Tháng 7
08:04 26/10/2018

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

chính thức tháng 6, ước tháng 7 và 7 tháng năm 2018

  1. Sản xuất nông nghiệp

Lúa hè thu năm 2018, đã xuống giống dứt điểm được 77.075 ha, đạt 103,58%  so với kế hoạch và bằng 100,11% so với thời điểm cùng kỳ năm trước. Hiện nay, lúa hè thu đã thu hoạch được 34.427 ha, năng suất thu hoạch ước được 59,62 tạ/ha. Tạm tính sản lượng ước chung toàn vụ được 459.509 tấn, giảm 0,8% (bằng 3.706 tấn) so với sản lượng lúa hè thu năm 2017. Sản lượng lúa giảm không đáng kể chủ yếu là do một diện tích nhỏ bị rầy nâu phá hoại đầu vụ chưa được phòng trị kịp thời.

Tính đến thời điểm hiện nay, lúa thu đông toàn tỉnh đã xuống giống được 19.742 ha, lúa đang ở giai đoạn mạ đến đẻ nhánh.

Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm khác có chiều hướng tăng so với cùng kỳ. Riêng diện tích mía giảm 3,1% (bằng 339 ha) so với cùng kỳ, tổng diện tích gieo trồng mía được 10.582 ha tập trung ở huyện Phụng Hiệp, huyện Long Mỹ, thành phố Vị Thanh và thị xã Ngã Bảy. Hiện đang bắt đầu cho thu hoạch đầu vụ. Diện tích mía giảm chủ yếu tập trung ở huyện Long Mỹ, giảm 126 ha so với cùng kỳ. Nguyên nhân do nông trường Dừa của xã Lương Nghĩa không trồng nữa. Cây ngô gieo trồng được 1.893 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 1,78% (bằng 33 ha). Cây lấy củ có chất bột gieo trồng được 431 ha, so với năm trước tăng 0,44% (bằng 2 ha). Trong đó, diện tích gieo trồng  khoai lang được 55 ha, bằng với cùng kỳ năm trước.

Hiện nay, rầy nâu trên đồng lúa hè thu đang trưởng thành, phân bổ đều trên các huyện, thị, thành phố trong tỉnh. Ngành chức năng đang tích cực theo dõi và hướng dẫn bà con nông dân có biện pháp phòng trừ hiệu quả.  

Từ đầu năm đến nay, các dịch bệnh trên gia súc gia cầm chưa xảy ra trong địa bàn tỉnh nên số lượng gia súc gia cầm tăng lên so với cùng kỳ. Ước tính thực hiện trong tháng 7, đàn lợn (heo) có 150.950 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,98% (bằng 2.933 con). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 7 tháng đầu năm ước được 13.510 tấn, tăng 1,92% (bằng 255 tấn) so với cùng kỳ. Đàn gia cầm có 3.427 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,54% (bằng 52 ngàn con). Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 7 tháng đầu năm được 5.237 tấn, tăng 1,88% (bằng 97 tấn) so với cùng kỳ. Ngành thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật, kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y đảm bảo an toàn thực phẩm.

Trong 7 tháng đầu năm 2018, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 2.159 ha, giảm 0,23% (bằng 4,9 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản ước được 36.974 tấn, tăng 1,05% (bằng 383 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng được 35.062 tấn, tăng 1,21% (bằng 420 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

 Tình hình sản xuất nông nghiệp trong 7 tháng đầu năm 2018 nhìn chung thuận lợi hơn so với năm trước, sản xuất cây hàng năm năm nay tăng do thời tiết thuận lợi, giá cả tăng và ổn định hơn nên bà con trồng tăng diện tích hơn so với cùng kỳ. Sản lượng thủy sản (chủ yếu là sản lượng nuôi trồng) tăng do kỷ thuật nuôi tốt hơn, mưa nhiều nên mực nước cao hơn so với cùng kỳ năm trước nên thuận lợi hơn cho việc nuôi trồng thủy sản.

