Tháng 10
14:11 29/10/2019

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 9, ước tháng 10 và 10 tháng năm 2019

 

  1. Tài chính - Tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 10 được 661,720 tỷ đồng, luỹ kế 7.953,496 tỷ đồng, đạt 113,47% dự toán Trung ương giao, đạt 86,55% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, Trung ương trợ cấp 269,719 tỷ đồng, luỹ kế 2.915,648 tỷ đồng, đạt 86,10% dự toán Trung ương giao, đạt 85,10% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Thu nội địa được 3.580 tỷ đồng, luỹ kế 2.775,292 tỷ đồng, đạt 81,32% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu được 34,001 tỷ đồng, lũy kế 340,012 tỷ đồng, đạt 161,91% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Thu chuyển nguồn lũy kế được 1.904,081 tỷ đồng, đạt 100,78% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Các khoản thu khác còn lại được 18,463 tỷ đồng.

Ước tổng chi ngân sách địa phương tháng 10 được 562,480 tỷ đồng, luỹ kế 5.711,667 tỷ đồng, đạt 94,48% dự toán Trung ương, đạt 68,83% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi xây dựng cơ bản được 237,495 tỷ đồng, luỹ kế 2.374,952 tỷ đồng, đạt 116,65% dự toán Trung ương giao, đạt 66,68% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chi thường xuyên được 320,968 tỷ đồng, luỹ kế 3.506,027 tỷ đồng, đạt 82,16% dự toán Trung ương giao, đạt 70,37% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chi trả nợ gốc vay Ngân hàng Phát triển Việt Nam là 4,016 tỷ đồng, lũy kế là 72,564 tỷ đồng, đạt 99,95% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 30 tháng 9, tổng vốn huy động trên địa bàn được 14.301 tỷ đồng, tăng trưởng 1,41% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 18,27% so với cuối năm 2018. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn: Khối Ngân hàng thương mại nhà nước huy động được 9.511 tỷ đồng (chiếm 66,50% trên tổng huy động); khối Ngân hàng thương mại cổ phần huy động được 4.343 tỷ đồng (chiếm 30,37% trên tổng huy động); Ngân hàng Chính sách xã hội huy động được 406 tỷ đồng (chiếm 2,84% trên tổng huy động) và quỹ tín dụng Nhân dân được 41 tỷ đồng (chiếm 0,29% trên tổng huy động). Vốn huy động đáp ứng được 62,98% cho hoạt động tín dụng. Ước thực hiện đến cuối tháng 10, tổng vốn huy động trên địa bàn được 14.417 tỷ đồng, tăng trưởng 0,81% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 19,23% so với cuối năm 2018.

Đến ngày 30 tháng 9, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn được 22.706 tỷ đồng, tăng trưởng 1,31% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 3,61% so với cuối năm 2018. Trong tổng dư nợ: Khối Ngân hàng thương mại nhà nước được 16.064 tỷ đồng (chiếm 70,75% trên tổng dư nợ); khối Ngân hàng thương mại cổ phần được 4.255 tỷ đồng (chiếm 18,74% trên tổng dư nợ); Ngân hàng Chính sách xã hội được 2.343 tỷ đồng (chiếm 10,32% trên tổng dư nợ) và quỹ tín dụng Nhân dân được 44 tỷ đồng (chiếm 0,19% trên tổng dư nợ). Ước thực hiện đến cuối tháng 10, dư nợ được 22.894 tỷ đồng, tăng trưởng 0,83% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 4,47% so với cuối năm 2018.

Nợ quá hạn đến ngày 30 tháng 9 là 722 tỷ đồng, chiếm 3,18% trên tổng dư nợ. Nợ xấu là 455 tỷ đồng, chiếm 2,00% trên tổng dư nợ. Ước đến cuối tháng 10, nợ xấu toàn địa bàn vẫn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.

  1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16 tháng 10, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang sau khi điều chỉnh và bổ sung năm 2019 là 18.937,538 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.231,538 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.865 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.841 tỷ đồng.

Vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 9 là 1.661,745 tỷ đồng, bằng 96,56% so với tháng trước và bằng 120,80% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 220,870 tỷ đồng, bằng 105,17% so với tháng tr­ước và bằng 144,17% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 205,237 tỷ đồng, bằng 107,82% so với tháng tr­ước và bằng 237,27% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.235,638 tỷ đồng, bằng 93,57% so với tháng tr­ước và bằng 108,78% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính tháng 10, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện được 1.714,685 tỷ đồng, bằng 126,94% so với cùng kỳ năm trước và bằng 103,19% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn ngân sách tăng so với tháng trước là do chủ đầu tư triển khai nhanh các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách trung ương hỗ trợ. Ngoài ra được sự quan tâm của tỉnh ủy và Uỷ ban nhân dân tỉnh, đã chỉ đạo giải quyết nhanh, kịp thời các khó khăn vướng mắc và đảm bảo đúng tiến độ, sớm đưa các công trình hoàn thành vào khai thác sử dụng đạt hiệu quả cao, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động đầu tư trên địa bàn.

Ước tính 10 tháng, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 16.262,605 tỷ đồng, bằng 109,77% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 85,87% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.758,655 tỷ đồng, bằng 103,03% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 78,81% so với kế hoạch năm.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 1.544,570 tỷ đồng, bằng 152,61% so với cùng kỳ năm trước và đạt 82,82% so với kế hoạch năm.      

