Tháng 5
08:04 26/10/2018

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2018

  1. Sản xuất nông nghiệp

Trồng trọt

- Lúa đông xuân: Toàn tỉnh xuống giống được 77.917 ha, bằng 100,28% so với kế hoạch, so với cùng kỳ tăng 0,07% (bằng 54 ha). Nhìn chung, tất cả các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh đều hoàn thành kế hoạch xuống giống.

Đến nay, lúa đông xuân trên địa bàn tỉnh đã thu hoạch xong. Năng suất được 73,16 tạ/ha, tăng 7,17% (bằng 4,90 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng toàn tỉnh được 570.044 tấn, tăng 7,25% (bằng 38.523 tấn) so với năm trước. Năng suất, sản lượng tăng chủ yếu là do thời tiết thuận lợi, phù sa bồi đắp, kỹ thuật chăm sóc tốt hơn so với cùng kỳ.

- Lúa hè thu: Ước toàn tỉnh đã xuống giống được 69.599 ha, bằng 90,62% so với kế hoạch (kế hoạch của tỉnh là 76.800 ha).

- Mía: Toàn tỉnh đã xuống giống được 10.705 ha, giảm 1,98% (bằng 216 ha) so với cùng kỳ năm trước, tập trung ở huyện Phụng Hiệp, huyện Long Mỹ, Thành phố Vị Thanh và Thị xã Ngã Bảy. Các giống mía chủ yếu là giống ngắn ngày như ROC 16, K85-92, ROC 22, R570,…

 - Cây ngô: Diện tích gieo trồng toàn tỉnh được 1.549 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 1,63% (bằng 25 ha). Sản lượng thu hoạch được 8.131 tấn, tăng 1,19% (bằng 96 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

- Cây rau các loại: Diện tích gieo trồng cây rau được 6.740 ha, so với năm trước tăng 1,85% (bằng 118 ha).

Tình hình dịch bệnh: Hiện nay, rầy nâu trên đồng lúa hè thu đang trưởng thành, phân bổ đều trên các huyện, thị, thành phố trong tỉnh. Ngành chức năng đang tích cực theo dõi và hướng dẫn bà con nông dân có biện pháp phòng trừ hiệu quả.  

Chăn nuôi

- Ước tính thực hiện trong tháng 5, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

+ Tổng đàn heo (lợn): Ước được 150.950 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 1% (bằng 2.933 con). Trong đó, heo thịt có 132.840 con, tăng 2,01% (bằng 2.613 con) so với cùng kỳ.

+ Đàn gia cầm: Ước được 3.427 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,54% (bằng 52 ngàn con).

Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, các loại dịch bệnh trên gia súc, gia cầm chưa xảy ra trong địa bàn tỉnh. Ngành thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y đảm bảo an toàn thực phẩm.

Thủy sản

- Về diện tích

Trong tháng, diện tích nuôi thủy sản các loại ước tính được 77 ha, tăng  2,18% (bằng 1,5 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế từ đầu năm đến nay, diện tích nuôi thủy sản được 2.010 ha, so với cùng kỳ năm trước giảm 0,67% (bằng 13,5 ha).

- Về sản lượng

Trong tháng, tổng sản lượng thủy sản ước được 5.444 tấn, tăng 0,55% (bằng 30 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể như sau:

+ Thủy sản nuôi trồng được 5.163 tấn, tăng 0,77% (bằng 40 tấn).

+ Thủy sản khai thác được 281 tấn, giảm 3,34% (bằng 10 tấn).

Lũy kế từ đầu năm đến nay, tổng sản lượng thủy sản ước tính được 26.303 tấn, tăng 0,86% (bằng 225 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

+ Thủy sản nuôi trồng được 24.960 tấn, tăng 1,02 (bằng 252 tấn).

+ Thủy sản khai thác được 1.343 tấn, giảm 1,99% (bằng 27 tấn).

