Tháng 4
08:04 26/10/2018

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2018

  1. Sản xuất nông nghiệp

Trồng trọt

- Lúa đông xuân: Toàn tỉnh xuống giống được 77.917 ha, bằng 100,28% so với kế hoạch, so với cùng kỳ tăng 0,07% (bằng 54 ha). Nhìn chung, tất cả các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh đều hoàn thành kế hoạch xuống giống.

Đến nay, lúa đông xuân trên địa bàn tỉnh đã thu hoạch được 70.710 ha, đạt 90,75%,  phần còn lại bà con nông tiếp tục thu hoạch. Nguyên nhân do xuống giống trễ hơn so với cùng kỳ năm trước. Các giống lúa được sử dụng chủ yếu như: OM 5451 chiếm tỷ lệ 53,4%, RVT chiếm 12,2%, IR 50404 chiếm 10,3%, Đài thơm 8 chiếm 7,7%, Jasmine chiếm 5% và giống khác chiếm 11,4%. Năng suất ước được 73,11 tạ/ha, tăng 7,11% so với cùng kỳ năm trước (bằng 4,85 tạ/ha).

Tình hình dịch bệnh: Bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại lúa đông xuân như: Chuột, bệnh rầy nâu, đậu ôn cổ bông và bệnh lem lép hạt. Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đang được ngăn chặn kịp thời.

- Lúa hè thu: Ước toàn tỉnh đã xuống giống được 38.299 ha, bằng 49,87% so với kế hoạch (kế hoạch của tỉnh là 76.800 ha). Nguyên nhân do vụ lúa đông xuân thu hoạch trễ hơn so với cùng kỳ nên các ngành chức năng khuyến cáo bà con tập trung xuống giống đúng lịch thời vụ để phòng tránh sâu bệnh.

- Mía: Toàn tỉnh đã xuống giống được 10.705 ha, giảm 1,98% (bằng 217 ha) so với cùng kỳ năm trước, tập trung ở huyện Phụng Hiệp, huyện Long Mỹ, Thành phố Vị Thanh và Thị xã Ngã Bảy. Các giống mía chủ yếu là giống ngắn ngày như ROC 16, K85-92, ROC 22, R570,…

- Cây ngô: Diện tích gieo trồng toàn tỉnh được 1.549 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 1,63% (bằng 25 ha).

- Cây rau các loại: Diện tích gieo trồng cây rau được 6.740 ha, so với năm trước tăng 1,85% (bằng 117,7 ha).

Chăn nuôi

- Ước tính thực hiện trong tháng 4, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

+ Tổng đàn heo (lợn): Ước được 148.958 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,64% (bằng 941con). Trong đó, heo thịt có 130.970 con, tăng 0,57% (bằng 743 con) so với cùng kỳ.

+ Đàn gia cầm: Ước được 3.505 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,86% (bằng 130 ngàn con).

Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, dịch bệnh trên gia súc, gia cầm  chưa xảy ra trong địa bàn tỉnh. Ngành thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y đảm bảo an toàn thực phẩm.

Thủy sản

- Về diện tích

Trong tháng, diện tích nuôi thủy sản các loại ước tính được 70 ha, tăng  2,09% (bằng 1,4 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế từ đầu năm đến nay, diện tích nuôi thủy sản được 1.938 ha, so với cùng kỳ năm trước giảm 0,77% (bằng 15 ha).

- Về sản lượng

Trong tháng, tổng sản lượng thủy sản ước được 5.028 tấn, tăng 1,33% (bằng 65,9 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể như sau:

+ Thủy sản nuôi trồng được 4.747 tấn, tăng 1,54% (bằng 72 tấn).

+ Thủy sản khai thác được 281 tấn, giảm 2,2% (bằng 6,3 tấn).

Lũy kế từ đầu năm đến nay, tổng sản lượng thủy sản ước tính được 20.855 tấn, tăng 0,92% (bằng 190 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

+ Thủy sản nuôi trồng được 19.798 tấn, tăng 1,08 (bằng 212 tấn).

