệp mới đầu tư đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra như Công ty TNHH Number One Hậu Giang để ngành công nghiệp phát triển đúng với tiềm năng và thế mạnh của tỉnh.

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tháng 11 tăng 10,72% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,79%. Trong đó, ngành sản xuất đồ uống tăng 11,31% so cùng kỳ năm trước, ngành sản xuất cao su và plastic tăng 82,24%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 9,98% so cùng kỳ năm trước; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,84% so cùng kỳ năm trước.

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tháng 12 tăng 19,20% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,54%. Trong đó, ngành sản xuất cao su và plastic tăng 116,74%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 11,98% so cùng kỳ năm trước; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,13% so cùng kỳ năm trước.

Trong quý IV, chỉ số phát triển công nghiệp tăng 15,55% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,81%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 8,58%. Trong nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo thì ngành sản xuất cao su và plastic tăng 98,78% so cùng kỳ và là ngành tăng cao nhất.

So với năm 2017, chỉ số IIP năm 2018 tăng 14,90%. Là do ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 15,19%; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 8,21%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,07%.

  1. Thương mại và dịch vụ

6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Trong tháng 11, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh tăng nhẹ so với tháng trước nguyên nhân là do giá cả hàng lương thực, thực phẩm tiếp tục tăng, nhất là hàng thực phẩm tươi sống như: Thịt heo, thịt gà, hàng hải sản, rau xanh… Bên cạnh đó, đây là thời điểm bước vào vụ mùa gieo trồng chính trong năm, nên nhóm hàng đồ dùng, nhóm vật tư nông nghiệp, giống cây trồng được tiêu thụ mạnh. Ngoài ra, thời điểm này các doanh nghiệp bắt đầu chuẩn bị hàng hóa để phục vụ cho lễ Noel, Tết dương lịch, Tết Nguyên đán Kỷ Hợi nên ngành thương mại tăng. Doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng cũng có xu hướng tăng hơn so với tháng trước tuy nhiên mức tăng cũng không đáng kể, nhu cầu trong dân không có nhiều biến động, trong tháng không diễn ra các sự kiện nổi bậc.

Thực hiện tháng 11, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.019.619 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 103,44% và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,68%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.238.071 triệu đồng, so với tháng trước bằng 103,10% và so với cùng kỳ năm trước bằng 113,07%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 269.565 triệu đồng, so với tháng trước bằng 104,73% và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,09%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 511.983 triệu đồng, so với tháng trước bằng 104,26% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,31%.

Ước thực hiện tháng 12, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.259.766 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 107,95% và so với cùng kỳ năm trước bằng 114,21%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.387.199 triệu đồng, so với tháng trước bằng 106,66% và so với cùng kỳ năm trước bằng 114,25%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 319.756 triệu đồng, so với tháng trước bằng 118,62% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,66%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 552.811 triệu đồng, so với tháng trước bằng 107,97% và so với cùng kỳ năm trước bằng 116,20%.

Bước qua tháng 12, tổng mức bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh tăng so với tháng trước (tăng 7,95%). Đây là thời điểm các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh bắt đầu thu mua, nhập kho hàng hóa chuẩn bị phục vụ cho các dịp lễ, Tết cuối năm. Các loại hàng hóa phục vụ cho lễ Noel, Tết dương lịch đã được bày bán khá đa dạng về mẫu mã, chủng loại trong các cửa hàng, siêu thị, chủ yếu là hàng may mặc, thực phẩm và đồ dùng. Ngoài ra, tính đến thời điểm này giá cả của các mặt hàng thiết yếu có giảm nhiệt so với tháng trước, các siêu thị, trung tâm điện máy đưa ra nhiều chương trình khuyến mãi nhằm kích thích tiêu dùng trong tháng cuối năm nên tạo điều kiện tiêu dùng trong dân đã làm thương mại trên địa bàn tỉnh tăng so với tháng trước.

Các ngành dịch vụ cũng có cùng xu hướng tăng cao với tháng trước, đặc biệt do ảnh hưởng của không khí chiến thắng của thể thao nước nhà, tại Hậu Giang đã hưởng ứng tích cực các phong trào vui chơi, ăn mừng chiến thắng đã làm cho hoạt động vui chơi, giải trí và ăn uống trong tháng tăng cao. Ngoài ra, trong tháng còn diễn ra các hoạt động tổ chức lễ Noel, Tết Dương lịch,… sẽ làm cho các ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh tăng cao so với tháng trước.

Ước thực hiện quý IV, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 9.198.536 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 112,81%.

Ước thực hiện quý IV, ngành thương mại trên địa bàn tỉnh tăng cao so với cùng kỳ (tăng 13,13%). Nguyên nhân là do tác động của giá cả lên nhóm ngành lương thực, thực phẩm, nhóm vật liệu xây dựng, xăng, dầu… các nhóm hàng hóa này chiếm tỷ trọng cao trong tổng mức bán lẻ. Trong thời điểm này các loại hàng nông sản có giá cả khá cao vì sản lượng ít, nhưng nhu cầu thu mua để chế biến các loại bánh mức thủ công tăng cao như: Bí xanh, khóm, chuối,… Ngoài ra, trong những tháng cuối năm lượng hàng hóa được sản xuất, dự trữ chuẩn bị cho dịp lễ, Tết là rất lớn, chủ yếu loại hình kinh tế tư nhân có mức tăng so với cùng kỳ cao hơn so với các loại hình kinh tế còn lại (tăng 21,52%).

Ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống và dịch vụ khác tăng 5,41% so với quý trước và  có tốc độ tăng khá cao so với cùng kỳ, chủ yếu là hoạt động ăn uống, vui chơi giải trí, y tế. Nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân ngày càng tăng các khu vui chơi trên địa bàn tỉnh mở rộng quy mô nhằm thu hút khách hàng trong các dịp lễ cuối năm. Ngoài ra, do ảnh hưởng của sự kiện thể thao nước nhà trong tháng 12 vừa qua sẽ góp phần tích cực làm tăng doanh thu của các ngành dịch vụ, đặc biệt là nhóm ngành giải trí, ăn uống trong tháng và trong quý này.

Dự tính năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 35.426.305 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 109,32% và so với kế hoạch năm đạt 100,57%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 26.064.618 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,57%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 3.390.096 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 111,60%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 5.971.591 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 111,36%.

Dự tính cả năm đạt 100,57% kế hoạch đề ra, đây là nỗ lực của các cấp lãnh đạo trong điều hành kinh tế, nhất là việc tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà bán lẻ mở rộng thị trường tại Hậu Giang. Trong năm 2018, ngành thương mại chủ yếu tăng trên loại hình kinh tế tư nhân (tăng 13,40%) và loại hình kinh tế này ngày càng khẳng định vị thế của mình trong việc phát triển doanh nghiệp và cung cấp hàng hóa ra thị trường. Ngược lại đối với các ngành dịch vụ, kinh tế cá thể lại chiếm tỷ trọng cao như: Ngành lưu trú, ăn uống loại hình kinh tế cá thể chiếm 98,95% trong tổng ngành. Điều đó chứng tỏ đối với một số ngành kinh tế, loại hình kinh tế cá thể đóng vai trò quan trọng, quyết định đến tốc độ phát triển của ngành do chiếm ưu thế về số lượng và doanh thu. Vì vậy, chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh phải chú trọng đến chính sách ưu đãi đối với loại hình kinh tế này.

Nhìn chung, tính đến thời điểm này ngành thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh có tốc độ tăng trưởng khá cao. Tuy nhiên, đối với các ngành dịch vụ các cấp lãnh đạo cần quan tâm hơn nữa trong công tác xây dựng kế hoạch trong thời gian tới.

6.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện tháng 11 được 101,26 triệu USD, so với tháng trước bằng 105,28% và so với cùng kỳ năm trước bằng 115,95%. Chia ra: Xuất khẩu được 57,08 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 96,59% và so với cùng kỳ năm trước bằng 90,79%. Nguyên nhân giảm so với tháng trước là do giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp có sản phẩm xuất khẩu thuộc nhóm hàng thủy sản và mặt hàng Giấy thành phẩm các loại (chiếm 71,04% tổng giá trị xuất khẩu) giảm. Tổng giá trị của 02 nhóm hàng xuất khẩu chủ lực này chỉ bằng 84,82% so với tháng trước. Vì vậy, giá trị xuất khẩu trong tháng giảm. Nhập khẩu được 44,18 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 119,12% và so với cùng kỳ năm trước bằng 180,59%. Nguyên nhân tăng cao so với cùng kỳ là do trên địa bàn huyện Châu Thành và Châu Thành A có một số doanh nghiệp mới phát sinh giá trị nhập khẩu trong những tháng cuối năm 2018. Vì vậy, kim ngạch tăng nhiều so với cùng kỳ.

Ước thực hiện tháng 12, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 136,21 triệu USD, so với tháng trước bằng 134,51% và so với cùng kỳ năm trước bằng 158,26%. Chia ra: Xuất khẩu ước thực hiện được 100,92 triệu USD so với thực hiện tháng trước bằng 176,80% và so với cùng kỳ năm trước bằng 164,49%. Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu tăng so với tháng trước là do trong tháng 12 ở các nước phương tây và một số thị trường có giá trị nhập khẩu lớn các sản phẩm thủy sản và rau quả của Việt Nam như: EU, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc….có diễn ra hoạt động lễ Noel và nhiều hoạt động lễ hội khác để chào mừng năm mới 2019. Do đó, dự đoán trong tháng tới nhu cầu tiêu thụ thực phẩm của người dân ở các nước nhập khẩu có thể sẽ tăng cao và để phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong các dịp lễ hội và đón tết Dương lịch đầu năm 2019, các thị trường này có thể sẽ tăng sản lượng nhập khẩu các loại thực phẩm thủy sản tươi sống, rau quả và một số mặt hàng cần thiết khác. Vì vậy, giá trị xuất khẩu có thể sẽ tăng. Nhập khẩu ước thực hiện được 35,29 triệu USD so với tháng trước bằng 79,87% và so với cùng kỳ năm trước bằng 142,80%.

Thực hiện quý IV, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, ủy thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 270,94 triệu USD, so với quý trước bằng 129,97% và so với cùng kỳ năm trước bằng 123,12%. Trong đó: Xuất khẩu thực hiện được 217,10 triệu USD, so với quý trước bằng 110,24 % và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,63%. Nhập khẩu thực hiện được 116,56 triệu USD, so với quý trước bằng 192,38% và so với cùng kỳ năm trước bằng 164,19%. Uỷ thác xuất khẩu thực hiện được 289 ngàn USD, so với quý trước bằng 98,97% và so với cùng kỳ năm trước bằng 68,35%.