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 12.959,380 tỷ đồng, bằng 107,14% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 87,32% so với kế hoạch năm.

  1. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

3.1. Nông nghiệp

Lúa Thu đông toàn tỉnh đã xuống giống dứt điểm 39.625 ha, đạt 101,6% so với kế hoạch (kế hoạch tỉnh là 39.000 ha), so với cùng kỳ năm trước tăng 0,44% (bằng 175,2 tạ/ha), lúa chủ yếu đang ở giai đoạn làm đòng đến trổ chín, tập trung ở các huyện Châu Thành A, Vị Thủy, Phụng Hiệp, Long Mỹ, thị xã Long Mỹ và thành phố Vị Thanh. Ước năng suất thu hoạch đạt 53,22 tạ/ha so với cùng kỳ tăng 2,52% (bằng 1,31 tạ/ha), các giống được sử dụng chủ yếu như: OM5451 chiếm 82,94%, IR50404 chiếm 6,82%, Đài thơm 8 chiếm 1,81%, OM 18 chiếm 5,65%, giống khác chiếm 2,78%.

Bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại lúa Thu đông như: Ốc bươu vàng, rầy nâu, sâu cuốn lá, đặc biệt là bệnh đạo ôn cổ bông và bệnh lem lép hạt đang phát triển gây hại lúa. Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đang được ngăn chặn kịp thời.

Niên vụ mía 2019, toàn tỉnh đã xuống giống được 8.314 ha, giảm 21,43% so với cùng kỳ (bằng 2.268 ha), diện tích gieo trồng giảm do giá cả thấp, chi phí cao, nông dân chuyển sang trồng cây hàng năm và cây lâu năm. Mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, huyện Long Mỹ, thành phố Vị Thanh và thị xã Ngã Bảy. Diện tích thu hoạch 10 tháng ước được 1.848 ha, giảm 18,23% (bằng 412 ha) so với cùng kỳ, chủ yếu là bán mía ép lấy nước.

Diện tích gieo trồng ngô tháng 10, ước xuống giống được 217,5 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 1,85% (bằng 4,1 ha), ước tổng diện tích gieo trồng ngô đến hiện tại được 2.543 ha, so với cùng kỳ năm trước giảm 1,97% (bằng 51 ha), năng suất thu hoạch ước được 58,51 tạ/ha, sản lượng thu hoạch ước được 13.603 tấn, tăng 1,21% (bằng 162,15 tấn). Diện tích gieo trồng cây rau các loại được 14.551 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 3,25% (bằng 459 ha).

Ngành chức năng đang tiếp tục duy trì công tác giám sát, tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh. Ước tính trong tháng 10, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

- Đàn trâu: Có 1.485 con, giảm 2,75% (bằng 42 con) so với cùng kỳ.

- Đàn bò: Có 3.468 con, tăng 4,55% (bằng 151 con) so với cùng kỳ năm trước.

- Đàn lợn (heo): Hiện có 102.258 con (không tính heo con chưa tách mẹ) so với cùng kỳ năm trước giảm 32,26% (bằng 48.692 con). Đàn lợn giảm là do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu phi xảy ra trên địa bàn tỉnh. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 10 tháng ước được 20.946,53 tấn, giảm 3,51% (bằng 762,6 tấn) so với cùng kỳ.

- Đàn gia cầm: Có 4.234,89 ngàn con, tăng 5,24% (bằng 210,9 ngàn con) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 10 tháng ước được 8.268,67 tấn, tăng 7,32% ( bằng 564,1 tấn).

Tính đến ngày 15 tháng 10, trên địa bàn tỉnh số lượng heo chết và tiêu hủy tại 2.622 ổ dịch tả lợn Châu phi của 08 huyện/thị xã/thành phố có tổng số là 54.890 con, trọng lượng ước tính 3.355,4 tấn. Cụ thể:

- Thành phố Vị Thanh có 265 ổ dịch với 4.093 con chết và tiêu hủy.

- Thị xã Ngã Bảy có 136 ổ dịch với 3.555 con chết và tiêu hủy.

- Thị xã Long Mỹ có 435 ổ dịch với 8.351 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Châu Thành có 203 ổ dịch với 3.855 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Châu Thành A có 196 ổ dịch với 4124 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Phụng Hiệp có 297 ổ dịch với 5.647 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Vị Thủy có 275 ổ dịch với 5.367 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Long Mỹ có 815 ổ dịch với 19.898 con chết và tiêu hủy.

Ngành chức năng đã tiến hành tiêu hủy, tiêu độc khử trùng tại các điểm bị dịch bệnh theo quy định.

3.2. Lâm nghip                

Trong 10 tháng, diện tích rừng trồng mới ước được 302 ha, so với cùng kỳ tăng 0,33% (bằng 01 ha); sản lượng gỗ khai thác được 13.527 m3, so với cùng kỳ tăng 0,12% (bằng 16 m3). Sản lượng củi khai thác được 67.362 Ster, giảm 1,9% (bằng 1.305 Ster) so với cùng kỳ.

Công tác thẩm định, giám sát, kiểm tra, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định, công tác phòng chống cháy rừng được quán triệt và làm tốt nên từ đầu năm đến nay không xảy ra vụ cháy rừng nào trên địa bàn tỉnh.