Trong tháng 5, ngành nông nghiệp tập trung vào công tác phòng chống rầy nâu, sâu cuốn lá, đạo ôn lá, vàng lùn - lùn xoắn lá gây hại lúa hè thu. Bên cạnh đó, ngành nông nghiệp tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, phòng dịch trên gia súc, gia cầm.

  1. 2. Tình hình sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tháng 5, tăng 11,81% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể:

- Ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 11,98%. Trong đó, sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 37,31% và là ngành công nghiệp có chỉ số phát triển cao nhất trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 9,79%. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,33%

So với 5 tháng đầu năm 2017, chỉ số IIP 5 tháng đầu năm 2018 tăng 16,98%, cụ thể:

- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,36%. Trong đó, ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 86,55% là ngành có chỉ số tăng cao nhất trong nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo; Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 9,71%; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,56%. Trong đó, ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 8,22%.

Giá trị sản xuất công nghiệp

Trong những tháng gần đây, lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đã có nhiều dự án mới đi vào hoạt động, với nhiều chính sách hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, cộng đồng doanh nghiệp trong tỉnh đã không ngừng lớn mạnh, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 5:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 2.022.453 triệu đồng, tăng 4,51% so với tháng trước và tăng 7,44% so với cùng kỳ năm trước.

- Tính theo giá thực tế, được 2.751.187 triệu đồng, tăng 3,39% so với tháng trước và tăng 10,70% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do các ngành có giá trị lớn hoạt động ổn định và hiệu quả nên làm tăng giá trị sản xuất so với tháng trước và cùng kỳ như; Ngành sản xuất đồ uống; Ngành sản xuất trang phục; Ngành sản xuất giày dép; Ngành sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy; Ngành sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất...

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 5 tháng:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 9.493.515 triệu đồng, tăng 14,14% so với cùng kỳ năm trước và đạt 40,96% so với kế hoạch năm.

- Tính theo giá thực tế, được 12.972.323 triệu đồng, tăng 16,57% so với cùng kỳ năm trước và đạt 42,75% so với kế hoạch năm.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có trên 200 doanh nghiệp và hơn 4.644 cơ sở sản xuất cá thể hoạt động sản xuất công nghiệp, những ngành chiếm tỷ trong lớn và có tốc độ tăng cao so với mức tăng chung của tỉnh như; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (chiếm tỷ trọng 8,71% và tăng 34,31% so với cùng kỳ); Sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy (chiếm tỷ trọng 17,38% và tăng 143,73% so với cùng kỳ); Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (chiếm tỷ trọng 7,14% và tăng 39,95% so với cùng kỳ)… Nguyên nhân tăng chủ yếu là do các doanh nghiệp có giá trị sản xuất lớn hoạt động trong các ngành kể trên, đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định từ đầu năm đến nay như; Công ty TNHH giấy Lee & Man Việt Nam; Công ty TNHH Tập đoàn quốc tế Runlong-Hậu Giang; Công ty TNHH MTV dinh dưỡng nông nghiệp quốc tế Hậu Giang; Công ty TNHH MTV nước AquaOne Hậu Giang; Công ty Cổ Phần dầu khí Bình Minh; Công ty TNHH MTV Xi măng Cần Thơ – Hậu Giang...

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đang hoạt động ổn định đầu tư mở rộng nhà máy tăng sản lượng sản xuất như; Công ty TNHH Lạc Tỷ II… những doanh nghiệp này đóng góp trên 3.000 tỷ đồng (giá trị sản xuất theo giá thực tế) vào giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh, đã làm tăng đột biến giá trị sản xuất của các ngành này nói riêng và giá trị của toàn tỉnh nói chung so với cùng kỳ.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 6 tháng:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 11.498.046 triệu đồng, tăng 13,10% so với cùng kỳ năm trước và đạt 49,24% so với kế hoạch năm.

- Tính theo giá thực tế, được 15.779.355 triệu đồng, tăng 15,46% so với cùng kỳ năm trước và đạt 51,99% so với kế hoạch năm.

