Tháng 11
11:19 02/12/2019

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

Tháng 10, ước tháng 11 và 11 tháng năm 2019

 

  1. Tài chính - Tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 11 được 752,438 tỷ đồng, luỹ kế 8.567,481 tỷ đồng, đạt 122,23% dự toán Trung ương, đạt 121,54% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, Trung ương trợ cấp là 313,519 tỷ đồng, lũy kế 3.229,167 tỷ đồng, đạt 95,36% dự toán Trung ương, đạt 94,25% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Thu nội địa được 400 tỷ đồng, luỹ kế 3.075,066 tỷ đồng, đạt 90,10% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi ngân sách địa phương tháng 11 được 1.582,741 tỷ đồng, luỹ kế 7.122,953 tỷ đồng, đạt 117,82% dự toán Trung ương, đạt 85,83% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi xây dựng cơ bản được 865,178 tỷ đồng, luỹ kế 3.140,195 tỷ đồng, đạt 154,24% dự toán Trung ương giao, đạt 88,16% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chi thường xuyên được 717,563 tỷ đồng, luỹ kế 3.840,708 tỷ đồng, đạt 98,31% dự toán Trung ương, đạt 84,21% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 31 tháng 10, tổng vốn huy động trên địa bàn được 14.231 tỷ đồng, giảm 0,48% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 17,69% so với cuối năm 2018. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn: Khối Ngân hàng thương mại nhà nước huy động được 9.492 tỷ đồng (chiếm 66,70%); khối Ngân hàng thương mại cổ phần 4.291 tỷ đồng (chiếm 30,15%); ngân hàng Chính sách xã hội 406 tỷ đồng (chiếm 2,85%) và quỹ tín dụng Nhân dân 42 tỷ đồng (chiếm 0,30%). Vốn huy động đáp ứng được 63,16% cho hoạt động tín dụng. Ước thực hiện đến 31 tháng 12, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn được 14.500 tỷ đồng, tăng trưởng 19,91% so với cuối năm 2018, đạt 142,21% kế hoạch.

Đến ngày 30 tháng 10, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn được 22.531 tỷ đồng, giảm 0,77% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 2,81% so với cuối năm 2018. Trong tổng dư nợ: Khối Ngân hàng thương mại nhà nước là 15.804 tỷ đồng (chiếm 70,14%); khối Ngân hàng thương mại cổ phần là 4.316 tỷ đồng (chiếm 19,16%); ngân hàng Chính sách xã hội là 2.367 tỷ đồng (chiếm 10,51%) và quỹ tín dụng Nhân dân là 44 tỷ đồng (chiếm 0,19%). Ước thực hiện đến 31 tháng 12, dư nợ là 23.455 tỷ đồng, tăng trưởng 7,03% so với cuối năm 2018, đạt 100,43% kế hoạch.

Nợ quá hạn đến ngày 31 tháng 10 là 713 tỷ đồng, chiếm 3,16% trên tổng dư nợ. Nợ xấu là 446 tỷ đồng, chiếm 1,98% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 31 tháng 12, nợ xấu toàn địa bàn được kiểm soát an toàn theo mục tiêu đã đề ra.

  1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 15 tháng 11, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang sau khi điều chỉnh và bổ sung năm 2019 là 19.185,766 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.279,766 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 2.065 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.841 tỷ đồng.

Vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 10 là 1.620,490 tỷ đồng, bằng 97,52% so với tháng trước và bằng 119,97% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 247,590 tỷ đồng, bằng 112,10% so với tháng tr­ước và bằng 146,94% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 235,600 tỷ đồng, bằng 114,79% so với tháng tr­ước và bằng 260,73% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.137,300 tỷ đồng, bằng 92,04% so với tháng tr­ước và bằng 104,16% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính tháng 11, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện được 1.671,260 tỷ đồng, bằng 118,33% so với cùng kỳ năm trước và bằng 103,16% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn ngân sách tăng so với tháng trước là do chủ đầu tư triển khai nhanh các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách trung ương hỗ trợ. Ngoài ra còn được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo các cấp, các sở, ngành và các chủ đầu tư đã đề ra các giải pháp kịp thời và hợp lý như: phân nguồn và chuyển vốn giữa các công trình với quyết tâm thực hiện hoàn thành vốn đầu tư theo kế hoạch đã đề ra. Bên cạnh đó, Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh đã phối hợp với các ngành chức năng đẩy nhanh tiến độ đền bù, giải phóng mặt bằng và bàn giao các Khu tái định cư ở các dự án.