3.3. Thủy sản

Trong 10 tháng, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước được 7.762,49 ha, tăng 7,17% (bằng 519,4 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá nuôi được 7.599,88 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 7,23% (bằng 512,22 ha).

Tổng sản lượng thủy sản 10 tháng, toàn tỉnh ước được 64.061,7 tấn, tăng 6,01% (bằng 3.629,4 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng được 61.597,6 tấn, tăng 6,29% (bằng 3.645,8 tấn). Sản lượng thủy sản khai thác được 2.464,1 tấn, giảm 0,66% (bằng 16,4 tấn).

Diện tích nuôi trồng thuỷ sản 10 tháng so với cùng kỳ tăng là do cá thả nuôi ruộng sớm và nhiều hơn cùng kỳ, nuôi ruộng không hao phí nhiều thức ăn, do một phần thức ăn đã có sẵn trong tự nhiên nên nhiều hộ tranh thủ đất ruộng để nuôi thủy sản kết hợp, kỹ thuật nuôi cũng được quan tâm nhiều hơn, giá bán cao hơn năm trước, hộ nuôi có lợi nhuận nên tập trung đầu tư nuôi thủy sản.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp thực hiện tháng 9, tính theo giá so sánh 2010, được 2.349,431 tỷ đồng, tăng 7,10% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 3.369,596 tỷ đồng, tăng 7,21% so với cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 99,03 % trong tổng giá trị toàn ngành và phát triển trong thời gian vừa qua là do một số doanh nghiệp lớn chủ động đổi mới công nghệ nhà máy, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh.  Đặc biệt, tỉnh đang ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông - thuỷ sản có lợi thế cạnh tranh và sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, có khả năng xuất khẩu và giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội. Vì vậy, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng so với cùng kỳ.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 10, tính theo giá so sánh 2010, được 2.489,382 tỷ đồng, tăng 5,96% so với tháng trước và tăng 8,16% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 3.543,524 tỷ đồng, tăng 5,16% so với tháng trước và tăng 10,66% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tháng 10 tăng so với tháng trước là do Công ty cổ phần mía đường Cần Thơ đã đi vào hoạt động, một trong 2 xí nghiệp đường của nhà máy đã hoạt động lại vào đầu tháng 10, để thu hoạch mía chạy lũ cho bà con nông dân, nên ước thực hiện tháng 10 năm 2019 tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 10 tháng, tính theo giá so sánh 2010, được 21.832,175 tỷ đồng, tăng 7,29% so với cùng kỳ năm trước và đạt 77,77% so với kế hoạch năm. Tính theo giá thực tế, được 30.684,057 tỷ đồng, tăng 8,74% so với cùng kỳ năm trước và đạt 77,07% so với kế hoạch năm.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có trên 176 doanh nghiệp và hơn 4.644 cơ sở cá thể hoạt động sản xuất công nghiệp, những ngành chiếm tỷ trọng lớn và có tốc độ tăng cao so với mức tăng chung của tỉnh như: Sản xuất chế biến thực phẩm (chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn ngành công nghiệp 46,23% và tăng 6,41% so với cùng kỳ); Sản xuất đồ uống (chiếm tỷ trọng 2,96% và tăng 36,27 % so với cùng kỳ); Sản xuất giày dép (chiếm tỷ trọng 9,65% và tăng 14,57%); Sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy (chiếm tỷ trọng 17,39% và tăng 13,46% so với cùng kỳ); Sản xuất các sản phẩm từ khoán phi kim loại (chiếm tỷ trọng 3,63% và tăng 13,87% so với cùng kỳ)… Bên cạnh đó, các doanh nghiệp có giá trị sản xuất lớn, sau thời gian đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định như; Công ty TNHH Number One Hậu Giang; Công ty TNHH giấy Lee & Man Việt Nam; Công ty TNHH MTV Xi măng Cần Thơ - Hậu Giang; Công ty TNHH MTV bê tông HAMACO Hậu Giang; Công ty TNHH Hóa Nông Lúa Vàng Hậu Giang; Công ty TNHH Lạc Tỷ II… nên đã làm tăng đột biến các ngành này nói riêng và giá trị sản xuất của toàn tỉnh nói chung so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh những yếu tố tác động tích cực làm tăng đột biến giá trị sản xuất của toàn tỉnh thì trong những tháng đầu năm giá xăng dầu tăng mạnh, cộng thêm giá điện tăng, tác động rất lớn đến chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm giá thành sản xuất tăng. Một số doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, bị thua lỗ và phải tạm ngừng hoạt động hoặc giảm sản lượng sản xuất, để tìm biện pháp khắc phục các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp như: Công ty cổ phần mía đường Cần Thơ (tạm ngưng hoạt động một trong 2 xí nghiệp); Công ty cổ phần dầu khí Bình Minh (tạm ngưng hoạt động từ tháng 6/2019); Công ty Cổ phần thủy sản Minh Phú Hậu Giang (sản lượng sản xuất giảm trên 6,5 % so với cùng kỳ, do thiếu nguyên liệu đạt tiêu chuẩn sản xuất để xuất khẩu). Các doanh nghiệp trên có giá trị rất lớn nên khi doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động hoặc giảm sản lượng sản xuất, đã làm giảm giá trị chung của tỉnh, riêng 03 doanh nghiệp trên ước thực hiện 10 tháng đã giảm trên 1.362 tỷ đồng so với cùng kỳ, nên ảnh hưởng giá trị sản xuất công nghiệp chung của toàn tỉnh tăng nhưng không cao so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng trên 15,66 % theo giá thực tế).

