Tháng 6
08:04 26/10/2018

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2018

  1. Tăng trưởng kinh tế

Ước tính tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2018 theo giá so sánh 2010 đạt 8,01% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, khu vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,77%; Khu vực sản xuất công nghiệp và hoạt động xây dựng tăng 16,14%; Khu vực dịch vụ tăng 5,37%; Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4,13%.

  1. Tài chính - Tín dụng

2.1 Tài chính:

Ước Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 6 năm 2018, được 844.162 triệu đồng, lũy kế được 5.346.438 triệu đồng, đạt 83,10% dự toán trung và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Nếu loại trừ thu chuyển nguồn năm 2017 mang sang ngoài dự toán đầu năm 2018 được 1.726.373 triệu đồng, thì tổng thu ngân sách nhà nước lũy kế của 6 tháng được 3.620.065 triệu đồng, đạt 56,27% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 211.831 triệu đồng, lũy kế được 1.562.000 triệu đồng, đạt 57,11% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Tổng chi ngân sách địa phương tháng 6 năm 2018, được 889.319 triệu đồng, luỹ kế được 3.858.544 triệu đồng, đạt 63,50% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi thường xuyên được 328.058 triệu đồng, luỹ kế được 1.901.733 triệu đồng, đạt 54,04% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

2.2 Tín dụng:

Đến ngày 31/5/2018, huy động vốn trên địa bàn được 11.477 tỷ đồng, tăng trưởng 1,16% so với tháng trước và tăng 8,24% so với cuối năm 2017. Vốn huy động đáp ứng được 55,16% cho hoạt động tín dụng. Ước đến ngày 30/6/2018, huy động vốn toàn địa bàn được 11.556 tỷ đồng, tăng trưởng 0,69% so với cuối tháng trước.

Tổng dư nợ cho vay (bao gồm ngoại tệ quy đổi VND) đến ngày 31/5/2018, được 20.805 tỷ đồng, tăng 3,37% so với cuối năm 2017. Ước đến ngày 30/6/2018, dư nợ toàn địa bàn được 21.714 tỷ đồng, tăng 4,37% so với cuối tháng trước. Nợ xấu toàn địa bàn là 513 tỷ đồng, chiếm 2,47% trên tổng dư nợ, ước đến ngày 30/6/2018, nợ xấu còn ở mức dưới 3% trên tổng dư nợ.  

  1. Vốn đầu tư và xây dựng

3.1. Vốn đầu tư:

Tính đến ngày 15 tháng 6 năm 2018, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2018 là 17.365.927 triệu đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.955.927 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.210.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.200.000 triệu đồng.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 6 năm 2018 là 1.675.045 triệu đồng, bằng 105,43% so với cùng kỳ năm trước và bằng 98,98% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư thực hiện giảm so với tháng trước là do: Vào mùa mưa nên ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các công trình trọng điểm; kết thúc thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2018; công tác giải phóng mặt bằng triển khai chậm; các dự án của nhà đầu tư thực hiện còn chưa đúng kế hoạch đã đăng ký ở các Khu, cụm Công nghiệp.

Ước tính 6 tháng đầu năm 2018, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 9.220.070 triệu đồng, bằng 105,12% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 53,09% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.132.960 triệu đồng, bằng 150,01% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 57,92% so với kế hoạch năm.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 678.610 triệu đồng, bằng 112,28% so với cùng kỳ năm trước và đạt 56,08% so với kế hoạch năm.                      

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 7.408.500 triệu đồng, bằng 99,96% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 52,17% so với kế hoạch năm.

Để thực hiện hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư XDCB năm 2018 của tỉnh Hậu Giang, Cục Thống kê khuyến nghị một số giải pháp như sau:

Một là: Các sở, ngành cần kiểm tra, đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình XDCB, mà đặc biệt là các công trình trọng điểm trên địa bàn; đồng thời gắn với việc giám sát, kiểm tra chất lượng công trình, nhanh chóng hoàn thành các công trình XDCB đang tồn đọng nhất là các công trình dự án trọng điểm đã bố trí vốn (giao thông, nông nghiệp, y tế, giáo dục, v.v…)

Hai là: Điều chỉnh kế hoạch vốn đối với những công trình dự án triển khai chậm sang các công trình đang thiếu.

Ba là: Đẩy nhanh tiến độ lập thủ tục XDCB đối với các công trình dự án đã được bố trí vốn, nhanh chóng làm thủ tục quyết toán các công trình đã hoàn thành.

Bốn là: Lựa chọn những đơn vị tư vấn thiết kế có đủ năng lực thực hiện các hợp đồng đầu tư xây dựng cơ bản nhằm tránh được thời gian thực hiện dự án kéo dài gây thất thoát, lãng phí làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả vốn đầu tư.

Năm là: Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành cấp tỉnh và các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề vướng mắc trong đầu tư XDCB.

