Tháng 1
21:44 27/02/2019

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 12, 12 tháng năm 2018 và ước tháng 01 năm 2019

  1. Tài chính - Tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 01 năm 2019 được 612.696 triệu đồng, đạt 8,74% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 313.000 triệu đồng, đạt 8,33% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Thu trợ cấp từ ngân sách Trung ương được 282.196 triệu đồng, đạt 8,33% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi ngân sách nhà nước tháng 01 năm 2019 được 495.072 triệu đồng, đạt 8,19% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi xây dựng cơ bản được 169.664 triệu đồng, đạt 8,33% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chi thường xuyên được 325.408 triệu đồng, đạt 8,33% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 31 tháng 12 năm 2018, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 12.092 tỷ đồng, tăng 3,58% so với cuối tháng 11, tương ứng tăng 14,03% so với cuối năm 2017. Vốn huy động đáp ứng được 55,18% cho hoạt động tín dụng. Dự báo đến ngày 31 tháng 01 năm 2019, tổng vốn huy động trên địa bàn được 11.850 tỷ đồng, giảm 1,88% so với cuối tháng 12 năm 2018.

Đến ngày 31 tháng 12 năm 2018, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn được 21.915 tỷ đồng, tăng 0,17% so với cuối tháng 11, tương ứng tăng 8,89% so với cuối năm 2017. Ước thực hiện đến ngày 31 tháng 01 năm 2019, tổng dư nợ cho vay trên toàn địa bàn được 21.756 tỷ đồng, giảm 0,73% so với cuối tháng 12 năm 2018.

Nợ xấu đến ngày 31 tháng 12 năm 2018, toàn tỉnh là 367 tỷ đồng, chiếm 1,67% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 31 tháng 01 năm 2019, nợ xấu toàn địa bàn được kiểm soát ở mức an toàn.

  1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16 tháng 01 năm 2019, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2018 là 17.787.138 triệu đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.277.138 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.210.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.300.000 triệu đồng.

Vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 12 năm 2018 là 1.607.920 triệu đồng, bằng 113,82% so với tháng trước và bằng 122,50% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 336.560 triệu đồng, bằng 152,41% so với tháng tr­ước và bằng 113,17% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 90.570 triệu đồng, bằng 85,48% so với tháng tr­ước và bằng 185,10% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.180.790 triệu đồng, bằng 108,74% so với tháng tr­ước và bằng 122,20% so với cùng kỳ năm trước.

Thực hiện cả năm 2018, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 17.835.870 triệu đồng, bằng 106,93% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 100,27% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 2.264.285 triệu đồng, bằng 121,68% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 99,44% so với kế hoạch năm

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 1.208.615 triệu đồng, bằng 115,59% so với cùng kỳ năm trước và đạt 99,89% so với kế hoạch năm.          

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 14.362.970 triệu đồng, bằng 104,28% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 100,44% so với kế hoạch năm.               

Nguyên nhân vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước không đạt so với kế hoạch năm là do: Thực hiện chỉ thị 07/CT-TTg ngày 30 tháng 4 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ. Các dự án đã được quyết định đầu tư phải thực hiện theo mức vốn kế hoạch đã giao. Không yêu cầu các doanh nghiệp tự bỏ vốn đầu tư khi chưa được bố trí kế hoạch hàng năm hoặc bỏ vốn đầu tư cao hơn mức vốn kế hoạch được giao, dẫn đến phát sinh nợ đọng trong xây dựng cơ bản.

Kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2019 là 17.263.406 triệu đồng, (theo quyết định số 1927/QĐ-UBND ngày 07 tháng 12 năm 2018 của chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang về việc giao kế hoạch vốn đầu tư công thuộc ngân sách nhà nước năm 2019), bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.057.406 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.365.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.841.000 triệu đồng.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 01 năm 2019 là 1.482.026 triệu đồng, bằng 108,01% so với cùng kỳ năm trước và bằng 92,17% so với tháng trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước thực hiện được 170.376 triệu đồng, bằng 109,29% so với cùng kỳ năm trước và bằng 50,62% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn ngân sách giảm so với tháng trước là do: Các đơn vị tập trung thanh, quyết toán khối lượng đã thực hiện để giải ngân vốn năm 2018, đồng thời lập kế hoạch thủ tục vốn cho các công trình năm 2019 nên làm cho Vốn đầu tư phát triển không tăng cao.

  1. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Lúa đông xuân năm 2019, ước toàn tỉnh đã xuống giống được 78.124 ha, bằng 101,05% so với kế hoạch tỉnh, so với cùng kỳ tăng 1,36% (bằng 1.049 ha). Lúa chủ yếu đang ở giai đoạn mạ đến làm đòng.