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính tháng 10, chỉ số (IIP) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, tăng 1,01% so với tháng trước và tăng 7,15% so với cùng kỳ.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tăng 1,01% so với tháng trước và tăng 7,15% so với cùng kỳ. Cụ thể:

- Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 2,51% so với tháng trước và giảm 13,17% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do một số ngành giảm như: Ngành chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản giảm 16,33% so với cùng kỳ; Ngành sản xuất đường giảm 73,01% so với cùng kỳ; Ngành sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản giảm 3,14% so với cùng kỳ. Vì vậy, đã làm ngành chế biến thực phẩm giảm so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất đồ uống, tăng 3,67% so với tháng trước và tăng 87,24% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH MTV Masan Brewery Hậu Giang tăng sản lượng sản xuất để chuẩn bị hàng hóa cho thị trường dịp Tết Nguyên Đán sắp đến, nên ước chỉ số sản xuất tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

- Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan,  giảm 1,32% so với tháng trước và tăng 35,65% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Lạc Tỷ II chủ động đầu tư nhập khẩu thêm máy móc, thiết bị để hoàn thiện một số công đoạn của giày da, nên chỉ số sản xuất ngành này tăng cao so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay doanh nghiệp đang đầu tư xây dựng mới thêm một phân xưởng sản xuất giày da dự kiến hoàn thành trong quí II năm 2020. Vì vây, dự kiến sản lượng doanh nghiệp này tăng đột biến trong thời gian sắp tới.

- Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy, giảm 0,24% so với tháng trước và tăng 19,84% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do Công ty TNHH Giấy Lee & Man Việt Nam với sản phẩm chính là giấy cuộn và bìa giấy, sau thời gian hơn một năm đi vào hoạt động, doanh nghiệp đã chủ động được nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ ổn định để tăng sản lượng sản xuất. Do đó, làm tăng chỉ số ngành này nói riêng và chỉ số của toàn tỉnh nói chung.

- Ngành sản xuất sản phẩm từ khoán phi kim loại khác tăng 0,92% so với tháng trước và tăng 9,24% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do Công ty TNHH MTV bê tông HAMACO Hậu Giang với sản phẩm chính là cấu kiện xây dựng bằng bê tông và bê tông tươi; Công ty CP khoán sản và xi măng Cần Thơ với sản phẩm chính là xi măng đen, do đây là sản phẩm mới trên địa bàn tỉnh và có giá thành hết sức cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác trong khu vực. Vì vậy, đến nay thị phần của doanh nghiệp này ngày càng mở rộng, sản lượng tăng ổn định so với cùng kỳ.

- Bên cạnh đó, có một số ngành giảm hoặc tăng nhưng thấp hơn mức tăng chung của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như: Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (giảm 65,40% so với cùng kỳ); Sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic (giảm 4,20%)… Nguyên nhân chủ yếu là do tình hình hoạt động kinh doanh kém hiệu quả của một số doanh nghiệp trong các ngành kể trên, nên hàng tồn kho tăng nhiều, thiếu lao động có tay nghề, thị trường tiêu thụ không ổn định, giá điện, xăng dầu có biến động tăng trong những tháng vừa qua, đã làm chi phí đầu vào tăng và giá thành sản phẩm tăng theo… Vì vậy, các doanh nghiệp giảm sản lượng sản xuất để khắc phục các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, nên làm chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng nhưng không cao so với cùng kỳ năm trước.

Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: Tăng 0,28% so với tháng trước và tăng 9,21 % so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty Điện Lực Hậu Giang đã hoạt động ổn định, cung cấp đủ điện một cách an toàn, hiệu quả cho người dân, các hộ sản xuất kinh doanh và các doanh nghiệp được hoạt động liên tục, đảm bảo hạn chế không để xảy ra tình trạng thiếu điện sử dụng và mất điện đột ngột, sản lượng truyền tải điện năng được 63,22 triệu kwh, tăng 0,39 triệu kwh so với tháng trước và tăng 5,58 triệu kwh so với cùng kỳ năm trước.Vì vậy, Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước.

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: Tăng 2,30% so với tháng trước và tăng 6,58% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ năm trước là do Công ty Cổ Phần Cấp Thoát Nước- CTĐT Hậu Giang nắm được nhu cầu sử dụng nước sạch trong sinh hoạt của người dân nông thôn ngày càng cao, nên công ty đã hoàn thiện, khởi công mới các tuyến đường ống dẫn nước đến các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh và khai thác thêm các nguồn nước ngầm, để đảm bảo cung cấp đầy đủ nước sạch phục vụ tốt việc sản xuất kinh doanh và sinh hoạt cho mọi người dân. Vì vậy, sản lượng sản xuất nước sạch sinh hoạt dự tính tháng 10 năm 2019 được 926,61 ngàn M3, tăng 33,93 ngàn M3 so với tháng trước và tăng 93,60 ngàn M3 so với cùng kỳ năm trước.