Nhìn chung, 6 tháng năm 2018, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối đồng đều và ổn định. Tuy nhiên, dù đã có sự tăng trưởng, nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về giá, thị trường xuất khẩu và một số yếu tố khác như: Điện, xăng dầu,... Do vậy, để hoàn thành kế hoạch năm 2018, các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp đang đầu tư sớm đi vào hoạt động như; Công ty TNHH Masan HG; Công ty TNHH Number One Hậu Giang… đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

  1. 3. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16 tháng 5 năm 2018, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2018 là 17.365.927 triệu đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.955.927 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.210.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.200.000 triệu đồng.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 5 là 1.627.400 triệu đồng, bằng 103,52% so với cùng kỳ năm trước và bằng 104,02% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư thực hiện tăng so với tháng trước là do:

Chủ đầu tư đẩy nhanh việc đền bù, giải phóng mặt bằng, đấu thầu, chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm tiến độ thi công các công trình, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh; triển khai nhanh việc lập hồ sơ, thủ tục các dự án mới đã bố trí vốn bổ sung; thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2018 đạt kết quả cao.

Ước tính 5 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 7.480.120 triệu đồng, bằng 104,14% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 43,07% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 900.890 triệu đồng, bằng 150,04% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 46,04% so với kế hoạch năm.         

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 568.850 triệu đồng, bằng 113,91% so với cùng kỳ năm trước và đạt 47,01% so với kế hoạch năm.            

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 6.010.380 triệu đồng, bằng 98,81% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 42,33% so với kế hoạch năm.

Ước tính 6 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 9.220.070 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (8.771.290 triệu đồng) bằng 105,12% và đạt 53,09% so với kế hoạch năm hiện tại phân bổ (17.365.927 triệu đồng). Trong đó vốn ngân sách nhà nước thực hiện được 1.141.470 triệu đồng, bằng 151,12% so với cùng kỳ năm trước và đạt 58,36% so với kế hoạch điều chỉnh hiện tại (1.955.927 triệu đồng), chiếm tỷ trọng 12,38% vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.

  1. Thương mại và dịch vụ

4.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ:

Ước thực hiện tháng 5 năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 2.838.835 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 93,47% và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,27%

Bước qua tháng 5, do giá cả của một số hàng hóa tăng so với tháng trước nên nhu cầu tiêu dùng trong dân giảm, thị trường hàng hóa chỉ sôi động trong những ngày đầu tháng. Ngoài ra, thời tiết bắt đầu bước vào mùa mưa nên hoạt động vui chơi, giải trí giảm và cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành giảm so với tháng trước.

Ước thực hiện 5 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 15.038.546 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,89%.

Dự tính 6 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 17.726.241 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 107,92%. Chia ra:

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 13.041.341 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 106,98%.

- Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 1.692.551 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 109,69%.

- Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 2.992.349 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 111,16%.

Dự tính 6 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành toàn tỉnh tăng 7,92% so với cùng kỳ, đây là tốc độ tăng khá cao. Trong đó, tổng mức bán lẻ tăng 6,98%, các nhóm ngành hàng có tốc độ tăng là lương thực, thực phẩm (tăng 9,85%), vật phẩm giáo dục (tăng 7,49%), xăng, dầu (tăng 12,72%), nhiên liệu khác trừ xăng, dầu(tăng 10,74%) các nhóm hàng còn lại có mức tăng trung bình. Trong 6 tháng đầu năm, loại hình kinh tế tư nhân tiếp tục có tốc độ tăng cao (tăng 9,05%), đây là điều phù hợp với xu thế kinh tế, nhờ vào các chính sách ưu đãi các doanh nghiệp hoạt động thương mại đầu tư mở rộng thị trường tại Hậu Giang. Ngoài ra, do ảnh hưởng của giá cả hàng nông sản trong những tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ như: giá lúa, gạo, thịt heo, rau xanh đã góp phần làm tăng tổng mức bán lẻ trong 6 tháng đầu năm.