3.2. Xây dựng:

Tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành 6 tháng đầu năm 2018 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 2.940.300 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (năm trước bằng 2.446.500 triệu đồng) bằng 120,18%. Trong đó, loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 1.651.931 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 142,58%; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 1.288.369 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 100,04%. Giá trị ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện 6 tháng đầu năm 2018 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 1.328.870 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (năm trước bằng 1.121.190 triệu đồng) bằng 118,52%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 515.920 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (năm trước bằng 434.000 triệu đồng) bằng 118,88%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 874.575 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (năm trước bằng 733.930 triệu đồng) bằng 119,16%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 220.935 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước (năm trước bằng 157.380 triệu đồng) bằng 140,38%.

Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng thực hiện 6 tháng đầu năm 2018 tăng so với cùng kỳ năm trước là do hiện nay giá cả nhóm hàng vật liệu xây dựng, chi phí máy thi công và chi phí nhân công tăng cao; một số công trình cơ bản đã hoàn thành đưa vào sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư và nhà thầu góp phần làm tăng giá trị sản xuất; tiếp tục thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ, thắt chặt tiết kiệm chi tiêu, kiềm chế lạm phát, chống lãng phí.

Đến nay, tình hình xây dựng trên địa bàn Tỉnh chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở dân dụng và đường giao thông. Riêng các công trình trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước có qui mô lớn thì hầu hết đều do các Doanh nghiệp ngoài tỉnh thi công. Do vậy, đề nghị Lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, để các Doanh nghiệp xây dựng trong tỉnh được thi công nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành xây dựng của Tỉnh tăng cao

  1. 4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

4.1. Nông nghiệp:

Về Trồng trọt

- Vụ đông xuân năm 2018, diện tích chính thức đã xuống giống được  77.918 ha, bằng 100,28% so với kế họach, tăng 0,07% ( bằng 54 ha) so với cùng kỳ. Đến nay, lúa đông xuân trên địa bàn tỉnh nông dân thu hoạch xong. Năng suất được 73,16 tạ/ha, tăng 7,18% ( bằng 4,90 tạ/ha) so với đông xuân năm 2017. Năng suất tăng chủ yếu là do thời tiết thuận lợi, phù sa bồi đắp, kỹ thuật chăm sóc tốt hơn so với cùng kỳ.

Sản lượng lúa đông xuân toàn tỉnh năm nay được 570.044 tấn, tăng 7,25% (bằng 38.523 tấn) so với vụ lúa đông xuân 2017. Sản lượng lúa đông xuân tăng chủ yếu là do năng suất tăng.

- Vụ  lúa Hè thu: Đã xuống giống được 77.075 ha, đạt 103,58%  so với kế hoạch tỉnh và bằng 100,11% so với thời điểm cùng kỳ năm trước.

 Hiện nay,  lúa hè thu đã thu hoạch được 2.080 ha, năng suất thu hoạch ước được 62,10 tạ/ha.

Tình hình sâu bệnh: Rầy nâu trên đồng lúa hè thu đang trưởng thành, phân bổ đều trên các huyện, thị, thành phố trong tỉnh. Ngành chức năng đang tích cực theo dõi và hướng dẫn bà con nông dân có biện pháp phòng trừ hiệu quả.  

-  Cây hàng năm:

+ Cây ngô: Diện tích gieo trồng được 1.549 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 1,63% (bằng 25 ha). Năng suất được 52,50 tạ/ha, giảm 0,43% (bằng 0,23 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch được 8.131 tấn, tăng 1,19% (bằng 96 tấn) so với cùng kỳ.

+ Cây lấy củ có chất bột: Diện tích gieo trồng được 431 ha, tăng 0,47% (bằng 2 ha) so với cùng kỳ. Trong đó, diện tích gieo trồng cây có chất bột khác được 297 ha, tăng 0,89% (bằng 3 ha) so với cùng kỳ năm trước.

+ Diện tích gieo trồng cây rau được 6.470 ha, tăng 1,85% (bằng 118 ha) so với cùng kỳ năm trước.

+ Mía: Niên vụ 2017, toàn tỉnh đã xuống giống được 10.582 ha, giảm 3,1% (bằng 339 ha) so với cùng kỳ. Mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, Long Mỹ, Thành phố Vị Thanh và Thị xã Ngã Bảy. Mía đang sinh trưởng và phát triển tốt.

- Cây lâu năm

+ Cây xoài, diện tích gieo trồng toàn tỉnh được 2. 694 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,31% (bằng 111ha).

+ Cây chuối, diện tích gieo trồng hiện có được 2.255 ha so với cùng kỳ năm trước tăng  3,91% (bằng 85 ha).

+ Cây dứa, diện tích gieo trồng toàn tỉnh được 1.539 ha, so với cùng kỳ năm trước giảm  3,2% (bằng 48 ha).

+ Cam, diện tích gieo trồng toàn tỉnh được 8.703 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng  4,33% (bằng 361 ha).

+ Bưởi, diện tích gieo trồng được 2.365 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng  3,98% (bằng 91 ha).

+ Dừa, diện tích gieo trồng hiện có được 3.585 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng  3,3% (bằng 115 ha).

Về Chăn nuôi

Ước tính thực hiện trong tháng 6, số đầu con gia súc, gia cầm như sau:

+ Đàn Lợn (heo): Có 150.950 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,98% (bằng 2.933 con).

+ Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm được 12.015 tấn, tăng 1,99% ( bằng 234 tấn).