Lúa thu đông năm 2018, toàn tỉnh xuống giống được 39.573 ha, năm nay do mưa nhiều, lũ về sớm nước dâng cao, ngập úng dẫn đến toàn tỉnh diện tích gieo trồng chỉ đạt 80,76% so với kế hoạch (kế hoạch của tỉnh là 49.000 ha), so với cùng kỳ giảm 10,83% (bằng 4.805 ha). Đến nay lúa thu đông toàn tỉnh đã thu hoạch xong. Sơ bộ năng suất thu hoạch được 53,73 tạ/ha, tăng 4,55% (bằng 2,34 tạ/ha) so với cùng kỳ. Năng suất tăng do kỹ thuật chăm sóc của nhà nông ngày càng được nâng cao hơn. Sơ bộ sản lượng lúa được 212.627 tấn, giảm 6,77% (bằng 15.433 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng lúa thu đông năm nay giảm chủ yếu là do diện tích giảm vì thời tiết không thuận lợi cho việc xuống giống của nhà nông.

Mía niên vụ 2019, toàn tỉnh đã xuống giống được 6.494 ha tập trung ở huyện Phụng Hiệp, thành phố Vị Thanh và thị xã Ngã Bảy. Các giống mía chủ yếu là giống mía ngắn ngày như ROC 16, K85-92, ROC 22, R570,…

 Diện tích gieo trồng ngô toàn tỉnh được 460 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 4,56% (bằng 22 ha).

 Diện tích gieo trồng cây rau được 4.936 ha, so với năm trước tăng 58,05% (bằng 1.813 ha). Diện tích trồng rau tăng do lợi nhuận từ trồng rau khá, bên cạnh đó năm nay thời tiết gieo trồng rau phục vụ tết nguyên đán thuận lợi hơn so với cùng kỳ.

Hiện nay ngành Nông nghiệp đang đề nghị bà con thường xuyên thăm đồng để phát hiện sớm sinh vật gây hại để có biện pháp xử lý kịp thời. Cần xử lý theo nguyên tắc 4 đúng (đúng loại, đúng liều, đúng lúc và đúng cách) để đạt hiệu quả.

Tình hình chăn nuôi trong tháng 01 năm 2019, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau: Đàn lợn (heo) có 149.328 con, so với cùng kỳ năm trước tăng 0,22% (bằng 326 con). Đàn bò có 3.611 con, giảm 7,55% (bằng 295 con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn gia cầm có 4.139 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 2% (bằng 81 ngàn con). Trong đó, đàn gà có 1.275 ngàn con, tăng 1,45% (bằng 18 ngàn con) so cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng 01: Thịt lợn được 2.295 tấn, so với cùng kỳ tăng 0,43% (bằng 10 tấn), sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng được 17 tấn, so với cùng kỳ năm trước giảm 6,11% (bằng 1 tấn), thịt gia cầm được 794  tấn, so với cùng kỳ tăng 2,70% (bằng 21 tấn), sản lượng trứng thu hoạch được 10.466 ngàn quả, tăng 3,33% (bằng 337 ngàn quả) so với cùng kỳ.

Diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh tháng 01 năm 2019, ước tính được 1.682 ha, tăng 1,85% (bằng 31 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích nuôi cá được 1.644 ha, tăng 1,85% (bằng 30 ha) so với cùng kỳ.

Tổng sản lượng thủy sản tháng 01 năm 2019, toàn tỉnh ước được 5.138 tấn, tăng 2,3% (bằng 115 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá được 4.967 tấn, tăng 2,29% (bằng 112 tấn) so với cùng kỳ. Thủy sản khác được 166 tấn, tăng 2,54% (bằng 4 tấn) so với cùng kỳ.

- Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 4.875 tấn, tăng 2,50% (bằng 119 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó, cá nuôi trồng được 4.756 tấn, tăng 2,45% (bằng 114 tấn) so với vùng kỳ. Thủy sản khác được 114 tấn, tăng 4,68% (bằng 5 tấn) so với cùng kỳ.

- Sản lượng thủy sản khai thác được 263 tấn, giảm 1,32% (bằng 4 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó, cá khai thác được 211 tấn, giảm 1,17% (bằng 3 tấn) so với vùng kỳ.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực sẽ giúp hàng hóa Hậu Giang xuất khẩu sang nhiều thị trường lớn như: Nhật Bản, Australia, Canada, Mexico… cũng như thu hút đầu tư nước ngoài (FDI) vào các ngành, lĩnh vực mà tỉnh đang có nhu cầu phát triển, đây sẽ là cơ hội để Hậu Giang tạo môi trường đầu tư - kinh doanh thông thoáng, minh bạch, góp phần cho ngành công nghiệp phát triển bền vững trong thời gian tới.