Đối với ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm có tốc độ tăng khá cao (tăng 9,69%) là do ảnh hưởng của doanh thu hoạt động xổ số nằm trong nhóm ngành giải trí (tăng 16,82%), do đây là nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu ngành dịch vụ. Nếu loại trừ yếu tố này thì hoạt động ngành dịch vụ nói chung trên địa bàn tỉnh có tốc độ tăng không cao. Do đó, ngành dịch vụ của tỉnh nhìn chung còn kém phát triển, mặc dù một số khu vui chơi, giải trí đã được đưa vào hoạt động nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân.

Ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống có tốc độ tăng 11,16% do nhu cầu tiêu dùng trong những tháng đầu năm tăng, đặc biệt là vào dịp lễ, Tết. Ngoài ra, việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được cơ quan chức năng quan tâm nên tạo được sự yên tâm đối với người tiêu dùng, điều đó đã tạo điều kiện cho người bán phát triển kinh doanh, cũng như người mua yên tâm sử dụng.

Nhìn chung dự tính trong 6 tháng đầu năm, ngành thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh có tốc độ tăng trưởng khá tốt, có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, các ngành dịch vụ cần được quan tâm chú ý đến việc đầu tư, xây dựng ngành dịch vụ để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu người dân.

4.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Ước thực hiện tháng 5, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 77,921 triệu USD, so với tháng trước bằng 99,50% và so với cùng kỳ bằng 123,18%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 60,229 triệu USD so với tháng trước bằng 91,34% và so với cùng kỳ năm trước bằng 136,28%.

Nguyên nhân ước giá trị xuất trực tiếp giảm so với tháng trước là do trên địa bàn tỉnh giá trị xuất khẩu chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn là thủy sản. Hiện tại các thị trường nhập khẩu lớn là các nước Châu Âu, Mỹ đang ngày càng kiểm soát chặt chẽ về chất lượng của sản phẩm, cách thức chế biến, đóng gói và nhãn mác, đồng thời đưa ra một số quy định mới về chương trình giám sát cũng như chứng thực nguồn gốc xuất xứ nhằm đảm bảo sản phẩm được nhập khẩu vào các thị trường này được an toàn, chất lượng. Việc này đã gây ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp trong quá trình ký kết hợp đồng xuất khẩu. Nếu muốn xuất khẩu được thuận lợi thì đòi hỏi các doanh nghiệp phải cập nhật được thông tin chính xác đáp ứng được  đầy đủ những nguyên tắc, quy định cơ bản đối với các sản phẩm xuất khẩu vào các thị trường truyền thống này. Vì vậy, trong tháng tới giá trị xuất khẩu có thể sẽ giảm.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 17,692 triệu USD so với tháng trước bằng 143,01% và so với cùng kỳ bằng 92,81%.

Ước thực hiện 5 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 400,877 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 116,24% và so với kế hoạch năm đạt 37,82%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 259,866 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 122,81% và so với kế hoạch năm đạt 36,29%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 115,208 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,61% và so với kế hoạch năm đạt 42,67%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 526 ngàn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 16,13% và so với kế hoạch năm đạt 13,15%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 25,277 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 105,55% và so với kế hoạch năm đạt 36,11%.

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 490,473 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 107,38% và so với kế hoạch năm đạt 46,27%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 319,636 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 112,29% và so với kế hoạch năm đạt 44,64%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 140,013 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 99,90% và so với kế hoạch năm đạt 51,86%. Nguyên nhân ước giá trị nhập khẩu giảm so với cùng kỳ là do từ đầu năm đến nay, một số doanh nghiệp có giá trị nhập khẩu lớn giảm nhập khẩu các máy móc thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất. Vì vậy, ước giá trị nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm có thể giảm hơn so với cùng kỳ.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 675 ngàn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 20,17% và so với kế hoạch năm đạt 16,88%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 30,149 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 105,43% và so với kế hoạch năm đạt 43,07%.