+ Thủy sản khai thác được 1.057 tấn, giảm 2,09% (bằng 22,5 tấn).

Nhìn chung: Tình hình sản xuất nông nghiệp tháng 4 năm 2018, ngành nông nghiệp tập trung vào công tác phòng chống rầy nâu, sâu cuốn lá, đạo ôn lá, đạo ôn cổ bông, lem lép hạt và thu hoạch dứt điểm lúa đông xuân. Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp tập trung chỉ đạo xuống giống lúa hè thu 2018 đúng quy trình kỹ thuật, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, phòng dịch trên gia súc, gia cầm.

  1. 2. Tình hình sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tháng 4 năm 2018, tăng 10,67% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể:

- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,20%. Trong đó, ngành sản xuất đồ uống tăng 37,33%, ngành sản xuất trang phục tăng 37,87%; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,81%; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 29,55%.

So với 4 tháng đầu năm 2017, chỉ số IIP 4 tháng đầu năm 2018 tăng 19,95%, cụ thể:

- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 20,27%. Trong đó, ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 101,18% là ngành có chỉ số tăng cao nhất trong nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo; Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 9,87%; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,43%. Trong đó, ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 16,08%.

Giá trị sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 4 năm 2018:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 2.033.024 triệu đồng, tăng 3,49% so với tháng trước và tăng 16,18% so với cùng kỳ năm trước.

- Tính theo giá thực tế, được 2.772.761 triệu đồng, tăng 3,69% so với tháng trước và tăng 19,45% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất, sản xuất thuốc hóa dược liệu… tăng sản lượng sản xuất để đáp ứng cho nhu cầu của thị trường, nên làm tăng đột biến ở các ngành này nói riêng giá trị của toàn tỉnh nói chung.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 4 tháng năm 2018:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 7.568.933 triệu đồng, tăng 17,62% so với cùng kỳ năm trước và đạt 32,42% so với kế hoạch năm.

- Tính theo giá thực tế, được 10.332.930 triệu đồng, tăng 19,55% so với cùng kỳ năm trước và đạt 34,05% so với kế hoạch năm.

Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có 2 khu công nghiệp, 3 cụm công nghiệp tập trung, đã thu hút được 48 dự án với tổng vốn đầu tư trên 68.178 tỷ đồng vốn trong nước và trên 763,7 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Trong đó, 33 doanh nghiệp trong khu công nghiệp và trên 131 doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp đang hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đóng góp giá trị trên 7.977 tỷ đồng (theo giá thực tế), chiếm tỷ trọng trên 98,91 % trong tổng giá trị của toàn tỉnh và tăng 19,56% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp lớn trong khu công nghiệp sau thời gian đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định và có tăng sản lượng trong những tháng vừa qua, nên làm tăng giá trị sản xuất một số ngành như: Ngành sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy (tăng 217,59%); Ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (tăng 54,97%); Ngành sản xuất thuốc, hóa dược liệu (tăng 41,78%); Ngành sản xuất các sản phẩm từ khoán phi kim loại (tăng 315,24%);...Vì vậy, giá trị  sản xuất công nghiệp chung của toàn tỉnh tăng so với cùng kỳ.

Nhìn chung, 4 tháng đầu năm 2018, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối đồng đều và ổn định. Tuy nhiên, dù đã có sự tăng trưởng, nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về giá, thị trường xuất khẩu và một số yếu tố khác như: Điện, xăng dầu,... Do vậy, để hoàn thành kế hoạch năm 2018, các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp đang đầu tư sớm đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

  1. 3. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16 tháng 4 năm 2018, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2018 là 17.365.927 triệu đồng), bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.955.927 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.210.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.200.000 triệu đồng.