  1. 5. Thương mại, dịch vụ

5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Trong tháng 9, thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh tăng hơn so với tháng trước do nhu cầu phục vụ cho dịp nghỉ lễ 2/9, Tết trung thu và các mặt hàng phục vụ cho năm học mới. Trong tháng các công trình xây dựng trọng điểm, có quy mô lớn đang bước vào thi công nên các mặt hàng trong nhóm vật liệu xây dựng tăng, nhóm hàng kim loại quý, đá quý cũng có cùng xu hướng tăng do ảnh hưởng của thị trường. Vì vậy, hầu hết trong tháng 9 các nhóm hàng hóa đều có xu hướng tăng hơn so với tháng trước.

Đối với ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống cũng tăng so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng tăng, tại các công trình tập trung nhiều lao động nên các cơ sở ăn uống mở ra để phục vụ nhu cầu. Tuy nhiên, do tác động của thời tiết không thuận lợi nên doanh thu ăn uống tăng chưa cao so với tháng trước.

Thực hiện tháng 9, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.119,269 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 103,44% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,33%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.302,327 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 103,57% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,44%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 290,484 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 100,48% và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,78%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 526,458 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 104,58% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,16%.

Ước thực hiện tháng 10, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.075,724 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 98,60% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,47%.

Bước qua tháng 10, đây là thời điểm bước vào mùa nước nỗi tại đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tại Hậu Giang nói riêng, thời điểm này hàng hóa trên địa bàn tỉnh giảm hơn so với tháng trước do trong tháng này các sản phẩm nông sản và mặt hàng thịt heo cung cấp ra thị trường giảm. Ngoài ra, các hàng hóa khác như may mặc, đồ dùng và một số hàng hóa khác cũng có xu hướng giảm. Vì vậy, tổng mức bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh ước giảm hơn so với tháng trước. 

Dịch vụ ăn uống và một số dịch vụ khác có cùng xu hướng giảm so với tháng trước do các tuyến đường trong khu trung tâm trên địa bàn thành phố Vị Thanh đang bước vào giai đoạn sửa chữa, nâng cấp nên các hàng quán buôn bán chậm lại, có một số cơ sở kinh doanh không liên tục trong tháng.

Ước thực hiện 10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 31.436,802 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 109,31% và so kế hoạch năm đạt 84,72%.

Nhìn chung, trước khó khăn của tình hình dịch bệnh trên heo và thời tiết chưa thuận lợi để sản xuất, kinh doanh, giá cả hàng hóa không ổn định. Do đó, những tháng cuối năm cần thực hiện tốt hơn nữa công tác tổ chức hoạt động hội chợ; xúc tiến thương mại; chương trình đưa hàng Việt về nông thôn; chương trình người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam và một số công tác trọng tâm khác, nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng và đáp ứng tốt nhu cầu mua sắm của người dân để thực hiện tốt kế hoạch đề ra trong năm 2019.

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện tháng 9 được 95,739 triệu USD, so với tháng trước bằng 108,88% và so với cùng kỳ năm trước bằng 114,58%. Nguyên nhân tăng cao so với cùng kỳ là do giá trị nhập khẩu các nguyên liệu tiêu dùng và sản xuất tăng cao. Nhiều nhất là xăng dầu các loại tăng 136,65% so với cùng kỳ, hóa chất, máy móc thiết bị và một số sản phẩm khác tăng 25,94% so với cùng kỳ. Chia ra:

- Xuất khẩu được 59,923 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 93,88% và so với cùng kỳ năm trước bằng 100,69%. Nguyên nhân giá trị xuất khẩu hàng hóa trực tiếp giảm so với tháng trước là do kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng Tôm chế biến các loại, hàng nông sản và giấy thành phẩm giảm. Trong đó, mặt hàng có giá trị sụt giảm nhiều nhất là hàng thủy sản, giảm 6,095 triệu USD tương đương giảm 14,40%, mặt hàng xuất khẩu giấy giảm 1,583 triệu USD tương đương 22,50%, còn lại hàng nông sản có mức sụt giảm không đáng kể. Các nhóm hàng xuất khẩu khác còn lại bao gồm giày, dép các loại và một số mặt hàng khác mặc dù có giá trị tăng so với tháng trước lần lượt ở mức 27,16% và 72,07% nhưng cũng không bù đắp giá trị xuất khẩu giảm đi. Vì vậy, giá trị xuất khẩu giảm nhẹ so với tháng trước.

- Nhập khẩu được 35,816 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 148,63% và so với cùng kỳ năm trước bằng 148,94%.

Ước thực hiện tháng 10, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 99,007 triệu USD, so với tháng trước bằng 103,51% và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,93%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 61,798 triệu USD so với tháng trước bằng 103,37% và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,57%. Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu tăng so với tháng trước là do các doanh nghiệp có thể sẽ ký được nhiều đơn hàng hơn so với tháng trước để phục vụ cho nhu cầu của các nước nhập khẩu vào những tháng cuối năm. Do đó, có khả năng trong tháng tới và những tháng còn lại của năm 2019 kim ngạch xuất khẩu thủy sản sẽ có mức tăng trưởng ổn định hơn so với những tháng đầu năm và sẽ đóng góp đáng kể làm tăng giá trị xuất khẩu chung. Vì vậy, dự báo giá trị xuất khẩu sẽ tăng trong tháng tới.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 37,209 triệu USD so với tháng trước bằng 103,74% và so với cùng kỳ năm trước bằng 100,32%.