Hiện nay, tình hình xuất khẩu đang ngày càng khó khăn và có diễn biến phức tạp bởi các quy định mới về Luật thực phẩm do các nước nhập khẩu đặt ra. Do đó, để có thể hoàn thành kế hoạch đã đề ra đòi hỏi các ngành chức năng cần có các giải pháp hiệu quả hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc nắm bắt thông tin, hiểu rõ hơn những quy định mới từ các nước nhập khẩu đặt ra để từ đó có thể chủ động lên kế hoạch sản xuất kinh doanh hợp lý, không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, tiến tới mục tiêu tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị kinh tế cao, xây dựng được thương hiệu sản phẩm uy tín trên thị trường thế giới.

Song song đó, các Doanh nghiệp cũng phải quan tâm đúng mức đến vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, kiểm soát chặt chẽ dư lượng kháng sinh trong sản phẩm chế biến theo quy định của các nước nhập khẩu, từng bước lấy được lòng tin, sự tín nhiệm của người dân ở các nhập khẩu. Đồng thời, phải nâng cao chất lượng và quảng cáo thương hiệu nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho sản phẩm thủy sản của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường các nước nhập khẩu truyền thống và tiềm năng mới khác, góp phần nâng cao kim ngạch xuất khẩu chung .

4.3. Tình hình giao thông vận tải

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi dịch vụ hỗ trợ vận tải được 605.290 triệu đồng, so với cùng kỳ bằng 105,90%. Trong đó, đường bộ được 344.596 triệu đồng, bằng 115,55% so với cùng kỳ, đường sông được 260.694 triệu đồng, bằng 95,38% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giá trị vận tải đường sông giảm là do trong những tháng đầu năm 2018 có một doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực vận chuyển hàng hóa đường sông chuyển đổi loại hình hoạt động kinh doanh sang cho thuê phương tiện vận tải đường thủy. Vì vậy, giá trị có phần giảm so với cùng kỳ.

Để chuẩn bị tốt cho dịp nghỉ lễ 30/4 và Quốc tế lao động 1/5, Sở Giao thông vận tải đã phối hợp với các ngành chức năng có phương án tăng cường bảo đảm năng lực và chất lượng phương tiện, đáp ứng tốt nhu cầu vận tải trong đợt cao điểm, giá vé vận tải hành khách đảm bảo đúng giá cước được niêm yết không tăng. Đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn, thuận lợi cho hành khách tại các bến xe, không để xảy ra việc đầu cơ vé, tăng giá vé, giá cước vận tải trái phép. Cụ thể:

Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa:

Ước thực hiện tháng 5, toàn tỉnh vận chuyển được 824.870 tấn hàng hóa các loại (36.105.930 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 95,52% (94,40%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,89% (123,18%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 285.910 tấn (17.481.040 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 91,94% (89,59%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 141,22% (175,29%).

 - Đường sông thực hiện được 538.960 tấn (18.624.890 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 97,53% (99,41%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,78% (96,30%).

Ước thực hiện 5 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 4.743.891 tấn (209.339.563 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 107,64% (126,27%). Chia ra:

- Đường bộ ước thực hiện được 1.810.501 tấn (115.302.752 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 144,45% (167,67%).

- Đường sông ước thực hiện được 2.933.390 tấn (94.036.811 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 93,01% (96,92%).

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh vận chuyển được 5.523.640 tấn (243.675.306 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 106,40% (126,30%). Chia ra:

- Đường bộ ước thực hiện được 2.076.713 tấn (131.261.744 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 144,52% (171,08%).

- Đường sông ước thực hiện được 3.446.927 tấn (112.413.562 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 91,81% (96,73%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách:

Ước thực hiện tháng 5, toàn tỉnh thực hiện được 9.461.165 lượt hành khách (58.741.593 HK.km), so với tháng trước bằng 98,83% (99,76%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,78% (105,90%). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 7.912.930 lượt hành khách (44.410.103 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 97,66% (97,85%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 100,94% (100,37%).