  1. 2. Tình hình sản xuất công nghiệp

 Tháng 7 năm 2018, chỉ số IIP tăng 5,49% so với cùng kỳ năm trước là do: Ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 5,49%. Trong đó, ngành sản xuất đồ uống tăng 33,18%, ngành sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 56,27%. Đó là 2 ngành công nghiệp có chỉ số phát triển cao nhất trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 10,79%. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,13%.

So với 7 tháng đầu năm 2017, chỉ số IIP 7 tháng đầu năm 2018 tăng 15,25%, cụ thể: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,55%. Trong đó, ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 64,36% là ngành có chỉ số tăng cao nhất trong nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo; Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,15%; Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,79%. Trong đó, ngành khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 10,67%.

Hiện nay, việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính tinh gọn, giảm bớt các thủ tục không cần thiết đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, rút ngắn được thời gian và nâng cao hiệu quả trong đầu tư sản xuất. Chính sách thông thoáng đã tạo môi trường tốt cho các doanh nghiệp phát triển, đầu tư thêm một số máy móc, thiết bị hiện đại để gia tăng sản lượng sản xuất góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại hóa, công nghiệp hóa, đảm bảo việc làm cho nguồn lao động của tỉnh nhà và thực hiện tốt các vấn đề an sinh xã hội.

Thực hiện tháng 6 năm 2018, giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá so sánh 2010 được 2.053.828 triệu đồng, tăng 11,08% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá thực tế được 2.845.284 triệu đồng, tăng 12,08 % so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do hiện nay trên địa bàn tỉnh có trên 06 doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành chế biến thủy sản, giá trị sản xuất chiếm tỷ trọng trên 48,22% trong tổng giá trị của toàn ngành, trong những tháng vừa qua các thị trường truyền thống như: Mỹ, EU, Nhật Bản… tăng sản lượng nhập khẩu tôm thành phẩm của các doanh nghiệp chế biến thủy sản. Vì vậy, các doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất để hoàn thành các hợp đồng đã ký trước đó, nên giá trị sản xuất ngành này tăng so cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 7 năm 2018, tính theo giá so sánh 2010, được 2.115.010 triệu đồng, tăng 2,98% so với tháng trước và tăng 11,75% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 2.926.033 triệu đồng, tăng 2,84% so với tháng trước và tăng 12,86% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tháng này tăng không cao so với tháng trước là do Công ty cổ phần mía đường Cần Thơ nghỉ giữa vụ nên ước giá trị sản xuất ngành này giảm so với tháng trước. Vì vậy đã làm giá trị sản xuất chung của toàn tỉnh tăng không cao so với tháng trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 7 tháng năm 2018, tính theo giá so sánh 2010, được 13.618.891 triệu đồng, tăng 12,94% so với cùng kỳ năm trước và đạt 60,93% so với kế hoạch năm. Tính theo giá thực tế, được 18.744.888 triệu đồng, tăng 15,29% so với cùng kỳ năm trước và đạt 61,76% so với kế hoạch năm.

Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có 2 khu công nghiệp, 3 cụm công nghiệp tập trung, đã thu hút được 48 dự án với tổng vốn đầu tư trên 68.178 tỷ đồng vốn trong nước và trên 763,7 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Trong đó, 33 doanh nghiệp trong khu công nghiệp và trên 131 doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp đang hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đóng góp giá trị trên 16.938 tỷ đồng (theo giá thực tế), chiếm tỷ trọng trên 90,36% trong tổng giá trị của toàn tỉnh và tăng 16,78% so với cùng kỳ. Riêng trong những năm vừa qua được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban tỉnh và các sở, ban ngành, với nhiều chính sách ưu đãi thu hút các doanh nghiệp đầu tư mới trên địa bàn tỉnh đến nay đã phát huy được hiệu quả, với nhiều doanh nghiệp lớn đã đi vào hoạt động ổn định như: Công ty CP Minh Phú Hậu Giang; Công ty TNHH MTV Xi măng Cần Thơ - Hậu Giang; Công ty TNHH giấy Lee & Man Việt Nam; Công ty TNHH Tập đoàn quốc tế Runlong-Hậu Giang; Công ty TNHH Lạc Tỷ II; Công ty TNHH MTV Masan Brewery Hậu Giang; Công ty TNHH MTV nước AquaOne Hậu Giang, các doanh nghiệp nên ước thực hiện 7 tháng năm 2018 đã đóng góp trên 7.665 tỷ đồng, chiếm 40,89% trong tổng giá trị của toàn ngành.