Ước thực hiện 10 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 809,844 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 93,90% và so với kế hoạch năm đạt 77,87%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 465,858 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 81,06% và so với kế hoạch năm đạt 63,90%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 295,121 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 123,29% và so với kế hoạch năm đạt 118,05%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 0,968 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 127,03% và so với kế hoạch năm đạt 96,80%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 47,897 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 100,73% và so với kế hoạch năm đạt 79,83%.

Hiện nay, tình hình xuất nhập khẩu trên địa bàn của các doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn. Nguồn nguyên liệu trong nước không thể đáp ứng được nhu cầu và không đảm bảo được chất lượng đầu vào cho các doanh nghiệp, do đó để đảm bảo thực hiện được đơn hàng các doanh nghiệp buộc phải nhập khẩu nguồn nguyên liệu từ bên ngoài. Thêm vào đó, sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thế giới giữa các nước có thế mạnh về thủy sản, giá thành sản phẩm sản xuất cũng đang là những vấn đề khó khăn lớn nhất mà doanh nghiệp đang phải đối mặt.

Vì vậy, những tháng cuối năm, các doanh nghiệp cần có các giải pháp hiệu quả khắc phục ngay những tồn tại đang hiện có, xây dựng kế hoạch sản xuất và tiêu thụ hợp lý đảm bảo đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất, hạn chế tối đa những rủi ro không cần thiết. Tăng cường công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm đến với người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu nhằm tăng khả năng tìm kiếm thêm nhiều thị trường xuất khẩu mới. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cần phối hợp tương tác với các ngành chức năng trong việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào nuôi trồng thủy sản theo hướng chất lượng cao, đảm bảo đủ nguồn nguyên liệu phục vụ cho các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu. Đồng thời, thường xuyên cập nhật các thông tin về sự thay đổi của các quy định, tiêu chuẩn về hàng hóa xuất khẩu để đảm bảo các lô hàng được xuất đi không bị trả lại, không gây tổn thất nghiêm trọng, giúp doanh nghiệp phát triển ổn định, bền vững và ngày càng gia tăng được giá trị xuất khẩu chung.

 

5.3. Tình hình giao thông vận tải

Tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện trong tháng 9 được 106,872 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 113,61%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 36,253 tỷ đồng bằng 91,41% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 42,386 tỷ đồng bằng 109,87% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 28,233 tỷ đồng bằng 178,35% so với cùng kỳ năm trước.

Ước thực hiện tháng 10, tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi trên địa bàn được 110,581 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 110,07%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 37,673 tỷ đồng bằng 92,10% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 44,833 tỷ đồng bằng 102,54% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 28,075 tỷ đồng bằng 177,23% so với cùng kỳ năm trước.

Ước thực hiện 10 tháng, tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi trên địa bàn được 968,186 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 102,18%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 363,200 tỷ đồng bằng 91,72% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 413,489 tỷ đồng bằng 102,08% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 191,497 tỷ đồng bằng 130,76% so với cùng kỳ năm trước.

Dự báo về tình hình chung của ngành vận tải trên địa bàn trong năm 2019 sẽ có sự tăng trưởng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù, hiện nay tình hình thời tiết xấu thường xuyên có mưa bão gây khó khăn và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động vận chuyển, luân chuyển của các cơ sở cá thể vận tải và doanh nghiệp. Hiện nay, ngành vận tải trên địa bàn đang có xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành mạnh mẽ, thay vì trước đây chủ yếu phụ thuộc vào giá trị vận chuyển hàng hóa và hành khách thì ở thời điểm hiện tại ngành vận tải chủ yếu phát triển thiên về hướng dịch vụ cho thuê kho bãi và hỗ trợ vận tải cùng với bưu chính và chuyển phát. Từ năm 2017 cho đến nay, tỷ trọng hoạt động của khu vực này không ngừng tăng lên năm sau luôn cao hơn năm trước lần lượt là 10,06% năm 2017, 13,58% năm 2018 và dự tính năm 2019 có thể ở mức 19,87%. Các doanh nghiệp vẫn đang tiếp tục đầu tư mở rộng kho, bến bãi để phục vụ cho các doanh nghiệp lớn đang có nhiều hạng mục đầu tư tại các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Châu Thành và Châu Thành A. Vì vậy, dự đoán từ đây đến cuối năm giá trị của khu vực dịch vụ vận tải sẽ còn tăng nhiều hơn nữa và sẽ góp phần vào sự tăng trưởng chung của ngành vận tải.

Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Thực hiện tháng 9, hàng hoá vận chuyển được 705.666 tấn (67.552.785 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 91,58% (97,94%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,54% (211,37%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 153.611 tấn (9.442.065 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 94,76% (92,79%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,46% (102,96%). Đường sông thực hiện được 552.055 tấn (58.110.720 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 97,71% (98,84%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,02% (254,99%).

Ước thực hiện tháng 10, toàn tỉnh vận chuyển được 726.662 tấn hàng hóa các loại (70.342.133 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 102,98% (104,13%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,70% (212,96%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 156.644 tấn (9.928.643 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,97% (105,15%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,33% (103,68%). Đường sông thực hiện được 570.018 tấn (60.413.490 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 103,25 % (103,96 %) và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,53% (257,59%).