Đến đầu tháng 4 năm 2018, các Khu công nghiệp và Cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đã thu hút được 49 dự án đầu tư, gồm 48 dự án đầu tư sản xuất kinh doanh và 01 dự án đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng, với tổng số vốn đăng ký đầu tư là 68.553.100 triệu đồng và 763,7 triệu USD, với quy mô diện tích đăng ký khoảng 659.410 ha, đã giao mặt bằng được 520.190 ha.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 4 năm 2018 là 1.569.675 triệu đồng, bằng 101,93% so với cùng kỳ năm trước và bằng 105,32% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư thực hiện tăng so với tháng trước là do: Nguồn vốn XDCB năm 2018 đã phân bổ ngay từ đầu năm, nên các chủ đầu tư không gặp khó khăn về nguồn vốn, công trình được triển khai thi công liên tục; Tháng cao điểm thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2018.

Ước tính 4 tháng đầu năm 2018, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 5.857.850 triệu đồng, bằng 104,41% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 33,90% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 645.650 triệu đồng, bằng 144,33% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 34,55% so với kế hoạch năm.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 390.500 triệu đồng, bằng 97,37% so với cùng kỳ năm trước và đạt 32,27% so với kế hoạch năm.              

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 4.821.700 triệu đồng, bằng 101,25% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 33,96% so với kế hoạch năm.

  1. Thương mại và dịch vụ

4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ:

Ước thực hiện tháng 4 năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.091.940 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 104,46% và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,21%.

Bước qua tháng 4, thị trường hàng hóa sôi động hơn, lượng hàng hóa phục vụ cho nhu cầu người dân trong các ngày nghỉ lễ lớn trong năm: Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 ÂL, 30/4, 1/5. Đặc biệt, nhu cầu hàng hóa phục vụ cho Tết cổ truyền Chol Chnam Thmay của người dân tộc Khmer (diễn ra trong 3 ngày 14,15,16 tháng 4) cũng không nhỏ đã góp phần làm tổng mức trong tháng 4 tăng khá cao so với tháng trước (tăng 6,41%).

Đối với ngành lưu trú, ăn uống, du lịch, lữ hành cũng tăng so với tháng trước, do đây là tháng có nhiều ngày nghỉ lễ, Tết (Tết cổ truyền Chol Chnam Thmay của người dân tộc Khmer), là dịp để tổ chức tham quan, du lịch, nghỉ ngơi. Vì vậy, doanh thu của những ngành này cũng tăng khá cao so với tháng trước (tăng 6,74%).

Riêng ngành dịch vụ khác trong tháng lại có xu hướng giảm so với tháng trước (giảm 12,24%). Hầu hết các nhóm dịch vụ trong tháng đều có mức tăng khá tốt trong tháng 4 này như: Nhóm dịch vụ hỗ trợ, nhóm giáo dục, nhóm sửa chữa, và nhóm dịch vụ khác. Chỉ riêng nhóm vui chơi, giải trí có mức giảm đáng kể (giảm 19%), thực tế là hoạt động vui chơi, giải trí trong tháng 4 vẫn rất sôi động và có mức tăng tốt, do nhu cầu tăng trong những ngày nghỉ lễ, Tết. Tuy nhiên, hoạt động xổ số được xếp vào nhóm vui chơi, giải trí lại giảm mạnh và chiếm tỷ trọng rất lớn trong nhóm này nói riêng và trong tổng ngành dịch vụ nói chung nên đã kéo ngành dịch vụ của tỉnh trong tháng 4 giảm hơn so với tháng trước.

Ước thực hiện 4 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 12.255.656 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 106,06%.

Hiện nay đang là mùa nắng nóng, tình trạng xâm nhập mặn đã diễn ra ở một số vùng, ảnh hưởng đến ngành nông nghiệp và đời sống của người dân. Vì vậy, để trong thời gian tới có thể đạt được kế hoạch đã đề ra thì các cấp lãnh đạo cần đưa ra phương hướng hoạt động cụ thể cho ngành thương mại - dịch vụ nói chung và kinh tế địa phương nói riêng. Quan tâm chú ý đến việc đầu tư, xây dựng ngành dịch vụ để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu người dân.