Nhìn chung tình hình xuất, nhập khẩu trong quý IV năm 2018 đều tăng so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu vẫn ổn định và không có sự thay đổi. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn là hàng thủy sản chế biến các loại, giầy dép và sản phẩm giấy. Chỉ tính riêng tổng giá trị xuất khẩu của 03 nhóm hàng này đã chiếm 92,99% tổng kim ngạch xuất khẩu chung trong quý, bằng 110,76% so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,33%. Trong đó, nhóm hàng xuất khẩu giày dép trong những tháng về cuối năm có sự tăng trưởng rất mạnh tăng 33,64% so với quý trước, nguyên nhân do đây là quý cuối của năm nên nhu cầu mua sắm các mặt hàng may mặc có nhu cầu rất cao ở các nước nhập khẩu, vì vậy càng về cuối năm nhóm hàng xuất khẩu này có sự tăng trưởng mạnh so với quý trước. Ngoài ra, các nhóm hàng xuất khẩu khác còn lại bao gồm: Hàng rau quả, hàng dệt may và một số sản phẩm khác vẫn có giá trị xuất khẩu ổn định và tăng so với quý trước và so với cùng kỳ. Cụ thể: các nhóm hàng xuất khẩu có giá trị tăng lần lượt là 10,84%, 1,88%, 0,64% so với quý trước và tăng 15,69%, 33,52%, 35,09% so với cùng kỳ năm trước.

Ước thực hiện cả năm 2018, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 1.113,99 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 106,48% và so với kế hoạch năm đạt 105,09%. Trong đó: Xuất khẩu ước thực hiện được 732,74 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,42% và so với kế hoạch năm đạt 102,34%. Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu tăng hơn so với cùng kỳ là do trong năm 2018 có một số doanh nghiệp sau thời gian đầu tư xây dựng nhà máy, cơ sở hạ tầng đã chính thức đi vào hoạt động và có giá trị xuất khẩu tăng so với năm 2017, mặt khác các doanh nghiệp có hoạt động xuất khẩu ổn định từ trước đã đầu tư mở rộng thêm quy mô sản xuất trong những tháng đầu năm 2018 (Công ty TNHH Lạc Tỷ II trên địa bàn Huyện Châu Thành A). Các doanh nghiệp khác còn lại có giá trị ổn định và có sự tăng trưởng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Vì vậy, dự tính cả năm 2018 giá trị xuất khẩu có thể sẽ tăng.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 318,84 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 103,57% và so với kế hoạch năm đạt 118,09%. Nguyên nhân ước tăng so với cùng kỳ năm trước là do trong những tháng gần cuối năm 2018 có một số doanh nghiệp có thực hiện hoạt động nhập khẩu với giá trị lớn như: Công ty TNHH Công viên giải trí đại học Võ Trường Toản, Công ty cổ phần thương mại đầu tư dầu khí Nam Sông Hậu, ngoài ra còn một số doanh nghiệp khác trên địa bàn có giá trị nhập khẩu tuy nhỏ nhưng cũng đáng kể như: Công ty CP phân bón quốc tế Âu Việt, Công ty TNHH đầu tư Đan Việt, Công ty TNHH MTV Xây dựng Thươnng mại xuất nhập khẩu Phương Nam….  Các doanh doanh này chủ yếu nhập các loại máy móc, thiết bị phục vụ kinh doanh trong lĩnh vực vui chơi giải trí, các loại xăng dầu và một số loại nguyên vật liệu cần thiết để phục sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp. Vì vậy, dự đoán trong năm 2018 giá trị nhập khẩu có thể sẽ tăng so với cùng kỳ và hoàn thành kế hoạch năm đề ra.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 943 ngàn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 23,53% và so với kế hoạch năm đạt 23,58%. Nguyên nhân giảm nhiều so với cùng kỳ và không đạt so với kế hoạch năm là do Công ty TNHH Taydoshin và Công ty cổ phần thủy sản Cafatex có giá trị ủy thác giảm. Riêng doanh nghiệp Taysoshin đã chuyển địa điểm kinh doanh khỏi địa bàn tỉnh Hậu Giang. Vì vậy, giá trị ủy thác xuất khẩu giảm nhiều so với cùng kỳ.

Nhìn chung, tình hình hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn vẫn hoạt dộng bình thường và có giá trị tăng ổn định so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân, trong năm 2018, một số doanh nghiệp trên địa bàn đã mở rộng quy mô hoạt động sản xuất, đầu tư thêm các trang thiết bị máy móc để gia tăng công suất nhà máy. Do đó, đã góp phần đáng kể làm gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu chung, giúp hoàn thành và vượt kế hoạch năm đã đề ra.

Trong thời gian tới, hoạt động xuất, nhập khẩu của các doanh nghiệp trên địa bàn được dự đoán sẽ có thêm nhiều cơ hội để phát triển. Khi vừa qua Quốc hội đã chính thức ký ban hành Nghị quyết phê chuẩn Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Trong tương lai, điều này sẽ tạo ra lợi thế lớn cho sản phẩm xuất khẩu của các doanh nghiệp trên thị trường thế giới, sẽ có lợi thế cạnh tranh hơn về giá so với các nước trong khu vực khi xuất khẩu cùng một mặt hàng nhưng không tham gia CPTPP, đồng thời nó sẽ mở ra cơ hội lớn để các doanh nghiệp có thể dễ dàng tìm kiếm khách hàng, mở rộng thêm các thị trường tiềm năng mới, giúp sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam tạo dựng được thương hiệu, uy tín trong mắt người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu, từng bước tiến tới khẳng định giá trị chất lượng sản phẩm của Việt Nam trên trường quốc tế, tạo thuận lợi góp phần làm gia tăng kim ngạch xuất khẩu chung trên địa bàn .