+ Đàn gia cầm: Có 3.427 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,54% (bằng 52 ngàn con).

+ Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm được 4.600 tấn, tăng 1,90% ( bằng 86 tấn)

Tình hình dịch bệnh: Từ đầu năm đến nay, dịch bệnh trên gia súc ,gia cầm  chưa xảy ra trong địa bàn tỉnh. Ngành thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y đảm bảo an toàn thực phẩm.

4.2. Lâm nghiệp:

- Từ đầu năm đến nay, công tác phòng cháy chữa cháy rừng được đảm bảo, không xảy ra vụ cháy rừng nào trên địa bàn tỉnh.

- Công tác thẩm định, giám sát, kiểm tra, nghiệm thu khai thác rừng, cây phân tán đảm bảo đúng quy định; công tác phòng chống cháy rừng đã quán triệt và làm tốt nên diện tích rừng được bảo vệ an toàn.    

4.3. Thủy sản:

- Về diện tích: Trong 6 tháng đầu năm 2018, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 2.084 ha, giảm 0,33% ( bằng 7 ha) so với cùng kỳ năm trước.

 - Về sản lượng: Tổng sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm toàn tỉnh ước được 31.611 tấn, tăng 0,95% (bằng 296 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

+ Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 29.982 tấn, tăng 1,1% (bằng 326 tấn).

+ Sản lượng thủy sản khai thác được 1.629 tấn, giảm 1,79% (bằng 30 tấn).

Nhìn chung: Tình hình sản xuất nông nghiệp trong 6 tháng đầu năm 2018 thuận lợi hơn so với năm trước, vụ lúa đông xuân năm nay năng suất và sản lượng tăng vì thời tiết thuận lợi, phù sa bồi đắp và kỹ thuật chăm sóc tốt hơn so với cùng kỳ năm 2017.

Ngành thú y thực hiện tốt công tác tiêm phòng, quản lý, giám sát dịch bệnh, dịch cúm gia cầm không để xảy ra trên địa bàn tỉnh.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Chỉ số phát triển công nghiệp (IIP)

- Chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) ước tính tháng 6 tăng 8,72% so với cùng tháng năm trước, cụ thể:

- Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,89%. Trong đó, ngành sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 65,35% so cùng tháng năm trước.

- Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 8,32% so cùng tháng năm trước.

- Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,19% so cùng tháng năm trước.

-  So với 6 tháng đầu năm 2017, chỉ số IIP 6 tháng đầu năm 2018 tăng 15,61% cụ thể:

- Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,93% so cùng kỳ năm trước.

- Công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 9,13% so cùng kỳ năm trước.

- Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,29% so cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp

- Ước thực hiện tháng 6 năm 2018:

+ Tính theo giá so sánh 2010, được 2.045.540 triệu đồng, tăng 3,36% so với tháng trước và tăng 10,63% so với cùng kỳ năm trước.

+ Tính theo giá thực tế, được 2.797.632 triệu đồng, tăng 1,64% so với tháng trước và tăng 10,21% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân là do ngành sản xuất chế biến thực phẩm là ngành chiếm tỷ trọng lớn (45,56% giá trị sản xuất của toàn tỉnh) và là ngành chủ lực của tỉnh trong thời gian vừa qua, nhưng một số doanh nghiệp trong ngành này hoạt động hiệu quả chưa cao do bị ảnh hường các yếu tố như; Giá nhiên liệu có biến động tăng, khó khăn về nguồn nguyên liệu, thiếu vốn sản xuất kinh doanh nên một vài doanh nghiệp có giá trị lớn chuyển sang gia công cho các doanh nghiệp khác. Riêng Công ty Cổ phần mía đường Cần Thơ đang vào cuối niên vụ mía năm 2017-2018 (ước tháng 6 năm 2018 sản lượng sản xuất chỉ bằng 15,66% so với tháng trước và bằng 27,29% so với cùng kỳ).Vì vậy, đã làm giá trị sản xuất của toàn tỉnh tăng không cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

- Ước thực hiện 6 tháng năm 2018:

+ Tính theo giá so sánh 2010, được 11.495.593 triệu đồng, tăng 13,08% so với cùng kỳ năm trước và đạt 51,43% so với kế hoạch năm.

+ Tính theo giá thực tế, được 15.771.203 triệu đồng, tăng 15,40% so với cùng kỳ năm trước và đạt 51,97% so với kế hoạch năm.

Trong 6 tháng đầu năm các doanh nghiệp có giá trị sản xuất lớn, sau thời gian đầu tư hoàn thành và một số doanh nghiệp hoạt động hiệu quả nên đầu tư mở rộng nhà máy đi vào hoạt ổn định có giá trị tăng từ đầu năm đến nay như; Công ty TNHH Lạc Tỷ II; Công ty TNHH MTV bê tông HAMACO Hậu Giang; Công ty TNHH MTV nước AquaOne Hậu Giang; Công ty Cổ Phần dầu khí Bình Minh; Công ty TNHH MTV Xi măng Cần Thơ - Hậu Giang... Vì vậy, đã làm tăng đột biến một số ngành chiếm tỷ trọng lớn so với giá trị chung của toàn tỉnh như; Ngành sản xuất đồ uống (chiếm  tỷ trọng 2,03% và tăng 23,89% so với cùng kỳ); Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (chiếm tỷ trọng 9,13% và tăng 28,01% so với cùng kỳ); Ngành sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy (chiếm tỷ trọng 17,39% và tăng 110,19% so với cùng kỳ); Ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (chiếm tỷ trọng 6,92% và tăng 30,81% so với cùng kỳ)…