Tháng 12 năm 2018 chỉ số phát triển sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 12,89% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể: Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13%. Trong đó, ngành sản xuất cao su và plastic tăng 117,88% là ngành có chỉ số tăng rất cao trong nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo. Ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện, nước nóng, hơi nước, và điều hòa không khí tăng 11,35% so cùng kỳ năm trước. Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,42% so cùng kỳ năm trước.

Dự tính tháng 01 năm 2019, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang giảm 9,27% so với tháng trước và tăng 28,30% so với cùng kỳ.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Giảm 9,54% so với tháng trước và tăng 29,01% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm so với tháng trước là do các doanh nghiệp đã có kế hoạch cắt giảm sản lượng trong việc sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ hàng tồn kho, không làm ảnh hưởng đến vốn hoạt động của doanh nghiệp trong dịp Tết Nguyên đán sắp đến. Nhưng tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do trong những tháng gần đây, một số doanh nghiệp lớn đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động trong các ngành như: Sản xuất xi măng, sản xuất thức ăn chăn nuôi, sản xuất chả cá... nên đã làm tăng đột biến các ngành này nói riêng và tăng chỉ số của toàn tỉnh nói chung so với cùng kỳ năm trước.

- Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 0,66% so với tháng trước và tăng 12,70% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chỉ số ngành chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản có mức tăng cao hơn mức tăng chung của ngành chế biến thực phẩm, tăng 17,67% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty Cổ phần thủy sản Minh Phú Hậu Giang với sản phẩm chính là tôm đông lạnh, quy mô của doanh nghiệp này lớn nhất tỉnh (sản lượng chiếm tỷ trọng trên 67,39% trong toàn ngành). Trong thời gian vừa qua doanh nghiệp này đã cải tiến máy móc, thiết bị và thực hiên tốt các yêu cầu của đối tác khi chế biến như; ghi nhật ký nuôi trồng thủy sản, nhật ký chế biến, nhập kho, xuất kho… theo quy định của Bộ thương mại Hoa Kỳ (DOC). Vì vậy, doanh nghiệp ký được nhiều hợp đồng mới, nên chỉ số sản xuất tăng liên tục trong thời gian qua. Bên cạnh đó, các ngành có chỉ số tăng âm so với cùng kỳ như; chế biến và bảo quản rau quả giảm 51,61%; sản xuất đường giảm 41,63%. Vì vậy, ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng chưa đúng với tiềm năng và thể mạnh của tỉnh.

- Ngành sản xuất đồ uống giảm 0,25% so với tháng trước và tăng 97,74% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH MTV Masan Brewery Hậu Giang với sản phẩm chính là bia Sư tử trắng, tăng sản lượng sản xuất để phục vụ thị trường Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019, nên dự tính chỉ số sản xuất ngành này tăng cao so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,35% so với tháng trước và tăng 84,53% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Lạc Tỷ II đầu tư mở rộng nhà máy tăng sản lượng sản xuất so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 5,61% so với tháng trước và tăng 22,81% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do Công ty TNHH Giấy Lee & Man Việt Nam với sản phẩm chính là giấy cuộn và bìa giấy, sau thời gian hơn một năm đi vào hoạt động ổn định, doanh nghiệp đã chủ động được nguồn nguyên liệu nhập khẩu và thị trường tiêu thụ ổn định, nên sản lượng sản xuất ngành này tăng liên tục so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 0,60% so với tháng trước và tăng rất cao so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Tân Huy Hoàng, sản xuất các sản phẩm gia dụng bằng plastic, đây là sản phẩm mới nên thị phần của doanh nghiệp này rất lớn. Vì vậy, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành này tăng đều và ổn định so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất sản phẩm từ khoán phi kim loại giảm 37,25% so với tháng trước và tăng 51,18 % so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do công ty TNHH MTV bê tông Hamaco – Hậu Giang sản phẩm chính là cấu kiện xây dựng bằng bê tông và bê tông trộn sẵn, tăng sản lượng sản xuất so với cùng kỳ là do ký được nhiều hợp đồng dài hạn cung cấp cấu kiện xây dựng cho các dự án lớn. Nên chỉ số ngành này tăng ổn định so với cùng kỳ.

Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 2,99% so với tháng trước và tăng 4,56 % so với cùng kỳ năm trước. Ngành điện đã hoạt động ổn định, đúng công suất, đã cung cấp đủ điện một cách an toàn, hiệu quả cho người dân và các doanh nghiệp được hoạt động liên tục, đảm bảo hạn chế không để xảy ra tình trạng mất điện trong dịp tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019 sắp tới.