6.3. Tình hình giao thông vận tải

Tình hình vận chuyển, luân chuyển hàng hóa, hành khách trên địa bàn vẫn hoạt động ổn định và có giá trị tăng so với tháng trước. Tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện tháng 11 được 123.124 triệu đồng, so với tháng trước bằng 107,72% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,06%. Trong đó, đường bộ được 74.803 triệu đồng, bằng 111,15% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước bằng 125,51%. Đường sông được 48.321 triệu đồng, bằng 102,81% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,93%. Nguyên nhân là do trong tháng 11 các tuyến đường bị hư hỏng đã được các ngành chức năng chỉ đạo duy tu sửa chửa hoàn thiện, các tuyến đường được thông thoáng đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động vận chuyển, luân chuyển hàng hóa và hành khách của các cơ sở kinh doanh vận tải trên địa bàn được dễ dàng và ít mất thời gian hơn, góp phần làm gia tăng đáng kể số lượt, tuyến vận chuyển. Vì vậy, doanh thu hoạt động kinh doanh vận tải tăng so với trước.

Tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước thực hiện tháng 12 được 168.499 triệu đồng, so với tháng trước bằng 136,85% và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,61%. Trong đó, đường bộ được 97.307 triệu đồng, bằng 130,08% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước bằng 91,41%. Đường sông được 71.192 triệu đồng, bằng 147,33% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước bằng 143,07%.

Ước thực hiện quý IV, tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 350.134 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 102,61%. Trong đó, đường bộ được 145.144 triệu đồng, bằng 108,32% so với cùng kỳ năm trước. Đường sông được 169.103 triệu đồng, bằng 96,92% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ hỗ trợ vận tải được 35.887 triệu đồng, bằng 109,52% so với cùng kỳ.

Ước thực hiện cả năm 2018, tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 1.269.135 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 104,17%. Trong đó, đường bộ được 733.211 triệu đồng, bằng 109,25% so với cùng kỳ năm trước. Đường sông được 535.924 triệu đồng, bằng 97,34% so với cùng kỳ năm trước.

Hàng hoá vận chuyển thực hiện tháng 11, được 794.620 tấn (33.443.270 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 102,20% (101,25%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 95,80% (95,79%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 195.140 tấn (9.617.760 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 101,85% (100,43%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,10% (96,25%). Đường sông thực hiện được 599.480 tấn (23.825.510 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 102,31% (101,59%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,07% (95,63%).

Ước thực hiện tháng 12, toàn tỉnh vận chuyển được 881.024 tấn hàng hóa các loại (35.421.667 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 110,87% (105,92%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,39% (112,18%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 206.903 tấn (9.836.480 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 106,03% (102,27%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,90% (110,92%). Đường sông thực hiện được 674.121 tấn (25.585.187 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 112,45% (107,39%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,23% (112,68%).

Ước thực hiện quý IV, toàn tỉnh vận chuyển được 2.555.651 tấn hàng hóa (108.312.196 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 100,77% (108,03%). Đường bộ ước thực hiện được 594.738 tấn hàng hóa (28.807.626 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 117,33% (144,49%). Đường sông ước thực hiện được 1.960.913 tấn hàng hóa (79.504.570 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 96,64% (98,98%).

Ước thực hiện cả năm năm 2018, toàn tỉnh vận chuyển hàng hóa được 9.903.953 tấn (432.595.952 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 100,33% (122,08%). Chia ra: Đường bộ ước thực hiện được 3.249.805 tấn (191.950.784 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 119,24% (196,13%). Đường sông ước thực hiện được 6.654.148 tấn (240.645.168 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 93,11% (93,82%).

Hành khách vận chuyển thực hiện tháng 11, được 9.669.790 lượt hành khách (56.532.640 HK.Km), so với thực hiện tháng trước bằng 97,95% (97,61%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,99% (97,40%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.369.070 lượt hành khách (42.865.620 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 98,30% (97,01%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 94,65% (93,64%). Đường sông vận chuyển được 2.300.720 lượt hành khách (13.667.020 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 96,86% (99,58%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,33% (111,44%).

Ước thực hiện tháng 12, toàn tỉnh thực hiện được 10.576.571 lượt hành khách (63.993.412 HK.km), so với tháng trước bằng 109,38% (113,20%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,78% (106,70%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.419.690 lượt hành khách (48.718.211 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,69% (113,65%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,13% (99,78%). Đường sông vận chuyển được 3.156.881 lượt hành khách (15.275.201 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 137,21% (111,77%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 100,35% (137,04%).

Ước thực hiện quý IV, toàn tỉnh vận chuyển được 30.938.928 lượt hành khách (178.128.957 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 100,21% (109,93%). Đường bộ ước thực hiện được 22.511.929 lượt hành khách (132.220.032 HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 100,25% (104,08%). Đường sông ước thực hiện được 8.426.999 lượt hành khách (42.908.925 HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 100,10% (133,58%).

Ước thực hiện cả năm 2018, toàn tỉnh vận chuyển được 114.673.002 hành khách (697.499.445 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 100,39% (106,38%). Chia ra: Đường bộ ước thực hiện được 93.182.341 hành khách (539.338.389 HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 100,45% (102,93%). Đường sông ước thực hiện được 21.490.661 hành khách (158.161.056 HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 100,15% (120,09%).

  1. Các vấn đề văn hóa và xã hội, y tế, an toàn giao thông và cháy nổ

7.1. Tình hình văn hóa

Trong tháng 12, ngành Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã thực hiện được 2.520 m2 panô các loại, 60 băng rol, treo và tháo gỡ 2.900 cờ các loại, 91 lượt phóng thanh cổ động, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành. Thực hiện in và lắp mới hệ thống pano, băng, cờ, tranh cổ động và đề cương tin ảnh... phục vụ chuỗi hoạt động chào mừng kỷ niệm 15 năm Thành lập tỉnh và mừng Đảng quang vinh - mừng Xuân Kỷ Hợi 2019.