4.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Ước thực hiện tháng 4 năm 2018, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 74,067 triệu USD, so với tháng trước bằng 97,80% và so với cùng kỳ bằng 83,02%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 50,769 triệu USD so với tháng trước bằng 107,02% và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,40%.

Nguyên nhân ước giá trị xuất trực tiếp tăng so với tháng trước là do trong tình hình hiện nay, nhóm hàng thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đang có nhiều điều kiện thuận lợi khi Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương  (CPTPP) chính thức được ký kết sẽ mở ra cơ hội lớn góp phần thúc đẩy các sản phẩm hàng hóa của Việt Nam, đặc biệt là thủy sản được xuất khẩu dễ dàng hơn sang các thị trường lớn như: Nhật Bản, Austraylia, Canada hay Mexico và sẽ mang lại giá trị lớn hơn. Vì vậy, dự đoán trong tháng tới giá trị xuất khẩu có thể sẽ tăng.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 25,498 triệu USD so với tháng trước bằng 90,10% và so với cùng kỳ bằng 62,82%.

Ước thực hiện 4 tháng đầu năm 2018, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 315,989 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 114,37% và so với kế hoạch năm đạt 29,81%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 184,466 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 110,19% và so với kế hoạch năm đạt 25,76%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 110,642 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 127,16% và so với kế hoạch năm đạt 40,98%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 227 ngàn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 9,03% và so với kế hoạch năm đạt 5,68%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 20,654 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 106,69% và so với kế hoạch năm đạt 29,51%.

Mặc dù, việc đàm phán Hiệp định CPTPP đã mang lại nhiều cơ hội đoán đầu cho các doanh nghiệp trong việc xuất khẩu hàng hóa nhưng hiện nay tình hình vẫn còn phức tạp và đối mặt với nhiều khó khăn. Những yêu cầu khắt khe về an toàn vệ sinh, kiểm dịch sản phẩm, chất lượng sản phẩm, cũng như các rào cản phi thuế quan khác sẽ là những thách thức đặt ra cho các Doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu. Do vậy, các Doanh nghiệp cần chủ động nghiên cứu các giải pháp hiệu quả để ứng phó kịp thời với những diễn biến phức tạp của thị trường, từng bước nâng tầm chất lượng sản phẩm nhằm tạo dựng thương hiệu uy tín và lấy được lòng tin của người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu, để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hàng hóa xuất khẩu có xuất xứ từ Việt Nam có thể thâm nhập và mở rộng thị trường ngày càng lớn mạnh, tiến tới đạt mục tiêu gia tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu chung qua từng năm.

4.3. Tình hình giao thông vận tải

Ước thực hiện 4 tháng năm 2018, tổng doanh thu đường bộ, đường sông và dịch vụ, đại lý hỗ trợ vận tải được 417.542 triệu đồng, so với cùng kỳ bằng 107,54%. Trong đó, đường bộ được 238.155 triệu đồng, bằng 117,31% so với cùng kỳ. Đường sông được 179.387 triệu đồng, bằng 96,84% so với cùng kỳ năm trước.

Tháng 4 là tháng an toàn giao thông trọng điểm trong năm, đặc biệt trong tháng có kỷ niệm các ngày lễ Giỗ tổ Hùng Vương, lễ 30 - 4 thống nhất đất nước nên được các ngành chức năng đặc biệt quan tâm. Vì vậy, công việc tuần tra kiểm soát, kiên quyết xử lý nghiêm các phương tiện tham gia giao thông không đảm bảo an toàn, lái xe không có Giấy phép theo quy định, xử lý nghiêm trường hợp chở quá tải, quá số người quy định và chạy quá tốc độ cho phép được tăng cường thực hiện thường xuyên liên tục hơn nhằm đảm bảo hạn chế xảy ra tai nạn gaio thông, đảm bảo an toàn cho người tham gia giao thông trong tháng cao điểm. Cụ thể:

Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa:

Ước thực hiện tháng 4 năm 2018, toàn tỉnh vận chuyển được 784.580 tấn (33.974.562 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 89,03% (88,40%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,64% (130,91%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 261.690 tấn (16.574.082 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 77,68% (81,18%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 143,26% (290,50%).