Ước thực hiện 10 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 6.579.666 tấn hàng hóa các loại (492.438.571 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 103,15% (143,44%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 1.538.575 tấn (79.379.784 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 100,77% (101,99%). Đường sông vận chuyển được 5.041.091 tấn (413.058.787 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 103,89% (155,59%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Thực hiện tháng 9, toàn tỉnh vận chuyển được 9.525.704 lượt hành khách (54.285.899 HK.Km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,71% (99,81%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,82% (93,39%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.266.487 lượt hành khách (40.719.483  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 99,75% (98,69%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,92% (91,45%). Đường sông vận chuyển được 2.259.217 lượt hành khách (13.566.416 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 103,92% (103,31%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,50% (99,73%).

Ước thực hiện tháng 10, toàn tỉnh thực hiện được 9.621.025 lượt hành khách (56.184.320 HK.km), so với tháng trước bằng 100,88% (103,50%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,66% (96,12%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.316.768 lượt hành khách (42.168.826  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,54% (103,56%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,55% (95,35%). Đường sông vận chuyển được 2.304.257 lượt hành khách (14.015.494 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 101,99% (103,31%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,01% (98,53%).

Ước thực hiện 10 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 95.053.379 lượt hành khách (518.633.914 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 94,43% (93,82%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 73.274.817 lượt hành khách (385.155.948 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 93,73% (92,20%). Đường sông vận chuyển được 21.778.562 lượt hành khách (133.477.966 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 96,88% (98,83%).

  1. Các vấn đề văn hóa, thể thao, xã hội và tai nạn giao thông

6.1. Tình hình văn hóa, thể thao                             

Trong tháng 10, Đài Phát thanh và Truyền hình Hậu Giang tập trung tuyên truyền các hoạt động ngày lễ lớn của đất nước như kỷ niệm Quốc khánh 2/9 và 50 năm thực hiện Di chúc Hồ Chí Minh; Ngày quốc tế người cao tuổi 1/10, Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, Ngày truyền thống Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam 15/10, thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam 20/10, Đại hội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hậu Giang,…Đài còn tập trung phản ánh tình hình an toàn vệ sinh thực phẩm, an toàn giao thông, thiệt hại do sạt lở, công tác ứng phó thiên tai,… đặc biệt là tập trung phản ánh đợt triều cường lịch sử, những dự báo trong thời gian tới ở thành phố Cần Thơ và địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, Đài đã sản xuất 553 tin, 345 phóng sự, 10 phỏng vấn và 05 Tiếng nói cơ sở. Hộp thư truyền hình nhận được 34 đơn thư. Đã trả lời được 25 đơn thư. Tư vấn và hướng dẫn các trình tự pháp lý cho hơn 30 lượt khán giả thông qua số điện thoại.

Trong tháng, Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục duy trì và triển khai nhiều hoạt động, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của các tầng lớp dân cư trong tỉnh. Tạo môi trường văn hoá vui tươi, lành mạnh, nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, toàn ngành đã thực hiện 1.960m2 panô các loại, 45 băng rôn, in và treo hơn 1.220 cờ các loại, 66 lượt phóng thanh cổ động, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, Hội thi, Hội diễn, Liên hoan, Hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành.

Đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức giao lưu trong và ngoài tỉnh 04 cuộc; xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 72 buổi, thu hút 37.950 lượt người xem.

Trong tháng, Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Hậu Giang xây dựng và biểu diễn 06 suất diễn thu hút trên 3.600 lượt người xem, phục vụ các Sở, ban ngành tỉnh và các vùng nông thôn,...

Về hoạt động của Thư viện, hệ thống Thư viện tỉnh và huyện, thị xã, thành phố đã phục vụ 133.021 lượt người với 266.042 lượt sách báo, truy cập máy tính; cấp 366 thẻ bạn đọc. Tổ chức luân chuyển 4.000 bản sách cho 20 thư viện xã, phường, thị trấn và luân chuyển 2.000 bản sách cho 10 Trường học theo Kế hoạch phối hợp giữa Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Sở Giáo dục và Đào tạo về nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về thư viện và đẩy mạnh các hoạt động giáo dục, học tập suốt đời trong các thư viện giai đoạn 2019 - 2020.

Trong tháng, hệ thống các di tích toàn tỉnh phục vụ 15.950 lượt khách (trong đó có 16 đoàn khách) tham quan tại các Khu di tích: Chiến thắng Chương Thiện (thành phố Vị Thanh); căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ; Chiến thắng Tầm Vu; Đền thờ Bác Hồ; Chiến thắng Chương Thiện tại huyện Long Mỹ; Khu trù mật Vị Thanh - Hỏa Lựu,... Triển lãm lưu động và thường xuyên 02 cuộc phục vụ các sự kiện lớn của đất nước và của tỉnh với các chuyên đề: Thành tựu 15 năm xây dựng và phát triển tỉnh Hậu Giang; một số hoạt động tiêu biểu Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hậu Giang, nhiệm kỳ 2019 - 2024; Đại hội đại biểu Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam tỉnh Hậu Giang lần thứ IV nhiệm kỳ 2019 - 2024;…

Phối hợp tổ chức thành công giải vô địch Vovinam tỉnh Hậu Giang lần thứ I năm 2019. Tham dự có 172 Vận động viên đến từ 07 đơn vị: Huyện Long Mỹ, huyện Phụng Hiệp; huyện Châu Thành A, huyện Châu Thành; huyện Vị Thủy, thị xã Long Mỹ và thị xã Ngã Bảy. Kết quả: Ban tổ chức trao 28 bộ huy chương. Giải phục vụ gần 2.000 lượt người xem. Tham dự các giải: Điền kinh vô địch quốc gia tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả đạt được 01 HCB; vô địch Karate quốc gia tại Ninh Bình. Kết quả đạt được 01 HCB, 01 HCĐ; Bóng rổ U23 3x3 quốc gia tại Khánh Hòa. Kết quả đạt hạng Ba.