Trong tháng, đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức giao lưu trong và ngoài tỉnh 02 cuộc; xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 94 buổi, thu hút 47.500 lượt người xem. Đoàn Ca múa nhạc dân tộc tỉnh đã xây dựng và biểu diễn văn nghệ phục vụ nông thôn và các sở ban ngành trong tỉnh với 05 suất diễn phục vụ trên 3.000 lượt người xem.

Phối hợp với các ban, ngành thực hiện công tác tuyên truyền và các hoạt động chuẩn bị phục vụ chuỗi sự kiện kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh Hậu Giang (01/01/2004 – 01/01/2019). Xây dựng và triển khai kế hoạch tổ chức Hội thi văn nghệ mừng Xuân Kỷ Hợi 2019.

Duy trì, nâng cao hoạt động và tham gia giao lưu các câu lạc bộ trực thuộc Trung tâm như: Câu lạc bộ múa, câu lạc bộ thanh nhạc, câu lạc bộ đờn ca tài tử, câu lạc bộ khiêu vũ và hip hop…

Tổ chức “Chuyến xe tri thức” phục vụ nhân dân trên địa bàn tỉnh Hậu Giang từ ngày 19/11 - 23/11 (mỗi huyện một điểm). Đây là một trong những hoạt động chào mừng kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh. Bên cạnh phục vụ đọc sách, truy cập internet miễn phí, còn có các trò chơi trí tuệ về sách: Đọc sách viết cảm nhận; hỏi đáp về Hậu Giang; đố vui kiến thức; nhận diện tác giả tác phẩm… Hoạt động của chuyến xe phục vụ khoảng 5.000 lượt người.

Trưng bày sách tại chỗ 3 lần trên 80 quyển, bao gồm: Sách kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11; sách chuyên đề cải cách hành chính và Sách mới các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, pháp luật... 

7.2. Tình hình giải quyết việc làm và đào tạo nghề

Trong nền kinh tế thị trường, tốc độ phát triển kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó, lao động – việc làm được xem là một trong các yếu tố quyết định chính và trực tiếp nhất. Lao động dồi dào và có tay nghề cao, trẻ tuổi... thường thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có việc làm tốt, ổn định và có thu nhập. Tỉnh Hậu Giang là một tỉnh nông nghiệp, nguồn lao động trẻ, dồi dào nhưng chưa được đào tạo đúng mức, tay nghề thấp chiếm tỷ lệ lớn nên chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội, người lao động gặp không ít khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi vẫn còn tương đối cao.

Vì vậy, giải quyết việc làm là một trong những vấn đề bức xúc của tỉnh nói riêng cũng như của cả nước nói chung. Thời gian qua, Tỉnh uỷ, Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang đã ban hành các chủ trương, chính sách cụ thể, thiết thực, phù hợp nhằm khuyến khích, kêu gọi sự đầu tư của doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, kể cả doanh nghiệp nước ngoài xây dựng các cơ sở mới, quy mô hiện đại hơn, việc quy hoạch các khu, cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp được tỉnh rất chú trọng, đến nay các khu, cụm công nghiệp như: Khu công nghiệp tập trung Nam sông Hậu (huyện Châu Thành), cụm công nghiệp tập trung Tân Phú Thạnh (huyện Châu Thành A), cụm công nghiêp tập trung Vị Thanh (thành phố Vị Thanh), các khu, cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ở các huyện thị đã và đang tiếp tục được xây dựng. Do đó, phần nào giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động trong thời gian qua, đồng thời làm tăng thu nhập ổn định cuộc sống của người dân.

Năm 2018, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trưởng, chính sách giải quyết việc làm cho người lao động, ngành Lao động thương binh và xã hội phối hợp với các ngành có liên quan, thông qua các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tư vấn giới thiệu việc làm, tạo việc làm trong và ngoài tỉnh. Ước cả năm 2018, Hậu Giang giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 17.600, đạt 117,3% kế hoạch năm 2018, tăng 0,7% so kết quả thực hiện năm 2017. Trong đó, đã đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 90 lao động, đạt 112,5% kế hoạch năm 2018.

Ngoài ra, trong năm 2018 Hậu Giang còn tiếp nhận và ký kết thỏa thuận hợp đồng cung ứng lao động khoảng 124 lượt doanh nghiệp, với số lao động đề nghị cung ứng là 15.009 lao động. Đó dà dấu hiệu đáng mừng cho người lao động chưa có việc làm.

7.3. Tình hình an sinh xã hội và chính sách người có công

Toàn tỉnh hiện có 24.931 đối tượng bảo trợ xã hội (BTXH) và 3.680 hộ gia đình, người nhận kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội, tăng 1.318 trường hợp so với cùng kỳ năm 2017, tỷ lệ tăng là 4,83%; đã trợ cấp thường xuyên cho 342.894 lượt đối tượng, tăng 17.619 lượt so với cùng kỳ năm trước, kinh phí hơn 126,93 tỷ đồng, tăng gần 7 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ tăng 5,78%. Hỗ trợ mai táng phí cho 1.701 trường hợp, kinh phí khoản 9,18 tỷ đồng; hỗ trợ đột xuất cho 199 trường hợp, kinh phí hơn 1,5 tỷ đồng; cấp 22.337 thẻ bảo hiểm y tế cho đối tượng BTXH, kinh phí trên 14,80 tỷ đồng. Tổng kinh phí thực hiện trên 152,50 tỷ đồng.