 - Đường sông vận chuyển được 1.548.235 lượt hành khách (14.331.490 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 105,30% (106,20%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 121,20% (127,71%).

Ước thực hiện 5 tháng, toàn tỉnh thực hiện được 48.033.663 lượt hành khách (292.542.903 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 103,67% (104,24%). Chia ra:

 - Đường bộ vận chuyển được 40.567.321 lượt hành khách (227.076.601 HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 101,55% (100,79%).

- Đường sông vận chuyển được 7.466.342 lượt hành khách (65.466.302 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 116,93% (118,28%).

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh vận chuyển được 57.386.034 hành khách (349.514.982 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 103,52% (104,66%). Chia ra:

- Đường bộ ước thực hiện được 48.376.059 hành khách (270.035.432 HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 101,20% (100,88%).

- Đường sông ước thực hiện được 9.009.975 hành khách (79.479.550 HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 118,01% (119,90%).

  1. 5. Tài chính - tín dụng

5.1. Tài chính

 Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 5 được 550.969 triệu đồng, luỹ kế được 4.715.440 triệu đồng, đạt 73,30% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Nếu loại trừ tồn quỹ ngân sách năm 2017 mang sang được 1.288.705 triệu đồng, thì tổng thu ngân sách nhà nước lũy kế của 5 tháng được 3.426.735 triệu đồng, đạt 53,26% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 255.000 triệu đồng, lũy kế được 1.257.516 triệu đồng, đạt 45,98% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Tổng chi ngân sách địa phương tháng 5 được 659.760 triệu đồng, luỹ kế được 2.883.209 triệu đồng, đạt 48,12% dự toán Trung ương giao, đạt 47,45% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi xây dựng cơ bản được 273.229 triệu đồng, luỹ kế được 1.180.097 triệu đồng, đạt 49,65% dự toán Trung ương giao, đạt 50,21% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

5.2. Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 30/4/2018, huy động vốn trên địa bàn được 11.295 tỷ đồng, tăng 6,52% so với cuối năm 2017. Vốn huy động đáp ứng được 53,93% cho hoạt động tín dụng. Ước đến ngày 31/5/2018, huy động vốn trên địa bàn được 11.405 tỷ đồng, tăng trưởng 0,97% so với cuối tháng trước.

Cho vay trên địa bàn đến ngày 30/4/2018 được 20.944 tỷ đồng, tăng 4,06% so với cuối năm 2017. Ước đến 31/5/2018, tổng dư nợ được 21.213 tỷ đồng, tăng trưởng 1,28% so với cuối tháng trước.

 Nợ xấu đến ngày 30/4/2018 là 508 tỷ đồng chiếm 2,42% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 31/5/2018, nợ xấu vẫn kiểm soát ở mức dưới 3% trên tổng dư nợ.

  1. Tình hình văn hóa - xã hội và an toàn giao thông:

6.1. Văn hóa - xã hội:

 Ngành Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã thực hiện được 970 m2 panô các loại, 35 băng rol, treo và tháo gỡ 1.900 cờ các loại, 85 lượt phóng thanh cổ động, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành. Đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức giao lưu trong và ngoài tỉnh 02 cuộc; xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 90 buổi, thu hút 46.150 lượt người xem.

Thanh tra sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch phối hợp với Phòng An ninh chính trị nội bộ (PA83) Công an tỉnh tiến hành kiểm tra 03 cuộc đối với 05 cơ sở, trong đó: 02 cơ sở quảng cáo, 03 Công ty hoạt động biểu diễn nghệ thuật. Đoàn phát hiện 02 cơ sở quảng cáo vi phạm (quảng cáo làm ảnh hưởng đến mỹ quan đô thị, treo quảng cáo trên cây xanh, cột điện); Đoàn đã tiến hành nhắc nhở, cho tháo dỡ đối với các băng rôn vi phạm và đã tịch thu 09 băng rôn quảng cáo.