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,53% so với tháng trước và tăng 14,42% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ năm trước là do Công ty Cổ phần Cấp thoát nước - CTĐT Hậu Giang nắm được nhu cầu sử dụng nước sạch trong sinh hoạt của người dân nông thôn ngày càng cao nên công ty đã hoàn thiện và khởi công mới các tuyến đường ống dẫn nước đến các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh. Sản lượng sản xuất nước sạch sinh hoạt tháng 01 năm 2019 được 893,64 ngàn M3 tăng 16,54% so với cùng kỳ năm trước.

  1. 5. Thương mại và dịch vụ

5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Bước qua tháng 12, thị trường hàng hóa đã rất sôi động, đây là thời điểm các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh bắt đầu thu mua, nhập kho hàng hóa chuẩn bị phục vụ dịp lễ, Tết cuối năm. Các loại hàng hóa phục vụ cho lễ Noel, Tết dương lịch đã được bày bán khá đa dạng về mẫu mã, chủng loại trong các cửa hàng, siêu thị, chủ yếu là hàng may mặc, thực phẩm và đồ dùng.

Ngành lưu trú, ăn uống và dịch vụ khác nhờ vào các hoạt động văn hóa, hội chợ được tổ chức vào dịp cuối năm và nhu cầu tiêu dùng trong ngày lễ Noel và Tết Dương lịch nên doanh thu tăng, đặt biệt là nhóm ngành vui chơi, giải trí.

Thực hiện tháng 12 năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.323.636 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 110,07% và so với cùng kỳ năm trước bằng 116,45%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.482.400 triệu đồng, so với tháng trước bằng 110,92% và so với cùng kỳ năm trước bằng 118,81%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 304.415 triệu đồng, so với tháng trước bằng 112,93% và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,35%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 536.821 triệu đồng, so với tháng trước bằng 104,85% và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,84%.

Thực hiện 12 tháng năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 35.502.975 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 109,55% và so với kế hoạch năm đạt 100,79% . Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 26.159.819 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,97%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 3.387.556 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 111,52%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 5.955.600 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 111,06%.

Cả năm 2018 ngành thương mại, dịch vụ tỉnh Hậu Giang đạt 100,79% kế hoạch đề ra, đây là nỗ lực của các cấp lãnh đạo trong điều hành kinh tế, nhất là việc tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà bán lẻ mở rộng thị trường tại Hậu Giang. Trong năm 2019, cần phát huy hơn nữa các chính sách thu hút đầu tư từ tiềm năng sẵn có của tỉnh nhất là mở rộng hoạt động thu mua và chế biến các sản phẩm nông nghiệp. Vừa qua vào ngày 12/12 tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Hậu Giang đã diễn ra “Diễn đàn Kinh tế xanh 2018” đã thu hút đông đảo doanh nghiệp tham gia, đây là động lực góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế trong thời gian tới và là thời cơ cho loại hình kinh tế tư nhân và hợp tác xã tăng trưởng cả về quy mô và số lượng.

Ước thực hiện tháng 01 năm 2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.707.423 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 111,55% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,91%. Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.843.661 triệu đồng, so với tháng trước bằng 114,55% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,23%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 265.957 triệu đồng, so với tháng trước bằng 87,37% và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,17%.

Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm nay rơi vào những ngày cuối tháng 01 đầu tháng 02 năm 2019. Vì vậy, công việc chuẩn bị bố trí các vị trí để tổ chức chợ hoa, hội chợ xuân đã được thực hiện, điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người mua và bán trong dịp Tết sắp đến. Lượng hàng hóa được dự trữ nhằm phục vụ Tết Nguyên đán dồi dào, đa dạng về chủng loại, mẫu mã và đảm bảo về chất lượng, giá cả.  Hầu hết các siêu thị, các trung tâm kinh doanh hàng điện máy đều đưa ra nhiều chương trình khuyến mãi nhằm thu hút khách hàng, kích thích tiêu dùng của người dân nội tỉnh và một phần khá lớn khách hàng từ các vùng giáp ranh lân cận trong dịp cận Tết này. Các nhóm hàng hóa tăng cao trong tháng là các mặt hàng thiết yếu như: Lương thực, thực phẩm, hàng may mặc, đồ dùng gia đình, gas,…

Ngành lưu trú, ăn uống cũng tăng mạnh so với tháng trước vì đây là tháng cận Tết diễn ra nhiều hoạt động như: Hội chợ thương mại, hội chợ hoa, chợ xuân và các hoạt động văn hóa khác trong dịp Tết đến sẽ góp phần làm tăng doanh thu trong tháng. Tuy nhiên, dịch vụ khác có xu hướng giảm hơn so với tháng trước là do ảnh hưởng của hoạt động xổ số doanh thu trong tháng giảm, đây là nhóm hoạt động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng ngành dịch vụ nên đã ảnh hưởng chung kéo ngành dịch vụ trong tháng giảm. Trên thực tế hầu hết các nhóm dịch vụ đều tăng, các hoạt động vui chơi giải trí khác diễn ra sôi động hơn so với tháng trước.