 Nhìn chung, 7 tháng năm 2018, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối đồng đều và ổn định. Dù đã có sự tăng trưởng nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về giá, thị trường xuất khẩu và một số yếu tố khác như: Điện, xăng dầu,... Do vậy, để hoàn thành kế hoạch năm 2018, các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp đang đầu tư sớm đi vào hoạt động như; Công ty TNHH Masan HG; Công ty TNHH Number One Hậu Giang… đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

  1. 3. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16 tháng 7 năm 2018, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2018 là 17.385.476 triệu đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.975.476 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.210.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.200.000 triệu đồng.

Vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 6 năm 2018 là 1.587.790 triệu đồng, bằng 93,82% so với tháng trước và bằng 99,93% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 186.270 triệu đồng, bằng 72,13% so với tháng tr­ước và bằng 120,25% so với cùng kỳ năm trước.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 110.980 triệu đồng, bằng 80,27% so với tháng tr­ước và bằng 105,72% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.290.540 triệu đồng, bằng 99,59% so với tháng tr­ước và bằng 97,11% so với cùng kỳ năm trước.

Đến đầu tháng 7 năm 2018, các Khu công nghiệp và Cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đã thu hút được 49 dự án đầu tư, gồm 48 dự án đầu tư sản xuất kinh doanh và 01 dự án đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng, với tổng số vốn đăng ký đầu tư là 69.795.100 triệu đồng và 763,7 triệu USD, với quy mô diện tích đăng ký khoảng 659.410 ha, đã giao mặt bằng được 520.190 ha.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 7 năm 2018 là 1.514.020 triệu đồng, bằng 106,27% so với cùng kỳ năm trước và bằng 95,35% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư thực hiện giảm so với tháng trước là do: Vào mùa mưa nên ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các công trình trọng điểm; công tác giải phóng mặt bằng triển khai chậm; các dự án của nhà đầu tư thực hiện còn chưa đúng kế hoạch đã đăng ký ở các Khu, cụm Công nghiệp; kết thúc thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2018.

Ước tính 7 tháng năm 2018, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 10.646.835 triệu đồng, bằng 104,42% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 61,24% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.256.395 triệu đồng, bằng 138,39% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 63,60% so với kế hoạch năm. 

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 760.110 triệu đồng, bằng 108,39% so với cùng kỳ năm trước và đạt 62,82% so với kế hoạch năm.            

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 8.630.330 triệu đồng, bằng 100,51% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 60,78% so với kế hoạch năm.

  1. Thương mại, giá cả và dịch vụ

4.1. Tình hình thương mại, dịch vụ

Trong tháng 6, lượng hàng hóa chủ yếu được tiêu thụ nhiều trong ngày Tết Đoan Ngọ (mùng 5/5 Âm lịch). Tuy nhiên, thời tiết trong tháng mưa nhiều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và nguồn cung hàng hóa. Hầu hết các nhóm hàng hóa trong tháng đều giảm so với tháng trước. Bên cạnh đó, các ngành dịch vụ trong tháng cũng bị ảnh hưởng của thời tiết và nhu cầu tiêu dùng trong dân giảm nên tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành giảm so với tháng trước.

Thực hiện tháng 6 năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 2.741.974 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 96,69% và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,85%. Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 1.991.741 triệu đồng, so với tháng trước bằng 95,65% và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,10%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 292.294 triệu đồng, so với tháng trước bằng 108,07% và so với cùng kỳ năm trước bằng 120,45%.

Ước thực hiện tháng 7 năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 2.684.199 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 97,89% và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,84%.

Thị trường hàng hóa tháng 7 trên địa bàn tỉnh không có nhiều biến động so với tháng trước, nguồn cung hàng hóa ổn định. Tuy nhiên, thời tiết mưa nhiều đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh và thu nhập của người dân đã làm tổng mức bán lẻ trong tháng giảm. Bên cạnh đó sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các ngành dịch vụ do nhu cầu trong dân không cao nên hầu hết các nhóm dịch vụ đều giảm so với tháng trước.