Sở Lao động thương binh và xã hội phối hợp với các Hội đặc thù và các đơn vị có liên quan thường xuyên vận động, tổ chức thực hiện tốt việc chăm lo, hỗ trợ về mặt vật chất và tinh thần, khám chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí cho các đối tượng BTXH là người khuyết tật, nạn nhân chất độc da cam/dioxin, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.... nhân các ngày Lễ, Tết, các ngày kỷ niệm của đối tượng. Kết quả đã trao tặng gần 33.000 phần quà, kinh phí trên 27,93 tỷ đồng. Cụ thể: Tổ chức các hoạt động nhân ngày người khuyết tật Việt Nam (18 tháng 4): Phối hợp với hội Bảo trợ Người khuyết tật - Trẻ mồ côi - Bệnh nhân nghèo và Hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh đã tổ chức thăm, hỏi, tặng 332 phần quà cho người khuyết tật trên địa tỉnh với số tiền trên 99,6 triệu đồng. Bên cạnh đó, các địa phương đã vận động được 156 phần quà, với số tiền 43,4 triệu đồng để chăm lo cho người khuyết tật; tổ chức các hoạt động kỷ niệm nhân Ngày vì nạn nhân chất độc da cam Việt Nam 10/8/2018, cụ thể: Họp mặt kỷ niệm với 200 đại biểu tham dự; thăm, tặng 149 phần quà cho nạn nhân da cam với số tiền 132,8 triệu đồng.

Công tác thực hiện chính sách người có công luôn được quan tâm, chỉ đạo sâu sát, uốn nắn kịp thời. Trong năm, đã thực hiện kịp thời các chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, cụ thể như: Cấp mới 23.000 thẻ BHYT với số tiền 11.500 triệu đồng; điều dưỡng tập trung và điều dưỡng tại gia đình cho 2.007 người có công với số tiền trên 2,76 tỷ đồng; trợ cấp thường xuyên cho 99.948 lượt đối tượng với số tiền gần 150 tỷ đồng.

Tham mưu Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức tốt các hoạt động chăm lo cho người có công nhân dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất và kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2018). Toàn tỉnh đã tổ chức thăm, tặng 55.777 phần quà cho người có công với cách mạng với số tiền trên 24,55 tỷ đồng, với các hoạt động tiêu biểu, thành lập 08 Đoàn công tác của Lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng 3.646 phần quà các gia đình chính sách tiêu biểu tại các huyện, thị xã, thành phố với số tiền trên 529 triệu đồng; tổ chức đưa, đón 331 người có công với cách mạng đi tham quan, điều dưỡng, biểu dương người có công tiêu biểu toàn quốc năm 2018 theo chủ trương của Uỷ ban nhân dân tỉnh; thăm người có công đang nằm điều trị tại Bệnh viện tỉnh và các Trung tâm Y tế thành phố, thị xã và các huyện với 508 phần quà, số tiền khoản 254 triệu đồng; phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức chương trình thắp nến tri ân và viếng nghĩa trang liệt sĩ trên địa bàn tỉnh.

Triển khai kế hoạch xây dựng mới và sửa chữa 2.573 căn nhà tình nghĩa cho người có công với cách mạng gặp khó khăn về nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Trong đó xây dựng mới được 1.181 căn, sửa chữa được 1.392 căn. Còn lại 1.250 căn. Trong đó, xây mới 486; sửa chữa 764. Hoàn thành dứt điểm trong năm 2018. Nhà ở từ nguồn vận động từ đầu năm 2018 đến nay, đã vận động xây dựng và sửa chữa được 113 căn nhà tình nghĩa với số tiền khoản 4,5 tỷ đồng. Trong đó, xây mới 78 căn; sửa chữa 35 căn.

7.4. Tình hình y tế

Theo báo cáo của Sở y tế trong tháng 12 có 21 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, giảm 36 ca so với tháng trước. Cộng dồn 12 tháng có 278 ca mắc bệnh, giảm 116 ca so với cùng kỳ. Bệnh tay chân miệng có 273 ca mắc mới, tăng 88 ca so với tháng trước. Cộng dồn có 793 ca mắc bệnh , tăng 77 ca so với cùng kỳ. Bệnh dịch lạ chưa phát hiện ra trên địa bàn tỉnh. Nhờ sự phát hiện sớm và điều trị kịp thời nên không có ca tử vong do các bệnh truyền nhiễm. Chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 751 trẻ, cộng dồn được 11.740 trẻ, đạt 99,40%.

Số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng là 09 ca, cộng dồn có 81 ca (giảm 18 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay có 1.563ca; số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng có 05 ca, cộng dồn có 40 ca (giảm16 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay có 1.000 ca. Số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng không có, cộng dồn có 36 ca (tăng 02 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay có 569. Số bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc ARV có 675 ca; số bệnh nhân điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone là 52 ca.

Công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường với nhiều biện pháp quyết liệt nên các trường hợp ngộ độc thực phẩm đã không xảy ra trên địa bàn tỉnh (không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm trên 30 người/vụ).

Triển khai thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh.Chỉ đạo các đơn vị có giường bệnh tập trung triển khai thực hiện tốt Kế hoạch về đổi mới phong cách và thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh.

Đổi mới toàn diện thái độ, phong cách phục vụ của cán bộ y tế, lấy người bệnh làm trung tâm và hướng tới sự hài lòng của người bệnh. Thực hiện tốt quy tắc ứng xử và nâng cao đạo đức nghề nghiệp, học tập và làm theo tư tưởng đạo đức phong cách Hồ Chí Minh của cán bộ, viên chức, người lao động trong các cơ sở y tế. Phấn đấu tỷ lệ hài lòng của người bệnh đạt trên 85%.