Nhằm đảm bảo cho người dân vui xuân đón Tết trong không khí an toàn, vui tươi thì các cơ quan chức năng cần quan tâm đến công tác bình ổn giá và kiểm soát lượng hàng, nguồn hàng và chất lượng hàng hóa. Đặc biệt việc kiểm tra an toàn vệ sinh đối với nhóm hàng lương thực, thực phẩm, hàng ăn uống phải được cơ quan chức năng quan tâm và thực hiện nghiêm túc trong dịp cuối năm.

5.2. Xuất nhập khẩu hàng hóa

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện tháng 12 năm 2018 được 141,49 triệu USD, so với tháng trước bằng 139,12% và so với cùng kỳ năm trước bằng 192,18%. Chia ra: Xuất khẩu được 52,75 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 92,41% và so với cùng kỳ năm trước bằng 121,80%. Nguyên nhân giảm so với tháng trước chủ yếu là do giá trị xuất khẩu các nhóm hàng thủy sản và giày dép các loại giảm. Tổng giá trị xuất khẩu của 02 mặt hàng này (chiếm 75,19% trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung) chỉ bằng 88,24% so với tháng trước. Vì vậy, giá trị xuất khẩu giảm. Nhập khẩu được 88,73 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 200,83% và so với cùng kỳ năm trước bằng 292,7%.  Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 108 ngàn USD, so với tháng trước bằng 337,50% và so với cùng kỳ năm trước bằng 120,00%.  Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 5,03 triệu USD, so với tháng trước bằng 127,18% và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,71%.

Thực hiện cả năm 2018, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 1.114,35 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 106,51% và so với kế hoạch năm đạt 105,13%. Chia ra: Xuất khẩu ước thực hiện được 684,57 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 101,29% và so với kế hoạch năm đạt 95,61%. Nhập khẩu ước thực hiện được 372,28 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 120,93% và so với kế hoạch năm đạt 137,88%. Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 971 ngàn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 24,23% và so với kế hoạch năm đạt 24,28%. Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 56,53 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 96,63 % và so với kế hoạch năm đạt 80,75%.

Ước thực hiện tháng 01 năm 2019, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, ủy thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 105,65 triệu USD, so với tháng trước bằng 72,05% và so với cùng kỳ năm trước bằng 133,89%. Trong đó, xuất khẩu ước thực hiện được 50,69 triệu USD so với thực hiện tháng trước bằng 96,09% và so với cùng kỳ năm trước bằng 117,04%. Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu giảm so với tháng trước là do tháng 01 là thời điểm nghỉ tết Dương lịch ở các nước nhập khẩu, các doanh nghiệp sản xuất trong nước cũng được nghỉ để mừng năm mới Kỷ Hợi 2019. Do đó, số ngày hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có chu kỳ ngắn hơn so với tháng trước. Vì vậy, giá trị xuất khẩu có thể sẽ giảm. Nhập khẩu ước thực hiện được 49,64 triệu USD, so với tháng trước bằng 55,94% và so với cùng kỳ năm trước bằng 163,75%.

Trong năm 2018 vừa qua, tình hình xuất nhập khẩu trên địa bàn tuy có nhiều biến động. Sản lượng xuất khẩu tôm có sự tăng giảm đột biến giữa các tháng với nhau nhưng nhìn chung vẫn đạt được kết quả tốt và hoàn thành được kế hoạch đề ra. Với tình hình xuất, nhập khẩu diễn biến khó lường và không ổn định như hiện nay, dự báo trong năm 2019 hoạt động xuất khẩu có thể gặp nhiều khó khăn nhất là mặt hàng tôm chế biến các loại của các doanh nghiệp thủy sản. Do trong những năm qua các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản phụ thuộc rất lớn vào thị trường Mỹ, nhưng hiện nay nhà nhập khẩu lớn này đang ngày càng có những chính sách bảo hộ ưu tiên phát triển cho ngành thủy sản trong nước, hạn chế hàng thủy sản nước ngoài tràn vào như trước, do đó đã gây ra không ít khó khăn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong việc tiếp cận thị trường này vốn đã khó nay lại càng khó hơn.