Trong tháng, hệ thống thư viện tỉnh và huyện đã phục vụ 85.157 lượt người với 173.446 lượt sách báo, truy cập máy tính; Thư viện tỉnh và huyện cấp mới 250 thẻ bạn đọc. Luân chuyển sách cho cơ sở: 5 lần với 500 bản sách.

Trong tháng 5, Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng thuộc sở Khoa học – Công nghê đã kiểm định định kỳ 101 lượt phương tiện đo các loại trên địa bàn tỉnh Hậu Giang gồm có 18 cân đồng hồ lò xo, 14 cân phân tích, 12 cân kỹ thuật, 02 cân bàn có khí và 55 cột đo xăng dầu. Lũy kế từ đầu năm đến nay đã kiểm định định kỳ 944 lượt phương tiện đo các loại trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, Trong đó, có 327 cân đồng hồ lò xo, 38 cân phân tích, 33 cân kỹ thuật, 01 cân bàn, 01 cân bàn điện tử, 03 cân bàn cơ khí, 10 cấn đĩa và 531 cột đo xăng dầu.

Sở Khoa học – Công nghê đã phối hợp với Chi cục Thuế các huyện thực hiện dán tem niêm phong công tơ tổng 28 cột đo xăng dầu của 12 cơ sở kinh doanh xăng dầu trên địa bàn các huyện: Vị Thủy, Châu Thành, Châu Thành A, Phụng Hiệp và thị xã Long Mỹ. Phối hợp với Chi cục Quản lý thị trường gửi 01 mẫu xăng E5 Ron 92 tại Trung tâm Kỹ thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thành phố Cần Thơ thử nghiệm chất lượng (trong đợt kiểm tra theo phản ánh của Báo).

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các sở, ban, ngành có liên quan tổ chức thực hiện Tháng hành động về “An toàn vệ sinh lao động” năm 2018 trên địa bàn tỉnh. Trong khuôn khổ tháng hành động diễn ra nhiều hoạt động như: tổ chức Lễ phát động với trên 500 đại biểu tham dự; phát hành 100 đĩa CD và treo 05 băng rôn tuyên truyền về “An toàn vệ sinh lao động”; thăm hỏi, tặng quà cho 06 nạn nhân và gia đình có người chết do tai nạn lao động (mỗi phần quà có giá trị từ 1,5 đến 02 triệu đồng); trao Cờ, Bằng khen và Giấy khen của Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội và Cục An toàn lao động cho 04 tập thể và 04 cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện công tác An toàn vệ sinh lao động năm 2017; phối hợp với Sở Xây dựng, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch & Đầu tư, Kho Bạc Nhà nước tỉnh triển khai kế hoạch xây dựng mới và sửa chữa 3.822 căn nhà tình nghĩa cho người có công với cách mạng gặp khó khăn về nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ (trong đó: xây dựng mới: 1.685 căn, sửa chữa: 2.137 căn). Phấn đấu hoàn thành dứt điểm trước 27/7/2018.

- Trong 6 tháng đầu năm, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã cấp mới 169.443 thẻ BHYT cho người nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội khó khăn và người sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn với số tiền trên 59 tỷ đồng; hỗ trợ tiền điện và tiền Tết cho 40.409 lượt hộ nghèo với số tiền gần 17 tỷ đồng.

6.2. Tình hình an toàn giao thông:

Theo số liệu của Ban an toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 5, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ tai nạn giao thông, tập trung ở đường bộ. So với tháng trước giảm 8 vụ và giảm 12 vụ so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có tổng số 03 người chết, giảm 06 người so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Với số vụ tai nạn trên có 01 người bị thương, so với tháng trước giảm 06 người và so cùng kỳ năm trước giảm 05 người.

Trong 5 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 51 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 49 vụ, đường sông 02 vụ), làm chết 44 người và bị thương 24 người chủ yếu tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước tăng 08 vụ (đường bộ tăng 06 vụ, đường sông tăng 02 vụ), số người chết tăng 12 người và tăng 08 người bị thương, tập trung tất cả ở đường bộ./.