Ước thực hiện 7 tháng năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 20.461.627 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 107,77%  và so với kế hoạch năm đạt 58,09%.

Nhìn chung, ngành thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh có tốc độ tăng trưởng đều và ổn định. Tuy nhiên, các ngành dịch vụ cần được quan tâm chú ý đến việc đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu người dân.

4.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện tháng 6 được 87,506 triệu USD, so với tháng trước bằng 115,55% và so với cùng kỳ năm trước bằng 81,67%. Chia ra:

- Xuất khẩu được 59,964 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 101,46% và so với cùng kỳ năm trước bằng 82,07%. Nguyên nhân giá trị xuất khẩu hàng hóa trực tiếp tăng so với tháng trước là do giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản, sản xuất Giấy, chế biến hàng nông sản các loại tăng. Trong đó, nhóm hàng thủy hải sản vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực chiếm hơn 50% tổng giá trị xuất khẩu chung toàn tỉnh và có mức tăng trưởng cao nhất so với các mặt hàng xuất khẩu còn lại so với tháng trước tăng 7,08%, hàng nông sản tăng 4,43% và Giấy thành phẩm các loại tăng 4,72%. Vì vậy, giá trị xuất khẩu trực tiếp tháng 6 tăng.

- Nhập khẩu được 27,542 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 165,64% và so với cùng kỳ năm trước bằng 80,80%. Nguyên nhân giá trị nhập khẩu tăng cao so với tháng trước là do trong tháng 6 Công ty cổ phần thủy sản Minh Phú tăng nhập khẩu nguồn Tôm nguyên liệu với sản lượng lớn để phục vụ chế biến xuất khẩu. Vì vậy, giá trị nhập khẩu tăng so với tháng trước.

Ước thực hiện tháng 7 năm 2018, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 85,109 triệu USD, so với tháng trước bằng 97,26% và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,91%. Chia ra: Xuất khẩu ước thực hiện được 61,569 triệu USD so với thực hiện tháng trước bằng 102,68% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,20%. Nguyên nhân ước giá trị xuất trực tiếp tăng so với tháng trước là do hiện nay tỷ giá hối đoái USD/VNĐ đã tăng so với thời điểm trước, do đó doanh nghiệp sẽ thanh toán được giá trị cao hơn. Vì vậy, dự đoán trong tháng tới giá trị xuất khẩu có thể sẽ tăng. Nhập khẩu ước thực hiện được 23,540 triệu USD so với tháng trước bằng 85,47% và so với cùng kỳ năm trước bằng 77,07%.

Ước thực hiện 7 tháng năm 2018, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 581,136 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 105,96% và so với kế hoạch năm đạt 54,82%. Trong đó, xuất khẩu ước thực hiện được 380,273 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 111,50% và so với kế hoạch năm đạt 53,11%. Nhập khẩu ước thực hiện được 165,226 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 96,79% và so với kế hoạch năm đạt 61,19%. Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 452 ngàn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 13,13% và so với kế hoạch năm đạt 11,30%.

Hiện nay, tình hình xuất, nhập khẩu vẫn còn đang đối mặt với nhiều khó khăn. Sự canh tranh gay gắt giữa các nước trong khu vực, các rào cản thương mại phi thuế quan và vấn đề nâng cao chất lượng, giảm giá thành, tăng tính cạnh tranh cho sản phẩm là những yêu cầu cấp thiết cần được quan tâm tháo gỡ. Do đó, trong thời gian tới, các Doanh nghiệp cần phải chú trọng hơn trong việc nắm bắt thông tin diễn biến của thị trường, các vấn đề thay đổi phát sinh làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp bao gồm: các thay đổi về chính sách thương mại, các rào cản kỹ thuật được các nước nhập khẩu dựng lên để từ đó có thể chủ động hơn trong việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp, từng bước tạo ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao đáp ứng đầy đủ những quy định, yêu cầu ngày càng cao ở những thị trường nhập khẩu khó tính.