Vì vậy, để tiếp tục duy trì đạt giá trị xuất khẩu cao trong năm 2019, đảm bảo hoàn thành kế hoạch đề ra, trong thời gian tới các ngành chức năng cần hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp trong việc nắm bắt, tận dụng triệt để các cơ hội xuất khẩu của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mang lại, các doanh nghiệp cần tăng cường tìm kiếm các thị trường xuất khẩu tiềm năng mới, có mức tiêu thụ tương đối lớn, tránh phụ thuộc vào một thị trường nhất định như hiện nay nhằm phân tán rủi ro trong kinh doanh, dễ dàng tìm kiếm những hợp đồng xuất khẩu mới đưa sản phẩm thủy sản của Việt Nam vươn xa ra nhiều quốc gia khác hơn nữa. Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng cần tăng cường đầu tư các máy móc, trang thiết bị và công nghệ mới phù hợp với thời đại công nghệ 4.0 nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm sản xuất, tiến tới xây dựng được thương hiệu ngày càng bền vững trong mắt người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu, tăng cường công tác thu thập nắm bắt thông tin thị hiếu tiêu dùng, tăng cường công tác quảng bá hình ảnh sản phẩm đến với các thị trường xuất khẩu tiềm năng tạo điều kiện thuận lợi về lợi thế cạnh tranh hơn cho sản phẩm thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới, đảm bảo giá trị xuất khẩu chung tiếp tục đạt và hoàn thành kế hoạch đề ra.

5.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Tình hình vận chuyển, luân chuyển hàng hóa, hành khách trên địa bàn vẫn hoạt động ổn định và có giá trị tăng so với tháng trước. Tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện tháng 12 năm 2018 được 131.012 triệu đồng, so với tháng trước bằng 106,41% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,80%. Trong đó, đường bộ được 82.447 triệu đồng, bằng 110,22% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước bằng 115,07%. Đường sông được 48.565 triệu đồng, bằng 100,50% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,14%.

Thực hiện cả năm 2018, tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 1.231.648 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 101,09%. Trong đó, đường bộ được 718.351 triệu đồng, bằng 107,57% so với cùng kỳ năm trước. Đường sông được 513.297 triệu đồng, bằng 93,23% so với cùng kỳ năm trước.

Vận chuyển hành khách tháng 12 năm 2018  được 11.149.200 lượt (59.606.140 HK.Km), so với thực hiện tháng trước bằng 115,30% (105,44%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,90% (103,71%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.949.030 lượt hành khách (44.303.960  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 107,87% (103,36%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,75% (101,09%). Đường sông vận chuyển được 3.200.170 lượt hành khách (15.302.180 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 139,09% (111,96%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 113,64% (112,13%).

Thực hiện cả năm 2018, toàn tỉnh vận chuyển được 115.245.631 lượt hành khách (693.112.173 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 100,89% (105,71%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 93.711.681 lượt hành khách (534.924.138 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 101,02% (102,09%). Đường sông vận chuyển được 21.533.950 lượt hành khách (158.188.035 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 100,36% (120,11%).

Ước thực hiện tháng 01 năm 2019, toàn tỉnh thực hiện được 11.357.110 lượt hành khách (62.783.650 HK.km), so với tháng trước bằng 101,86% (105,33%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,59% (102,92%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 8.114.630 lượt hành khách (46.685.260  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 102,08% (105,37%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,09% (102,90%). Đường sông vận chuyển được 3.242.480 lượt hành khách (16.098.390 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 101,32% (105,20%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,86% (102,97%).

Hàng hoá vận chuyển tháng 12 được 801.390 tấn (33.732.880 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,85% (100,87%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 91,80% (91,21%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 198.710 tấn (9.834.830 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 101,83% (102,26%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,55% (103,77%). Đường sông thực hiện được 602.680 tấn (23.898.050 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,53% (100,30%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,73% (86,88%).

Thực hiện cả năm 2018, toàn Tỉnh vận chuyển được 9.824.319 tấn hàng hóa các loại (430.907.165 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 99,52% (121,60%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 3.241.612 tấn (191.949.134 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 118,94% (196,13%). Đường sông vận chuyển được 6.582.707 tấn (238.958.031 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 92,11% (93,17%).

Ước vận chuyển hàng hóa tháng 01 năm 2019, được 820.041 tấn hàng hóa các loại (34.573.200 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 102,33% (102,49%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,48% (103,14%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 208.740 tấn (9.936.770 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 105,05% (101,04%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,11% (105,30%). Đường sông thực hiện được 611.301 tấn (24.636.430 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,43% (103,09%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,95% (102,29%).