Nhìn chung, 6 tháng năm 2018, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối đồng đều và ổn định. Tuy nhiên, dù đã có sự tăng trưởng, nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về giá, thị trường xuất khẩu và một số yếu tố khác như: Điện, xăng dầu,... Do vậy, để hoàn thành kế hoạch năm 2018, các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp đang đầu tư sớm đi vào hoạt động như; Công ty TNHH Masan HG; Công ty TNHH Number One Hậu Giang… đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

  1. 6. Thương mại, dịch vụ và giá cả

6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ:

Ước thực hiện tháng 6 năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 2.737.502 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 96,54% và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,68%.

Bước qua tháng 6, lượng hàng hóa chủ yếu được tiêu thụ nhiều trong ngày Tết Đoan Ngọ (mùng 5/5 Âm lịch). Tuy nhiên, thời tiết trong tháng mưa nhiều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và nguồn cung hàng hóa. Hầu hết các nhóm hàng hóa trong tháng đều giảm so với tháng trước. Bên cạnh đó, các ngành dịch vụ trong tháng cũng bị ảnh hưởng của thời tiết và nhu cầu tiêu dùng trong dân giảm nên tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành giảm so với tháng trước.

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 17.772.955 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,20%. Chia ra:

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 13.041.192 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 106,98%.

- Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 1.739.623 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 112,69%.

- Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 2.992.140 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 111,15%.

Tính đến 6 tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành toàn tỉnh tăng 8,20%, đây là tốc độ tăng khá so với cùng kỳ. Trong đó, tổng mức bán lẻ tăng 6,98%. Loại hình kinh tế tư nhân trong 6 tháng đầu năm tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực (tăng 9,14%), đây là điều phù hợp với xu thế kinh tế, các doanh nghiệp hoạt động thương mại đầu tư mở rộng thị trường tại Hậu Giang. Ngoài ra, do ảnh hưởng của giá cả hàng nông sản trong những tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ như: giá lúa, gạo, thịt heo, rau xanh đã góp phần làm tăng tổng mức bán lẻ trong 6 tháng đầu năm.

Đối với ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm có tốc độ tăng 12,69% so với cùng kỳ, thực tế ngành dịch vụ có tốc độ tăng cao là do ảnh hưởng của nhóm ngành vui chơi, giải trí tăng 17,05%. Trong đó, doanh thu hoạt động xổ số chiếm 80,40% trong nhóm ngành vui chơi, giải trí và chiếm 55,99% trong tổng doanh thu ngành dịch vụ, đây là nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu ngành dịch vụ. Vì vậy, nếu loại trừ yếu tố này thì hoạt động ngành dịch vụ nói chung trên địa bàn tỉnh có tốc độ tăng không cao. Do đó, ngành dịch vụ của tỉnh nhìn chung còn chưa phát triển, mặc dù một số khu vui chơi, giải trí đã được đưa vào hoạt động nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân.

Ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống có tốc độ tăng cao (tăng 11,15%), nhu cầu tiêu dùng trong những tháng đầu năm tăng, đặc biệt là vào dịp lễ, Tết. Ngoài ra, việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm luôn được cơ quan chức năng quan tâm nên tạo được sự yên tâm đối với người tiêu dùng, điều đó đã tạo điều kiện cho người bán phát triển kinh doanh, cũng như người mua yên tâm sử dụng.

Nhìn chung tính đến 6 tháng đầu năm 2018, ngành thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh có tốc độ tăng trưởng tốt, ổn định. Tuy nhiên, các ngành dịch vụ cần được quan tâm chú ý đến việc đầu tư, xây dựng ngành dịch vụ để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu người dân.

6.2. Tình hình xuất nhập khẩu:

Ước thực hiện tháng 6 năm 2018, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 86,765 triệu USD, so với tháng trước bằng 114,57% và so với cùng kỳ bằng 80,98%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 60,896 triệu USD so với tháng trước bằng 103,03% và so với cùng kỳ năm trước bằng 83,35%.

Nguyên nhân ước giá trị xuất trực tiếp tăng so với tháng trước là do hiện nay tình hình cải cách thủ tục hành chính có bước phát triển. Bỏ bớt các thủ tục và những điều kiện không cần thiết tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, tăng tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường thế giới và các nước trong khu vực. Mặt khác, việc kiểm soát chặt chẽ dư lượng kháng sinh của sản phẩm nuôi trồng tạo ra nguồn nguyên liệu chất lượng ổn định cho doanh nghiệp trong việc chế biến xuất khẩu, hạn chế phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài. Vì vậy, giá trị xuất khẩu trong tháng tới có thể sẽ tăng.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 25,869 triệu USD so với tháng trước bằng 155,57% và so với cùng kỳ bằng 75,90%.