6.2. Lao động và an sinh xã hội

Trong tháng, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 1.715 lao động, đạt 99,56% kế hoạch năm. Trong đó, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 12 người, đạt 108,9% kế hoạch năm. Tư vấn việc làm cho 2.234 lao động; có 367 lao động đăng ký tìm việc làm; giới thiệu việc làm cho 254 lao động. Hỗ trợ giới thiệu, tuyển dụng 13.295 lao động cho 96 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Tiến hành ký kết và triển khai thực hiện Kế hoạch liên lịch, phối hợp với các cơ quan báo chí địa phương, các ngành có liên quan trong việc tuyên truyền, tư vấn đưa người lao động Hậu Giang sang làm việc tại Nhật Bản. Tổ chức đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu cho 14 doanh nghiệp với 2.215 lao động với các nghề như may công nghiệp, đan dây nhựa, đan lục bình, cắt uốn tóc, kỹ thuật xây dựng, kỹ thuật chế biến món ăn,...

Trợ cấp thường xuyên cho 29.812 lượt đối tượng với số tiền 11,247 tỷ đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 266 trường hợp với số tiền 1,436 tỷ đồng; hỗ trợ đột xuất cho 28 trường hợp với số tiền 289 triệu đồng.

Tổ chức 05 lớp tập huấn nâng cao năng lực về bình đẳng giới cho 418 đại biểu là nữ lãnh đạo, quản lý, nữ trong diện quy hoạch cấp ủy và lãnh đạo, quản lý cấp huyện, xã. Tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nội bộ và ra dân được 50 cuộc với 2.132 lượt người tham dự.

Thực hiện Kế hoạch của Ban Chỉ đạo 138 tỉnh về việc kiểm tra xử lý vi phạm về trật tự xã hội, tệ nạn xã hội. Đội, tổ kiểm tra liên ngành các cấp đã kiểm tra được 28 lượt cơ sở; phát hiện 04 cơ sở vi phạm, phạt hành chính 04 cơ sở với số tiền 3,8 triệu đồng.

6.3. Y tế

Trong tháng 10, theo báo cáo của Sở Y tế có 112 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, tăng 06 ca so với tháng trước, cộng dồn có 493 ca, tăng 293 ca so với cùng kỳ. Bệnh tay chân miệng có 169 ca mắc mới, tăng 91 ca so với tháng trước, cộng dồn có 512 ca, tăng 177 ca so với cùng kỳ. Bệnh sởi, bệnh viêm gan do virut B, bệnh quai bị không có ca mắc bệnh mới. Bệnh dịch lạ và các bệnh truyền nhiễm khác chưa ghi nhận ca mắc trên địa bàn tỉnh.

Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 995 trẻ, cộng dồn là 9.514 trẻ, đạt 81,59%; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 995, cộng dồn là 9.597 trẻ, đạt 81,69%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 957 thai phụ, cộng dồn là 8.775 thai phụ, đạt 75,26%. Số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng là 10 ca, cộng dồn là 121 ca (tăng 55 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.705 ca (còn sống 1.121 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng là 0 ca, cộng dồn là 20 ca (giảm 07 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.021 ca; số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 0 ca, cộng dồn là 14 ca (tăng 25 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 584 ca. Số người hiện đang điều trị Methadone 38 người. Tổng số bệnh nhân điều trị ARV 744 người.

Sở Y tế tiếp tục triển thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh chủ động, hạn chế thấp nhất sự lây lan của dịch bệnh. Công tác chăm sóc, điều trị bệnh nhân HIV/AIDS đều được duy trì thường xuyên và đạt được kết quả tốt. Thực hiện tốt công tác khám, chữa bệnh cho đối tượng có thẻ BHYT. Triển khai thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh đã góp phần giảm thời gian chờ đợi khám bệnh của người bệnh, giảm lãng phí xã hội. Tiếp tục chỉ đạo các đơn vị có giường bệnh tập trung triển khai thực hiện tốt Kế hoạch về đổi mới phong cách và thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh. Công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường, không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm trên 30 người/vụ.

6.4. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 10, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ tai nạn giao thông, làm chết 01 người và làm bị thương 03 người. So với tháng trước giảm 01 vụ, số người chết giảm 02 người và số người bị thương tăng  02 người, đều tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước số vụ giảm 03 vụ, số người chết giảm 03 người và số người bị thương là tương đương cũng đều tập trung ở đường bộ.

Trong 10 tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 73 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 71 vụ, đường thủy 02 vụ), làm chết tổng cộng 67 người (đường bộ chết 65 người, đường thủy chết 02 người) và làm bị thương 18 người (tập trung ở đường bộ). So với cùng kỳ năm trước giảm 07 vụ (tập trung ở đường bộ), số người chết giảm 01 người (đường bộ giảm 03, đường thủy tăng 02) và số người bị thương giảm 14 người, tập trung ở đường bộ ./.