- Đường sông thực hiện được 522.890 tấn (17.400.480 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 96,06% (96,59%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 83,11% (85,94%).

Ước thực hiện 4 tháng năm 2018, toàn tỉnh vận chuyển được 3.840.041 tấn (168.961.855 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 108,03% (130,19%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 1.475.311  tấn (94.884.084 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 146,38% (182,13%).

- Đường sông thực hiện được 2.364.730 tấn (74.077.771 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 92,85% (95,36%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách:

Ước thực hiện tháng 4 năm 2018, vận chuyển được 9.768.579 lượt hành khách (59.519.706 HK.km), so với tháng trước bằng 102,42% (103,06%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 106,87% ( 107,06%). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 8.178.328 lượt hành khách (45.839.237 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 101,23% (101,39%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,07% (102,80%).

- Đường sông vận chuyển được 1.590.251 lượt hành khách (13.680.469 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 108,98% (109,09%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 124,01% (124,3 %).

Ước thực hiện 4 tháng năm 2018, vận chuyển được 38.768.133 lượt hành khách (234.440.505 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 104,17% (104,11%). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 32.730.109 lượt hành khách (183.120.525 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 101,94% (101,14%).

- Đường sông vận chuyển được 6.038.024 lượt hành khách (51.319.980 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 118,21% (116,30%).

  1. 5. Tài chính - tín dụng

5.1. Tài chính

 Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 4 năm 2018, ước được 560.539 triệu đồng, luỹ kế được 3.642.288 triệu đồng, đạt 56,62% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Nếu loại trừ tồn quỹ ngân sách năm 2017 mang sang được 1.307.903 triệu đồng, thì tổng thu ngân sách nhà nước lũy kế của 4 tháng được 2.334.385 triệu đồng, đạt 36,29% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 245.000 triệu đồng, lũy kế được 1.028.726 triệu đồng, đạt 37,61% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Tổng chi ngân sách địa phương tháng 4 năm 2017 được 752.021 triệu đồng, luỹ kế được 2.236.164 triệu đồng, đạt 37,32% dự toán Trung ương giao, đạt 36,80% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi xây dựng cơ bản được 393.082 triệu đồng, luỹ kế được 923.143 triệu đồng, đạt 38,84% dự toán Trung ương giao, đạt 39,28% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

5.2. Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 31/3/2018, huy động vốn trên địa bàn được 10.997 tỷ đồng, tăng 3,71% so với cuối năm 2017. Vốn huy động đáp ứng được 52,51% cho hoạt động tín dụng. Ước đến ngày 30/4/2018, huy động vốn trên địa bàn được 11.202 tỷ đồng, tăng trưởng 1,86% so với cuối tháng trước.

Cho vay trên địa bàn đến ngày 31/3/2018 được 20.942 tỷ đồng, tăng 4,05% so với cuối năm 2017. Ước đến 30/4/2018, tổng dư nợ được 21.343 tỷ đồng, tăng trưởng 1,91% so với cuối tháng trước.

 Nợ xấu đến ngày 31/3/2018 là 526 tỷ đồng chiếm 2,51% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 30/4/2018, nợ xấu vẩn kiểm soát ở mức dưới 3% trên tổng dư nợ.

  1. Tình hình văn hóa - xã hội và an toàn giao thông:

6.1. Văn hóa - xã hội:

 Ngành Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã thực hiện được 470 m2 panô các loại, 18 băng rol, treo và tháo gỡ 750 cờ các loại, 80 lượt phóng thanh cổ động, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành. Đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức giao lưu trong và ngoài tỉnh 02 cuộc; xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 95 buổi, thu hút 47.520 lượt người xem.