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2018, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 490,473 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 107,38% và so với kế hoạch năm đạt 46,27%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 319,636 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 112,29% và so với kế hoạch năm đạt 44,64%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 140,013 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 99,90% và so với kế hoạch năm đạt 51,86%. Nguyên nhân ước giá trị nhập khẩu giảm so với cùng kỳ là do từ đầu năm đến nay, một số doanh nghiệp có giá trị nhập khẩu lớn giảm nhập khẩu các máy móc thiết bị và nguyên liệu phục vụ sản xuất. Vì vậy, ước giá trị nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm có thể giảm hơn so với cùng kỳ.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 675 ngàn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 20,17% và so với kế hoạch năm đạt 16,88%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 30,149 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 105,43% và so với kế hoạch năm đạt 43,07%.

Hiện nay, nguồn tôm nguyên liệu đang khó khăn do quy luật cung cầu của thị trường, đã phần nào tác động làm giảm đáng kể giá trị xuất khẩu thủy sản trên địa bàn. Để khắc phục tình trạng trên thì cần có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành hữu quan, các doanh nghiệp và cả những người nuôi. Vì vậy, các doanh nghiệp và người dân cần liên kết chặt chẽ với nhau hơn trong phát triển nuôi trồng và tiêu thụ sản phẩm, nhắm tới mục tiêu tạo ra những sản phẩm chất lượng, có giá trị kinh tế cao mà thị trường đang cần và đáp ứng đầy đủ được tiêu chuẩn mà các nước nhập khẩu yêu cầu. Đồng thời liên kết với các ngành hữu quan nắm bắt tình hình thông tin diễn biến của thị trường, lên kế hoạch tăng cường quảng bá hình ảnh sản phẩm mới, chủ động từng bước xây dựng được thương hiệu và uy tín của sản phẩm thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới.

Mặt khác, các ngành chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thực hiện các thủ tục hành chính khai báo hải quan cho sản phẩm, các văn bản pháp lý cần tuyên truyền phổ biến sớm để doanh nghiệp nắm rõ những thay đổi trong quy định mới được các nước nhập khẩu áp dụng đối với sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam. Từ đó giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong việc lên kế hoạch sản xuất xuất khẩu và tìm kiếm những thị trường tiềm năng khác có mức tiêu thụ lớn, dễ chấp nhận sản phẩm hơn so với những thị trường truyền thống trước kia, từng bước tạo được sự thuận lợi và dễ dàng hơn cho doanh nghiệp trong việc tiêu thụ sản phẩm, góp phần thúc đẩy làm gia tăng giá trị xuất khẩu chung trên địa bàn

6.3. Tình hình giao thông vận tải:

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2018, tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 605.290 triệu đồng, so với cùng kỳ bằng 105,90%. Trong đó, đường bộ được 344.596 triệu đồng, bằng 115,55% so với cùng kỳ. Đường sông được 260.694 triệu đồng, bằng 95,38% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm là do có một doanh nghiệp vận tải trên địa bàn huyện Châu Thành A đã chuyển đổi loại hình hoạt động kinh doanh từ vận chuyển hàng hóa đường thủy sang cho thuê phương tiện vận tải. Vì vậy, giá trị vận tải đường thủy giảm so với cùng kỳ.

Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa:

Ước thực hiện tháng 6 năm 2018, toàn tỉnh vận chuyển được 790,89 nghìn tấn hàng hóa các loại (34.791,84 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 97,19% (97,59%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 100,89% (128,16%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 275,20 nghìn tấn (16.479,01 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 99,38% (97,16%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 149,90% (207,13%).

 - Đường sông thực hiện được 515,69 nghìn tấn (18.312,83 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 96,06% (97,99%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 85,90% (95,42%).

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh vận chuyển được 5.523,64 nghìn tấn (243.675,31 nghìn tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 106,40% (126,30%). Chia ra:

- Đường bộ ước thực hiện được 2.076,71 nghìn tấn (131.261,75 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 144,52% (171,08%).

- Đường sông ước thực hiện được 3.446,93 nghìn tấn (112.413,56 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 91,81% (96,73%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách:

Ước thực hiện tháng 6 năm 2018 toàn tỉnh thực hiện được 9.430,42 nghìn lượt hành khách (57.252,38 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 100,50% (97,93%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,60% (107,38%). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 7.859,60 nghìn lượt hành khách (42.546,01 nghìn  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 99,97% (94,92%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 100,09% (100,39%).

 - Đường sông vận chuyển được 1.570,82 nghìn lượt hành khách (14.706,37 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 103,27% (107,83%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 125,66% (134,49%).

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2018, toàn tỉnh vận chuyển được 57.386,03 nghìn hành khách (349.514,98 nghìn HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 103,52% (104,66%). Chia ra:

- Đường bộ ước thực hiện được 48.376,06 nghìn hành khách (270.035,43 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 101,20% (100,88%).

- Đường sông ước thực hiện được 9.009,97 nghìn hành khách (79.479,55 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 118,01% (119,90%).