4.3. Tình hình giao thông vận tải

Tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng 6 thực hiện được 86.275 triệu đồng, so với tháng trước bằng 92,28%,  so với cùng kỳ năm trước bằng 98,14%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 47.557 triệu đồng, so với tháng trước bằng 89,33%, so với cùng kỳ năm trước bằng 105,66%. Đường sông được 38.718 triệu đồng, so với tháng trước bằng 96,18%, so với cùng kỳ năm trước bằng 90,24%.

Ước thực hiện 7 tháng năm 2018, tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 687.478 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 105,43%. Trong đó, đường bộ được 388.589 triệu đồng, bằng 113,73% so với cùng kỳ năm trước; Đường sông được 298.889 triệu đồng, bằng 96,28% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng 6, tình hình thời tiết diễn biến không thuận lợi đã gây ảnh hưởng đến tình hình hoạt động vận tải trên địa bàn. Mưa nhiều kèm theo gió lớn đã phần nào tác động xấu gây ra nhiều khó khăn cho các cơ sở sản xuất kinh doanh trong việc vận chuyển, luân chuyển hàng hóa và hành khách từ nơi này đến nơi khác. Vì vậy, đã làm giảm sản lượng vận tải trong tháng.

Thực hiện tháng 6, vận chuyển hàng hóa được 732.973 tấn (32.439.832 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 90,08% (91,01%), so với cùng kỳ năm trước bằng 93,50% (119,50%). Đường bộ thực hiện được 239.110 tấn (14.253.702 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 86,35% (84,04%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 130,24% (179,16%). Đường sông thực hiện được 493.863 tấn (18.186.130 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 92,01% (97,31%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 82,27% (94,76%).

Ước thực hiện tháng 7 năm 2018, toàn tỉnh vận chuyển luân chuyển được 724.310 tấn (31.858.331 tấn.km) hàng hóa các loại, so với thực hiện tháng trước bằng 98,82 % (98,21 %) và so với cùng kỳ năm trước bằng 94,73% (105,85%). Đường bộ thực hiện được 227.820 tấn (13.149.711 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 95,28% (92,25%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 135,27% (120,55%). Đường sông thực hiện được 496.490 tấn (18.708.620 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 100,53% (102,87%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 83,28% (97,49%).

Ước thực hiện 7 tháng năm 2018, toàn tỉnh vận chuyển được 6.190.038 tấn (273.181.626 tấn.km) hàng hóa, so với cùng kỳ năm trước bằng 103,93% (122,48%). Đường bộ ước thực hiện được 2.268.441 tấn (142.186.145 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 141,30% (162,25%). Đường sông ước thực hiện được 3.921.597 tấn (130.995.481 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 90,14% (96,74%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách thực hiện tháng 6 năm 2018, toàn tỉnh vận chuyển được 9.075.864 lượt hành khách (55.264.471 HK.Km), so với thực hiện tháng trước bằng 96,73% (94,53%) và so với cùng kỳ năm trước bằng bằng 99,70% (101,74%). Đường bộ vận chuyển được 7.683.720 lượt hành khách (42.853.870 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 97,73% (95,61%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,85% (98,78%). Đường sông vận chuyển được 1.392.144 lượt hành khách (12.410.601 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 91,53% (91,01%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,37% (113,49%).

Ước thực hiện tháng 7 năm 2018 toàn tỉnh thực hiện được 9.245.267 lượt hành khách (57.453.290 HK.km), so với tháng trước bằng 101,87% (103,96%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,53% (103,28%). Đường bộ vận chuyển được 7.730.890 lượt hành khách (44.461.730 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,61% (103,75%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,38% (99,19%). Đường sông vận chuyển được 1.514.377 lượt hành khách (12.991.560 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 108,78% (104,68%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 122,36% (120,24%).

Ước thực hiện 7 tháng năm 2018, toàn tỉnh vận chuyển được 66.276.749 hành khách (404.980.361 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 102,83% (103,68%). Đường bộ ước thực hiện được 55.931.071 hành khách (314.805.018 HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 100,66% (100,41%). Đường sông ước thực hiện được 10.345.678 hành khách (90.175.343 HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 116,60% (116,97%).