  1. Các vấn đề văn hóa và xã hội, y tế và tai nạn giao thông

6.1. Tình hình văn hóa                                          

Trong tháng 01 năm 2019, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Hậu Giang tập trung thực hiện bám sát các sự kiện, ngày lễ lớn, hoạt động của lãnh đạo tỉnh, những vấn đề quan tâm của người dân như: các hoạt động kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh và mừng Đảng - mừng Xuân Kỷ Hợi 2019, ngày thành lập Mặt trận giải phóng dân tộc Miền Nam Việt Nam 20/12, ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12; ngày tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa 06/01; kỷ niệm 40 năm ngày chiến thắng chiến tranh, bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc và cùng nhân dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng (07/01/1979-07/01/2019), …Riêng cao điểm tuyên truyền hoạt động kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh và mừng Đảng - mừng Xuân Kỷ Hợi 2019: Đài tăng lượng tin, bài tuyên truyền các hoạt động chào mừng kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh; tuyên truyền ý nghĩa sự kiện, tiến độ thực hiện các công tác chuẩn bị tổ chức kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh của Ban Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn tỉnh Hậu Giang, các cơ quan, đơn vị và các địa phương trong tỉnh, nhìn lại chặng đường xây dựng - phát triển cùng những đúc kết kinh nghiệm của tỉnh trong quá trình lãnh đạo điều hành của tỉnh trong 15 năm qua; thành tựu nổi bật trên từng lĩnh vực; khắc họa những dấu ấn về sự phấn đấu của toàn Đảng bộ và nhân dân trong sự nghiệp đổi mới, những định hướng trong thời gian tới, tuyên truyền việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; triển khai thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15 tháng 5 năm 2016 của Bộ Chính trị về việc đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đặc biệt là thành tựu kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, lập thành tích chào mừng kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh Hậu Giang, v.v… Kết quả: Trên sóng phát thanh thực hiện 35 tiết mục, đưa 150 tin, 60 bài về các hoạt động kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh. Trên sóng truyền hình thực hiện 30 tiết mục trong chương trình thời sự (mỗi tiết mục 5 phút). Đài còn thực hiện Bộ phim tài liệu Kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh Hậu Giang gồm 13 tập.

Đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức giao lưu trong và ngoài tỉnh 03 cuộc; xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 99 buổi, thu hút 51.500 lượt người xem.

Trong tháng, Đoàn Ca múa nhạc dân tộc tỉnh đã xây dựng và biểu diễn văn nghệ phục vụ nông thôn và các sở ban ngành trong tỉnh…với 09 suất diễn phục vụ trên 5.400 lượt người xem. Lựa chọn một số tiết mục để xây dựng chương trình đón tết Nguyên đán mừng Xuân Kỷ Hợi 2019.

Tổ chức 07 cuộc triển lãm lưu động và thường xuyên phục vụ các sự kiện tại Trung tâm Hội nghị tỉnh: Kỳ họp thứ 10 HĐND tỉnh Hậu Giang khóa IX, nhiệm kỳ 2016-2021; đoàn diễn giả Hà Lan tham dự Diễn đàn kinh tế xanh 2018 - Hậu Giang xây dựng chuỗi giá trị nông sản trên nền tảng Logisties; hội nghị kết nối tiêu thụ nông sản tỉnh Hậu Giang năm 2018; hội thảo phụ nữ Hậu Giang khởi nghiệp tự tin sáng tạo và kết nối; kỷ niệm 74 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam 22/12/1944-22/12/2018 và 29 năm Ngày quốc phòng toàn dân 22/12/1989-22/12/2018; họp mặt kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh Hậu Giang với các chuyên đề: Thành tựu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh tỉnh Hậu Giang năm 2017; triển lãm bản đồ và tư liệu “Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”; thành tựu 15 năm xây dựng và phát triển tỉnh Hậu Giang…

6.2. An sinh xã hội và chính sách người có công

 Theo báo cáo tháng 01 của Sở Lao động – thương binh và xã hội đã trợ cấp thường xuyên cho 29.294 lượt đối tượng với số tiền trên 10.890 triệu đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 76 trường hợp với số tiền khoản 410 triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho 03 trường hợp với số tiền 23 triệu đồng.

Tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nội bộ và ra dân được 27 cuộc với 1.210 lượt người tham dự. Thực hiện kế hoạch của Ban Chỉ đạo 138 tỉnh về việc kiểm tra xử lý vi phạm về trật tự xã hội, tệ nạn xã hội. Đội, tổ kiểm tra liên ngành các cấp đã kiểm tra được 48 lượt cơ sở; phát hiện 01 cơ sở vi phạm, phạt hành chính 01 cơ sở với số tiền 1,5 triệu đồng.

Sở Lao động – thương binh và xã hội đã phối hợp với Ban Công tác Người cao tuổi tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố và các đơn vị có liên quan tổ chức các Đoàn đi thăm tặng quà, chúc thọ, mừng thọ cho 673 cụ tròn 90 tuổi và 44 cụ tròn 100 tuổi với tổng số tiền 530,218 triệu đồng.