  1. Các vấn đề xã hội

7.1. Giải quyết việc làm:

Năm 2018, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trưởng, chính sách giải quyết việc làm cho người lao động, ngành Lao động thương binh và xã hội phối hợp với các ngành có liên quan, thông qua các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tư vấn giới thiệu việc làm, tạo việc làm trong và ngoài tỉnh. Ước 6 tháng đầu năm, Hậu Giang giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 10.950 lao động, đạt 73% kế hoạch năm 2018, tăng 2% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, đã đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 32 lao động.

Ngoài ra, trong 6 tháng đầu năm, tại Hội nghị hỗ trợ, đào tạo, tuyển dụng lao động cho doanh nghiệp do UBND tỉnh tổ chức, Sở Lao động- Thương binh & Xã hội đã ký kết bản ghi nhớ hỗ trợ tuyển dụng và đào tạo lao động cho 05 doanh nghiệp với nhu cầu hỗ trợ tuyển dụng và đào tạo cung ứng 10.068 lao động. Đó dà dấu hiệu đáng mừng cho người lao động chưa có việc làm.

7.2. An sinh xã hội:

Công tác giảm nghèo

Trong 6 tháng đầu năm, ngành Lao động – Thương binh & Xã hội đã tham mưu UBND tỉnh phân bổ vốn thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững cho các sở, ban, ngành và các địa phương để tổ chức thực hiện trong năm 2018. Trong đó, có ưu tiên bố trí kinh phí để thực hiện Dự án Hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo cho các hộ gia đình tại các xã điểm xây dựng nông thôn mới như: xã Long Trị (thị xã Long Mỹ); xã Phương Bình và Bình Thành (huyện Phụng Hiệp); xã Vị Trung (huyện Vị Thủy). Ngoài ra tỉnh UBND tỉnh cũng đã phê duyệt kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh năm 2017 và hướng dẫn các địa phương thực hiện rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo thường xuyên năm 2018.

- Theo báo cáo 6 tháng đầu năm của Sở Lao động – Thương binh & Xã hội, tỉnh đã bàn giao và đưa vào sử dụng 04 căn nhà tình thương cho hộ nghèo (mỗi căn 50 triệu đồng); cấp mới 169.443 thẻ BHYT cho người nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội khó khăn và người sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn với số tiền trên 59.766 triệu đồng; hỗ trợ tiền điện và tiền Tết cho 40.409 lượt hộ nghèo với số tiền gần 17 tỷ đồng.

- Bằng nhiều biện pháp hỗ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất như hỗ trợ vốn và các chương trình lồng ghép khác của dự án xóa đói giảm nghèo và sự nỗ lực vươn lên từ các hộ nghèo, đến nay số hộ nghèo đã giảm đáng kể. Tổng hợp sơ bộ kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2017 theo chuẩn tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, toàn tỉnh có 19.288 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 9,63%, giảm 2,92% so với năm 2016. Hộ cận nghèo là 11.862 hộ chiếm tỷ lệ 5,94% tăng 0,66% so với năm 2016. Kết quả này, là cơ sở để nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách hỗ trợ giảm nghèo bền vững. Đồng thời, xúc tiến xây dựng kế hoạch về các dự án, chính sách giảm nghèo giai đoạn 2016-2020.

Tình hình thiếu đói, thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh:

- Tình hình thiếu đói: do tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Hậu Giang từ khi chia tách đến nay giữ được ổn định và phát triển bền vững. Do vậy, trong 6 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói.

- Tình hình thiên tai: từ đầu năm đến nay chủ yếu là trong quý 2, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra các đợt mưa giông làm sập 13 căn nhà đơn sơ và tốc mái 19 căn nhà thiếu kiên cố, ước thiệt hại 346,5 triệu đồng; sạt lở 286m chiều dài bờ sông, diện tích mất đất khoảng 1.632m2 ước thiệt hại 808 triệu đồng; không có thiệt hại về người. UBND huyện, thị xã, thành phố đã hỗ trợ kịp thời, đồng thời đã chỉ đạo các bộ phân chuyên môn theo dõi thời tiết bất thường để khuyến cáo người dân khi có thiên tai xuất hiện.

- Tình hình dịch bệnh: từ đầu năm đến nay các bệnh dịch truyền nhiễm được giám sát chặt chẽ, đặc biệt là bệnh tay chân miệng, bệnh sốt xuất huyết,... Tính đến nay, toàn tỉnh không có dịch bệnh nào xảy ra. Các đơn vị y tế dự phòng tỉnh, huyện đã tích cực triển khai kế hoạch phòng chống dịch bệnh, đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh.

Thực hiện chính sách đối với người có công

Tục ngữ có câu ”Uống nước nhớ nguồn” hay ”Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, chúng ta có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc như ngày hôm nay là nhờ ông cha ta đã hy sinh biết bao xương máu mới có được. Vì vậy, công tác thực hiện chính sách Người có công luôn được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo sâu sát, uốn nắn kịp thời, nhất là việc triển khai tổ chức thực hiện các quy định mới về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, công tác rà soát thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công. Kết quả thực hiện cụ thể như sau:

Trong 6 tháng đầu năm, Tỉnh Ủy, HĐND, UBND UBMTTQVN tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng 34.975 phần quà cho các gia đình chính sách, người có công trên địa bàn tỉnh với số tiền trên 15 tỷ đồng.