7.5. Tình hình thiếu đói, thiệt hại do thiên tai

Tình hình thiếu đói: Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Hậu Giang từ khi chia tách đến nay giữ được ổn định và phát triển bền vững. Do vậy, trong năm trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói.

Tình hình thiên tai: Sạt lở ở 22 điểm. Trong đó, ở huyện Châu Thành có 19 điểm ở các xã: Xã Phú An, Đông Thạnh, Đông Thạnh, Phú Hữu, Đông Phước, Đông Phước A, Thị trấn Ngã Sáu, Mái Dầm; huyện Phụng Hiệp có 02 điểm ở xã Tân Long; huyện Châu Thành A có 01 điểm ở xã Tân Phú Thạnh). Chiều dài sạt lở khoản 406 m; diện tích mất đất bờ sông khoản 2.475,2 m2. Ước tính thiệt hại khoản 1.594 triệu đồng.

Trong năm dông lốc làm sập 82 căn nhà. Trong đó, huyện Phụng Hiệp 28 căn, trong đó có 01 căn sập chập điện cháy; huyện Long Mỹ có 19 căn trong đó có 01 trụ điện hạ thế; huyện Châu Thành A có 07 căn; thị xã Long Mỹ có 07 căn; thị xã Ngã Bảy và thành phố Vị Thanh có 07 căn. Nhà tốc mái có 119 căn. Trong đó, huyện Phụng Hiệp có 31 căn, huyện Long Mỹ có 21 căn, trong đó có 01 nhà Văn hóa, thị xã Long Mỹ và  huyện Châu Thành A có 18 căn; huyện Vị Thủy có 10 căn. Ước tính thiệt hại khoản 2.518 triệu đồng.

Đổ ngã cây ăn trái, ước thiệt hại khoản 250 triệu đồng. Lúa Hè Thu thiệt hại 838,9 ha làm giảm năng suất từ 3% đến 20%, lúa Thu Đông thiệt hại khoản 713,77 ha, làm giảm năng suất từ 5 đến 100%. Ước tính thiệt hại lúa Hè Thu và Thu Đông khoảng 1.640 triệu đồng.

Ủy ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố đã chỉ đạo kịp thời các bộ phận chuyên môn theo dõi thời tiết bất thường để khuyến cáo người dân khi có thiên tai xuất hiện.

7.6. Tình hình an toàn giao thông, cháy nổ

Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 12, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 16 vụ tai nạn giao thông, chỉ tập trung ở đường bộ. So với tháng trước tăng 10 vụ và so với cùng kỳ năm trước tăng 01 vụ, tập trung ở đường bộ. Trong đó, có tổng cộng 08 người chết, so với tháng trước tăng 04 người và so với cùng kỳ năm trước tăng 03 người. Tổng số có 14 người bị thương, so với tháng trước tăng 11 người và so với cùng kỳ năm trước tăng 02 người.

Cả năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 111 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 109 vụ, đường sông 02 vụ), làm chết tổng cộng 91 người và bị thương 54 người, tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước giảm 06 vụ (đường bộ giảm 08 vụ, đường sông tăng 02 vụ), số người chết tăng 20 người và số người bị thương giảm 07 người, chỉ tập trung ở đường bộ.

Tình hình thực hiện an toàn cháy nổ

Trong 12 tháng qua, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ cháy, làm thiệt  tài sản ước tính khoản 350 triệu đồng, không có thiệt hại về người. Nguyên nhân do thời tiết nắng hạn nhiều đầu năm nên dễ sảy ra cháy nổ đặt biệt là ở những khu đông dân cư và ở chợ, vì vậy cần tăng cường những biện pháp phòng chống cháy nổ.

  1. Đề xuất các giải pháp:

Tập trung cải cách hành chính, nâng cao chất lượng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, cải cách hành chính, hiệu quả quản trị và hành chính công, chỉ số hài lòng của người dân; cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp.

Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế:

- Nhân rộng các mô hình, dự án khoa học - công nghệ, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp, góp phần giảm chi phí đầu vào, tăng hàm lượng khoa học - công nghệ, trí tuệ trong sản phẩm và hình thành chuỗi giá trị, bảo đảm hài hòa lợi ích từ nuôi trồng, chế biến đến tiêu thụ nông sản với các hình thức hợp tác, liên kết phù hợp.

- Tập trung tái cơ cấu nông nghiệp theo chiều sâu, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân, hộ cá thể phát triển. Tiếp tục triển khai hiệu quả Đề án nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn tỉnh; phát triển giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản chất lượng cao; phát triển trạm bơm điện. Tổ chức lại sản xuất theo tổ hợp tác, Hợp tác xã  kiểu mới gắn với liên kết theo chuỗi.

- Đẩy mạnh tổ chức xúc tiến thương mại để nhiều sản phẩm chủ lực có thêm thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, chú trọng chỉ dẫn địa lý; chủ động xúc tiến đầu tư đi vào thực chất.

- Nâng cao chất lượng tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân; tiếp tục thực hiện hiệu quả cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, kiểm soát nợ xấu mới phát sinh, giữ tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn.

Nâng cao giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp, phát triển mạnh thủy sản, chăn nuôi, cây ăn trái gắn với xây dựng nông thôn mới:

- Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao. Đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ cao nhằm tăng năng suất, chất lượng, giảm giá thành và thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân.