  1. 5. Tài chính - tín dụng

5.1. Tài chính

 Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 7 được 530.969 triệu đồng, lũy kế được 5.906.005 triệu đồng, đạt 91,80% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Nếu loại trừ thu chuyển nguồn năm 2017 mang sang ngoài dự toán là 1.726.373 triệu đồng, thì tổng thu ngân sách nhà nước lũy kế của 7 tháng được 4.179.632 triệu đồng, đạt 64,97% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 235.000 triệu đồng, lũy kế được 1.809.419 triệu đồng, đạt 66,16% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi ngân sách địa phương tháng 7 được 542.623 triệu đồng, lũy kế được 4.160.774 triệu đồng, đạt 68,47% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi xây dựng cơ bản được 208.272 triệu đồng, luỹ kế được 1.790.351 triệu đồng, đạt 75,32% dự toán Trung ương giao, đạt 76,17% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

5.2. Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 30/6/2018, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 11.612 tỷ đồng, tăng 1,17% so với cuối tháng 5 năm 2018, vốn huy động đáp ứng được 51,17% cho hoạt động tín dụng. Ước thực hiện đến ngày 31/7/2018, tổng vốn huy động trên địa bàn được 11.960 tỷ đồng, tăng 0,67% so với cuối tháng 6 năm 2018.

Đến ngày 30/6/2018, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn được 21.048 tỷ đồng, tăng 1,17% so với cuối tháng 5 năm 2018. Ước thực hiện đến ngày 31/7/2018, tổng dư nợ cho vay trên toàn địa bàn được 21.080 tỷ đồng, tăng 0,15% so với cuối tháng 6 năm 2018.

Nợ xấu đến ngày 30/6/2018, toàn tỉnh là 512 tỷ đồng, chiếm 2,43% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 31/7/2018, nợ xấu sẽ giảm còn ở mức dưới 3% trên tổng dư nợ.

  1. Tình hình văn hóa - xã hội, y tế - giáo dục và an toàn giao thông:

6.1. Tình hình văn hóa - xã hội:

Trong tháng, ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 1.456 lao động, đạt 82,7% chỉ tiêu kế hoạch năm 2018.Trong đó, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 12 người, đạt tỷ lệ 63,8% so với kế hoạch đề ra. Thỏa thuận và ký kết Hợp đồng cung ứng lao động với 26 doanh nghiệp, với số lao động được đề nghị cung ứng là 701 lao động. Ban hành Quyết định hưởng chế độ Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định cho 501 người lao động với số tiền trên 5.274,603 triệu đồng

Sở Lao động – Thương binh và Xã hội hhối hợp với các đơn vị có liên quan triển khai thực hiện các hoạt động kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2018), cụ thể: tổng hợp, phê duyệt danh sách người có công và thân nhân liệt sĩ thuộc diện nhận quà Lễ của Chủ tịch nước; xét, chọn 06 người có công tiêu biểu của tỉnh tham dự Hội nghị biểu dương người có công tiêu biểu toàn quốc tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; in 21.300 thư chúc của Lãnh đạo tỉnh; thành lập 08 Đoàn công tác của Lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng quà các gia đình chính sách tiêu biểu;…

Đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức giao lưu trong và ngoài tỉnh 03 cuộc; xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 83 buổi, thu hút 40.800 lượt người xem.

Trong tháng, Đoàn Ca múa nhạc dân tộc tỉnh đã xây dựng và biểu diễn phục vụ kỷ niệm 71 năm ngày Thương binh Liệt sỹ 27/7/1947-27/7/2018, hỗ trợ Trung tâm Văn hóa tỉnh tham gia Liên hoan “Tiếng hát hẹn hò 9 dòng sông” tại tỉnh An Giang với 06 suất diễn phục vụ trên 3.600 lượt người xem.