Triển khai kế hoạch xây dựng mới và sửa chữa 3.822 căn nhà tình nghĩa cho người có công với cách mạng gặp khó khăn về nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ (trong đó xây dựng mới: 1.685 căn, sửa chữa: 2.137 căn) phấn đấu hoàn thành trước 27/7/2018.

Tổ chức Lễ truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà Mẹ Việt Nam anh hùng (đợt 8) cho 20 trường hợp. Phục vụ Lễ viếng nghĩa trang liệt sĩ tỉnh nhân kỷ niệm 43 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2018)...

Những đóng góp, hỗ trợ tuy không nhiều nhưng đã thể hiện được sự quan tâm của các cấp, các ngành đối với người có công, giúp xoa dịu nỗi đau, khích lệ tinh thần và ổn định cuộc sống.

7.3. Tình hình thực hiện an toàn giao thôngvà an toàn cháy nổi:

Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban an toàn giao thụng tỉnh Hậu Giang, trong tháng 6 năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông, chỉ tập trung ở đường bộ. So với tháng trước tăng 08 vụ (đường bộ tăng 09 vụ và đường sông giảm 01 vụ) và so với cùng kỳ năm trước tăng 04 vụ. Trong đó, có tổng cộng 11 người chết, so với tháng trước tăng 08 người và so với cùng kỳ năm trước tăng 06 người. Tổng số có 04 người bị thương, so với tháng trước tăng 03 người và so với cùng kỳ năm trước giảm 02 người.

Trong 6 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 63 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 61 vụ, đường sụng 02 vụ), làm chết tổng cộng 55 người và bị thương 28 người, tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 12 vụ (đường bộ tăng 10 vụ, đường sông tăng 02 vụ), số người chết tăng 18 người và số người bị thương tăng 06 người, chỉ tập trung ở đường bộ

Tình hình thực hiện an toàn cháy nổ

Trong 6 tháng đầu năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ cháy. Làm  thiệt hại tài sản khoản 350 triệu đồng không có thiệt hại về người. Nguyên nhân do thời tiết nắng nóng kèo dài dẫn đến khô hạn dễ sảy ra cháy nổ đặt biệt là ở những khu dân cư và ở chợ vì vậy cần tăng cường phòng chống cháy nổ.

  1. Đề xuất một số giải pháp

Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế

- Rà soát bổ sung những giải pháp thực hiện các chương trình, đề án lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, đầu tư công, kế hoạch khởi nghiệp, hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác. Tập trung tái cơ cấu nông nghiệp, nâng cao hoạt động kinh tế tư nhân, hộ cá thể, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức tín dụng, giữ nợ xấu dưới mức cho phép.

- Thực hiện có hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển nhanh và ổn định, chú trọng tổ chức xúc tiến thương mại để nhiều sản phẩm chủ lực có thêm thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước; chủ động xúc tiến đầu tư đi vào thực chất, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư triển khai đầu tư các dự án.

- Tập trung huy động nguồn lực đầu tư, vận dụng linh hoạt các cơ chế, chính sách để huy động tối đa các nguồn vốn thuộc mọi thành phần kinh tế, đẩy nhanh tiến độ xây dựng, sớm đưa các dự án vào hoạt động, nhất là các dự án ở khu công nghiệp, khu ứng dụng công nghệ cao và các dự án, công trình trọng điểm đầu tư công.

Nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, phát triển mạnh thủy sản, chăn nuôi, cây ăn trái gắn với xây dựng nông thôn mới và môi trường nông thôn

 - Tập trung chỉ đạo sản xuất vụ lúa Hè thu và Thu đông. Tăng cường kiểm tra, theo dõi sát tình hình, chủ động dự báo, hướng dẫn nông dân phòng trừ kịp thời, hiệu quả các dịch hại trên cây trồng đặc biệt lưu ý bệnh vàng lùn xoắn lá trên lúa, greenning trên cây có múi,... để có chỉ đạo phòng trị kịp thời, hiệu quả. Đồng thời theo dõi, hỗ trợ dân trong việc tìm kiếm thị trường, liên kết tiêu thụ sản phẩm nông, thủy sản.

- Đẩy mạnh sản xuất rau màu, cây ăn quả nhất các cây trồng có lợi thế cạnh tranh cao, có thị trường tiêu thụ tốt để tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp.

- Hướng dẫn các địa phương và nông dân tiếp tục đầu tư phát triển thủy sản nhất là các đối tượng thủy sản tiềm năng, các loài thủy đặc sản có lợi thế cạnh tranh cao.

- Tiếp tục phát triển đàn gia súc, gia cầm theo hướng chăn nuôi nông hộ để góp phần tăng thêm giá trị sản xuất, đồng thời tăng cường công tác giám sát, phòng trừ dịch bệnh.

- Tập trung triển khai các nguồn vốn, chương trình, đề án nông nghiệp, dự án và các mô hình sản xuất hiệu quả để tiếp tục nhân rộng.

- Tăng cường công tác phòng, chống thiên tai trong mùa mưa bão năm 2018 nhằm hạn chế rủi ro, thiệt hại đến mức thấp nhất (nếu xảy ra) cho Nhân dân trên địa bàn tỉnh.