- Tiếp tục đầu tư chiều sâu, phát triển vùng sản xuất chuyên canh, đẩy mạnh thâm canh ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ cao, đổi mới giống cây trồng, phát triển các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh. Mở rộng diện tích cánh đồng lớn trên mỗi vụ sản xuất.

- Phát triển chăn nuôi đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gắn với nhu cầu thị trường, phát triển các mô hình liên kết chăn nuôi theo chuỗi giá trị; khuyến khích mở rộng quy mô chăn nuôi theo hướng tập trung an toàn sinh học, đảm bảo vệ sinh môi trường; các mô hình chăn nuôi theo hướng nông nghiệp đô thị; tập trung công tác quản lý giống vật nuôi, quản lý chặt chẽ việc tái đàn, cải tiến nhằm nâng cao chất lượng con giống, hiệu quả chăn nuôi. Triển khai chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ.

- Nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch, kế hoạch, áp dụng các quy trình tiêu chuẩn vào sản xuất đáp ứng yêu cầu thị trường; tổ chức lại sản xuất cá tra, cá thát lát, cá rô đồng,… theo hướng hình thành các tổ chức liên kết sản xuất.

- Tiếp tục kêu gọi doanh nghiệp, HTX đầu tư liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn, trên các lĩnh vực: Vùng lúa chất lượng cao, vùng nguyên liệu mía, cây ăn quả, màu. Tăng cường kết nối doanh nghiệp với tổ chức nông dân, HTX thực hiện liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng.

Phát triển công nghiệp - xây dựng:

- Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu công nghiệp; kêu gọi thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp, nhằm nâng cao tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp, đặc biệt thu hút đầu tư mới phải trên nguyên tắc có công nghệ tiên tiến, hiện đại, bảo đảm an toàn cho môi trường và đảm bảo tăng thu cho ngân sách.

- Theo dõi, quản lý và đôn đốc triển khai tốt kế hoạch đầu tư lưới điện trên địa bàn tỉnh nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của người dân. Khuyến khích phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

- Thúc đẩy đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, chủ động tham gia và tận dụng thành quả của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 để nâng cao năng suất lao động, phát triển các ngành công nghiệp của tỉnh...

- Tiếp tục xây dựng, nâng chất các tiêu chí đô thị của thành phố Vị Thanh đạt tiêu chuẩn đô thị loại II và thị xã Long Mỹ đạt tiêu chuẩn đô thị loại III vào năm 2020; rà soát, nâng chất các tiêu chí đô thị cho các khu vực đô thị có khả năng đạt tiêu chuẩn đô thị loại V.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực đầu tư xây dựng cho các tổ chức, cá nhân, giám sát, kiểm tra và thực hiện; đồng thời tăng cường quản lý hoạt động xây dựng, chất lượng công trình xây dựng, quy hoạch, kiến trúc, cảnh quan và mỹ quan đô thị; quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị, phát triển đô thị, nhà ở và xử phạt nghiêm minh, kịp thời hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng.

Phát triển dịch vụ và đẩy mạnh xuất khẩu:

- Phát triển nâng chất hệ thống chợ, kêu gọi đầu tư xây dựng các chợ đầu mối về hàng tiêu dùng, hàng nông sản của tỉnh, phát triển mạng lưới dịch vụ ở nông thôn. Tổ chức các phiên hàng Việt về nông thôn. Tổ chức Đoàn giao thương, xúc tiến thương mại giữa tỉnh Hậu Giang với các tỉnh, thành phố đã có mối quan hệ hợp tác.

- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến thông tin về hội nhập quốc tế, nhất là các cam kết theo các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Chú trọng công tác hỗ trợ thông tin cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Cung cấp đến doanh nghiệp những nội dung về rào cản kỹ thuật, rào cản thương mại của các nước đối với hàng hóa xuất khẩu. Kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, nhất là hàng thuỷ sản và nông sản. 

- Theo dõi diễn biến giá cả thị trường và công tác bình ổn thị trường. Tăng cường công tác quản lý thị trường, kịp thời phát hiện những trường hợp đầu cơ, gây mất cân bằng cung cầu, xử lý nghiêm những trường hợp kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, quản lý giá bán theo giá niêm yết, xử lý các vi phạm về giá.

Quản lý, sử dụng tài chính có hiệu quả, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng:

- Huy động tối đa các nguồn lực của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước. Tranh thủ sự hỗ trợ từ ngân sách Trung ương cho ngân sách địa phương để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp ở một số lĩnh vực văn hóa - thể dục thể thao, giáo dục, y tế…, tạo điều kiện cho người dân có thu nhập khá được sử dụng các dịch vụ chất lượng cao.

- Tăng cường công tác thu ngân sách Nhà nước, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước. Quản lý chặt chẽ chi ngân sách địa phương, tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân vốn đầu tư phát triển.

- Đảm bảo hoạt động tiền tệ, ngân hàng trên địa bàn ổn định, hiệu quả và phát triển bền vững, trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế kinh tế - xã hội ở địa phương. Tăng cường công tác huy động vốn, khai thác có hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn tập trung nguồn vốn, tích cực ưu tiên nguồn vốn hỗ trợ thực hiện các chương trình, đề án trọng điểm của tỉnh. Duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng, phù hợp với nhu cầu phát triển của địa phương. Tiếp tục triển khai chương trình kết nối ngân hàng -doanh nghiệp, triển khai quyết liệt và đồng bộ công tác cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, đồng thời triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa  nợ xấu phát sinh mới, đảm bảo nợ xấu ở mức an toàn.

Đẩy mạnh xã hội hóa y tế và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển giao, ứng dụng khoa học và công nghệ; phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, thông tin và truyền thông; đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu./.