Tham mưu cho Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, Ủy ban mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Hậu Giang tổ chức họp mặt, chúc Tết và ăn Tết với hộ nghèo tại 08 điểm do tỉnh tổ chức: phường III (thành phố Vị Thanh); phường Lái Hiếu (thị xã Ngã Bảy); xã Tân Phú (thị xã Long Mỹ); xã Hiệp Hưng (huyện Phụng Hiệp); xã Vĩnh Thuận Tây (huyện Vị Thuỷ); xã Vĩnh Thuận Đông (huyện Long Mỹ); thị trấn Mái Dầm (huyện Châu Thành); thị trấn Cái Tắc (huyện Châu Thành A).Với các hoạt động chính như: bàn giao và đưa vào sử dụng 08 căn nhà tình thương cho hộ nghèo gặp khó khăn về nhà ở trên địa bàn các điểm tổ chức ăn Tết; tặng 2.355 phần quà cho gia đình hộ nghèo. đoàn đi thăm, chúc tết các Trường, các Trung tâm trong và ngoài tỉnh: Trường Dạy trẻ khuyết tật tỉnh, Nhà nuôi trẻ Mồ côi Hoa Mai Vị Thanh, Nhà nuôi trẻ Mồ côi Hoa Mai Cần Thơ (Châu Thành A), Trung tâm Công tác xã hội tỉnh vào ngày 23/01/2019 (nhằm ngày 18/12 âm lịch). Tổ chức 8 Đoàn đi thăm, chúc tết và tặng 1.880 phần quà cho gia đình chính sách, người có công với cách mạng tại các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh vào ngày 29/01/2019 (nhằm ngày 24/12 âm lịch). Tổ chức Đoàn đi thăm, tặng 300 phần quà cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng đang nằm điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh và Trung tâm Y tế các huyện, thị xã, thành phố.

6.3. Y tế

Theo báo cáo của Sở Y tế, trong tháng 01 có 11 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, giảm 07 ca so với cùng kỳ. Bệnh tay chân miệng có 34 ca mắc mới, giảm 239 ca so với tháng trước. Bệnh dịch lạ chưa phát hiện ra trên địa bàn tỉnh. Nhờ sự phát hiện sớm và điều trị kịp thời nên không có ca tử vong do các bệnh truyền nhiễm. Chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 823 trẻ, đạt 7,05% so với kế hoạch. Tiêm ngừa uống ván thai phụ trong tháng được 809 thai phụ, đạt 6,94% kế hoạch.

Tổ chức đoàn kiểm tra, thanh tra trong tháng với 85 lượt, trong đó, tuyến tỉnh 01 lượt, tuyến huyện và xã là  84 lượt. Kết quả kiểm tra có 20 cơ sởsản xuất, chế biến thực phẩm đạt chất lương (đạt 95,24%) và 1 cơ sở không đạt. Cơ sở kinh doanh thực phẩm là 05 cơ sở, số cơ sở đạt là 04 (đạt 80%). Cơ sở dịch vụ ăn uống là 295 cơ sở, số cơ sở đạt là 242 (82,03%). Số cơ sở vi phạm là 55 cơ sở, nhắc nhở 55 cơ sở vi phạm, không có cơ sở bị phạt và không có sản phẩm tiêu hủy. Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào.

Xây dựng triển và triển khai kế hoạch thực hiện công tác cải tiến chất lượng bệnh viện theo quy định của Bộ Y tế. Tổ chức kiểm tra thực hiện Bộ tiêu chí cải tiến chất lượng bệnh, Bộ tiêu chí xanh-sạch-đẹp; Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh tại các cơ sở y tế có giường bệnh trực thuộc. Chỉ đạo thực hiện công tác phòng, chống dịch bệnh chủ động, hạn chế thấp nhất sự lây lan của dịch bệnh. Các loại bệnh dịch lạ chưa được phát hiện; bệnh sốt xuất huyết và tay chân miệng giảm so với cùng kỳ. Chất lượng khám, điều trị ngày càng được nâng cao.  Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn được duy trì tốt.

6.4. An toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 01 năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 05 vụ tai nạn giao thông, chỉ tập trung ở đường bộ. So với tháng trước giảm 11 vụ và so với cùng kỳ năm trước giảm 10 vụ, tập trung ở đường bộ. Trong đó, có tổng cộng 05 người chết, so với tháng trước giảm 03 người và so với cùng kỳ năm trước giảm 09 người. Tổng số có 03 người bị thương, so với tháng trước giảm 11 người và so với cùng kỳ năm trước giảm 06 người./.