Thanh tra sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch phối hợp với Phòng An ninh chính trị nội bộ Công an tỉnh (PA83) kiểm tra được 06 cuộc đối với 11 cơ sở, trong đó: 05 cơ sở quảng cáo, 02 cơ sở chiếu phim, 03 cơ sở kinh doanh karaoke, 01 Công ty hoạt động biểu diễn nghệ thuật. Qua kiểm tra, phát hiện 01 cơ sở quảng cáo vi phạm; đoàn đã nhắc nhở, yêu cầu khắc phục.

6.2. Tình hình y tế - giáo dục:

Theo báo cáo của sở y tế trong tháng có 25 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết tăng 16 ca so với tháng trước. Bệnh tay chân miệng có 30 ca mắc mới tăng 09 ca so với tháng trước. Bệnh dịch lạ chưa phát hiện ra trên địa bàn tỉnh.  Nhờ sự tích cực trong công tác phòng chống dịch chủ động nên trong tháng số ca mắc mới về dịch bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng và một số bệnh truyền nhiễm khác đã giảm hơn so cùng kỳ. Bên cạnh đó, nhờ sự phát hiện sớm và điều trị kịp thời nên không có ca tử vong do các bệnh truyền nhiễm.

Chương trình phòng chống HIV/AIDS phát hiện 06 ca nhiễm HIV mới trong tháng, cộng dồn là 51 ca, tăng 30 ca so với cùng kỳ, lũy kế từ năm 2004 đến nay có 1.523 ca mắc bệnh. Số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng là 04 ca, cộng dồn là 27 ca, tăng 14 ca so với cùng kỳ, lũy kế từ năm 2004 đến nay có 987 ca mắc bệnh. Số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 03 ca, cộng dồn là 12 ca, tăng 07 ca so với cùng kỳ. Số bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc ARV là 631 ca; số bệnh nhân hiện đang điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone là 36 ca.

Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục không ngừng phát triển, hoàn thiện về cơ cấu; số lượng và chất lượng ngày càng được nâng cao. Tổng số cán bộ giáo viên, công nhân viên toàn ngành là 10.370 người, trong đó có 814 cán bộ quản lý, 347 chuyên viên, giáo viên và 1.302 nhân viên.

Trong tháng 7, Thanh tra sở Giáo dục và đào tạo tập trung thực hiện cuộc thanh tra công tác chấm thi, xét tốt nghiệp, kỳ thi trung học phổ thông (THPT) quốc gia năm 2018; hoàn thành báo cáo và tham mưu ban hành kết luận kỳ thi THPT quốc gia 2018. Tập trung quản lý chất lượng và cơ sở vật chất tổ chức kỳ thi THPT quốc gia và tuyển sinh đại học năm 2018. Tổng số thí sinh đăng ký dự thi là 6.216 thí sinh. Trong đó, theo hệ giáo dục phổ thông có 5.985 thí sinh, giáo dục thường xuyên (GDTX) có 231thí sinh. Kết quả: Số học sinh tham gia dự thi là 6.190, trong đó có 5.803 thí sinh được công nhận tốt nghiệp THPT, tỷ lệ đạt 97,81% (bao gồm học sinh THPT, GDTX và học sinh tự do).

6.3. Tình hình an toàn giao thông:

Theo số liệu của Ban an toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 7 năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 09 vụ tai nạn giao thông, chỉ tập trung ở đường bộ. So với tháng trước giảm 04 vụ (đường bộ giảm 03 vụ và đường sông giảm 01 vụ) và so với cùng kỳ năm trước giảm 04 vụ tập trung ở đường bộ. Trong đó, có tổng cộng 09 người chết, so với tháng trước giảm 02 người và so với cùng kỳ năm trước tăng 03 người. Tổng số có 02 người bị thương, so với tháng trước giảm 02 người và so với cùng kỳ năm trước giảm 07 người.

Trong 7 tháng năm 2018, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 72 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 70 vụ, đường sông 02 vụ), làm chết tổng cộng 64 người và bị thương 30 người, tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước, tăng 11 vụ (đường bộ tăng 09 vụ, đường sông tăng 02 vụ), số người chết tăng 21 người và số người bị thương giảm 01 người, chỉ tập trung ở đường bộ./.