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các lĩnh vực quản lý chuyên ngành đối với các cơ sở/cửa hàng kinh doanh buôn bán vật tư nông nghiệp và thuốc BVTV. Tiếp tục thực hiện công tác kiểm tra điều kiện VSATTP đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm, thủy sản trên địa bàn tỉnh.

- Tiếp tục rà soát các cơ chế chính sách, quy định ngành nông – lâm – ngư nghiệp, hoàn chỉnh một cách có hệ thống để tăng cường chức năng quản lý Nhà nước trên lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Tích cực, chủ động trong công tác phối hợp với các sở, ngành và các đơn vị có liên quan trong thực thi nhiệm vụ để lĩnh vực nông nghiệp phát triển đồng bộ, bền vững.

Phát triển công nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư kết cấu hạ tầng, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh

- Về công nghiệp: Tiếp tục kêu gọi thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp, hoàn thiện các cơ chế, chính sách về khuyến công, phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp.

- Về xây dựng: Thực hiện tốt công tác cấp giấy phép xây dựng theo quy định; Rà soát, đề xuất giải pháp đẩy mạnh thực hiện việc cấp giấy phép xây dựng qua mạng Internet; Tổ chức thực hiện thẩm định dự án đầu tư xây dựng và thẩm định thiết kế bản vẽ thi công và dự toán xây dựng công trình; kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các địa phương giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chương trình xây dựng cụm, tuyến DCVL; tăng cường kiểm tra chất lượng công trình xây dựng, kiểm tra trật tự xây dựng.

- Về đầu tư công: Chủ động triển khai đúng lộ trình của Kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2016 - 2020, tăng cường quản lý đầu tư theo Luật Đầu tư công và xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ. Kiểm soát chặt chẽ các kế hoạch điều chỉnh, bổ sung vốn. Chủ động xã hội hóa và kêu gọi thu hút các nguồn vốn đầu tư để giảm gánh nặng đầu tư cho ngân sách nhà nước. Thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình mục tiêu. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân các nguồn vốn đầu tư công, vốn ODA, vốn NGO và huy động tối đa các nguồn vốn đầu tư của các thành phần kinh tế. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nhằm ngăn chặn kịp thời các hành vi có dấu hiệu tiêu cực trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản.

- Về cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh: Tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh Quốc gia năm 2018 và những năm tiếp theo gắn với nâng cao năng lực cạnh tranh tỉnh; Chương trình của UBND tỉnh về thực hiện Nghị quyết số 35/NQ-CP của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020.

Phát triển dịch vụ và đẩy mạnh xuất khẩu

- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến thông tin về hội nhập quốc tế, nhất là các cam kết theo các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Chú trọng công tác hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Cung cấp đến doanh nghiệp những nội dung về rào cản kỹ thuật, rào cản thương mại của các nước đối với hàng hóa xuất khẩu. Kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất và xuất

- Chủ động theo dõi diễn biến giá cả thị trường và công tác bình ổn thị trường. Tăng cường công tác quản lý thị trường, kịp thời phát hiện những trường hợp đầu cơ, gây mất cân bằng cung cầu, xử lý nghiêm những trường hợp kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng; quản lý giá bán theo giá niêm yết, xử lý các vi phạm về giá.

- Tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ như thương mại, viễn thông, ăn uống - nhà hàng- khách sạn, vận tải, vui chơi giải trí, du lịch...

Quản lý, sử dụng tài chính có hiệu quả, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng

- Tăng cường công tác thu ngân sách Nhà nước, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách Nhà nước: Tăng cường công tác đôn đốc, thu hồi nợ thuế, thanh tra, kiểm tra, giám sát hoàn thuế giá trị gia tăng; tăng cường giám sát, quản lý, chống thất thu đối với doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ,... Thực hiện tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế ở tất cả các khâu, các bộ phận và các lĩnh vực nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế; biểu dương, khen thưởng kịp thời những tổ chức, cá nhân chấp hành tốt chính sách pháp luật thuế; nâng cao chất lượng tổ chức hội nghị đối thoại lắng nghe ý kiến người nộp thuế.

- Quản lý chặt chẽ chi ngân sách địa phương, tập trung đẩy nhanh tiến độ thi công và giải ngân vốn đầu tư phát triển, nhất là đối với nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn các Chương trình mục tiêu quốc gia, vốn ODA; thực hiện nghiêm quy định của Luật Đầu tư công và các quy định về quản lý vốn đầu tư, xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản từ nguồn ngân sách Nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ.

- Đảm bảo hoạt động tiền tệ, ngân hàng trên địa bàn ổn định, hiệu quả và phát triển bền vững, trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế kinh tế - xã hội ở địa phương. Khai thác có hiệu quả các nguồn vốn huy động trong dân. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn tập trung nguồn vốn, phát triển tín dụng theo hướng phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn, chất lượng tín dụng; tích cực hỗ trợ tốt các Chương trình, Đề án tái cơ cấu kinh tế, nhất là lĩnh vực nông nghiệp. Duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng, phù hợp với nhu cầu phát triển của địa phương. Tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng với khách hàng và tiếp tục cho khách hàng vay mới phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh./.