Trong tháng, Đoàn ca múa nhạc dân tộc tỉnh đã xây dựng và biểu diễn với 13 suất diễn phục vụ trên 7.800 lượt người xem. Tham gia giao lưu văn nghệ Tết Chôl Chnăm Thmây đồng bào Khmer tại huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang và huyện Hồng Dân tỉnh Bạc Liêu.

Đội chiếu phim lưu động tổ chức 15 buổi chiếu phim lưu động, thu hút 4.800 lượt người xem. Thực hiện chiếu phim lưu động phục vụ Kỷ niệm 43 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/04/1975 - 30/04/2018), 132 năm Quốc tế lao động (01/5/1886 - 01/5/2018); 45 năm Chiến thắng 75 lượt tiểu đoàn địch của quân và dân Khu 9.

Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh đã đăng cai tổ chức giải vô địch Karate miền Nam lần thứ I diễn ra từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 4 năm 2018. Tham dự giải có 250 Vận động viên đến từ 15 đơn vị: Đồng Tháp, Thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Bình Dương, Cần Thơ, Đồng Nai, An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Tây Ninh, Sóc Trăng, Bình Phước, Bình Thuận và Hậu Giang. Kết quả tham dự giải vô địch Karate miền Nam lần thứ I năm 2018, tỉnh Hậu Giang đạt: 04 huy chương vàng, 03 huy chương bạc và 04 huy chương đồng.

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã tổ chức phiên Giao dịch việc làm lần thứ III năm 2018 tại Văn phòng Bảo hiểm thất nghiệp – Dịch vụ việc làm thị xã Ngã  Bảy. Tại phiên giao dịch có 05 doanh nghiệp tham gia tuyển dụng lao động; có 140 lao động được tư vấn việc làm; 17 lao động đăng ký tìm việc làm và 01 lao động đăng ký học nghề. Phối hợp với Ban Chấp hành Huyện đoàn Phụng Hiệp tư vấn hướng nghiệp cho đoàn viên, thanh niên và học sinh trên địa bàn huyện năm 2018.  Kết quả đã tổ chức tư vấn hướng nghiệp cho 150 đoàn viên, thanh niên và học sinh, cấp phát trên 150 bộ tờ rơi thông tin việc làm trong nước cũng như xuất khẩu lao động.

Trung tâm Công tác xã hội tỉnh tổ chức Tọa đàm Ngày công tác xã hội Việt Nam với chủ đề “Công tác xã hội – Vì hạnh phúc nhân dân” với 60 đại biểu tham dự.

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tổ chức đưa, đón 24 đối tượng người có công với cách mạng đi tham quan tại huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Đoàn đi học tập kinh nghiệm về công tác quản lý công trình ghi công liệt sĩ tại các tỉnh miền Trung. Triển khai thực hiện thí điểm Đề án số hóa hồ sơ người có công với cách mạng (giai đoạn 2). Tiếp nhận 01 hài cốt liệt sĩ chuyển đến Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh.

6.2. Tình hình an toàn giao thông:

Theo số liệu của Ban an toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 4 năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 11 vụ tai nạn giao thông, tập trung ở đường bộ. So với tháng trước tăng 04 vụ và bằng với số vụ của cùng kỳ năm trước. Trong đó, có tổng số 09 người chết, so với tháng trước tăng 02 người và so với cùng kỳ năm trước tăng 03 người. Với số vụ tai nạn trên có 07 người bị thương, so với tháng trước tăng 07 người và so cùng kỳ năm trước tăng 02 người.

Trong 4 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 47 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 46 vụ, đường sông 01 vụ), làm chết 41 người và bị thương 23 người chủ yếu tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 19 vụ (đường bộ tăng 18 vụ, đường sông tăng 01 vụ), tăng 17 người, tăng 13 người bị thương, tập trung tất cả ở đường bộ./.