Ước tính 11 tháng, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 17.840,030 tỷ đồng, bằng 109,93% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 92,99% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 2.042,720 tỷ đồng, bằng 105,97% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 89,60% so với kế hoạch năm.      

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 1.810,450 tỷ đồng, bằng 161,93% so với cùng kỳ năm trước và đạt 87,67% so với kế hoạch năm.      

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 13.986,860 tỷ đồng, bằng 106,10% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 94,24% so với kế hoạch năm.

  1. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

3.1. Nông nghiệp

Lúa Thu đông toàn tỉnh đã xuống giống dứt điểm được 39.625 ha, đạt 101,6% so với kế hoạch (kế hoạch tỉnh là 39.000 ha), lúa chủ yếu đang ở giai đoạn làm đòng đến trổ chín, hiện nay đã thu hoạch được 35.356 ha, sơ bộ năng suất thu hoạch được 54,07 tạ/ha. Tổng sản lượng lúa thu hoạch ước toàn vụ được 214.252 tấn, tăng 0,76% (bằng 1.607 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng lúa Thu đông năm nay tăng là do diện tích tăng, thời tiết thuận lợi cho việc xuống giống của nông dân, người dân thực hiện việc chọn các giống tốt thích hợp với địa phương, áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc giúp cây lúa chắc khỏe, ít bị đổ ngã, các giống lúa được sử dụng chủ yếu như: OM5451 chiếm 82,94%, IR50404 chiếm 6,82%, Đài thơm 8 chiếm 1,81%, OM 18 chiếm 5,65%, giống khác chiếm 2,78%.

Hiện nay, Lúa Đông xuân đã xuống giống được 2.633 ha. Năm nay, vụ lúa này xuống giống sớm hơn so với cùng kỳ do tình hình thời tiết diễn biến thất thường nên bà con nông dân thực hiện đúng theo lịch thời vụ do các ngành chức năng khuyến cáo, nhằm hạn chế thiệt hại do hạn mặn xâm nhập, lúa đang ở giai đoạn mạ, tập trung chủ yếu ở các huyện Châu Thành A và Vị Thủy.

Bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại lúa như: Ốc bươu vàng, rầy nâu, sâu cuốn lá đặc biệt bệnh đạo ôn cổ bông và bệnh lem lép hạt đang phát triển gây hại lúa. Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đang được ngăn chặn kịp thời.

Niên vụ mía 2019, toàn tỉnh đã xuống giống được 8.314 ha, giảm 21,43% so với cùng kỳ (bằng 2.268 ha), diện tích gieo trồng giảm do giá cả thấp, chi phí cao, nông dân chuyển sang trồng cây hàng năm và cây lâu năm. Mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, Long Mỹ, Thành phố Vị Thanh và Thị xã Ngã Bảy. Diện tích thu hoạch 11 tháng ước được 5.166 ha, giảm 7,95% (bằng 446 ha) so với cùng kỳ.

 Diện tích gieo trồng ngô tháng 11, ước xuống giống được 309 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 2,66% (bằng 08 ha), năng suất thu hoạch ước được 60,01 tạ/ha. Ước tổng diện tích gieo trồng ngô đến hiện tại được 2.852 ha, so với cùng kỳ năm trước giảm 1,49% (bằng 43 ha), sản lượng thu hoạch 11 tháng ước được 17.281 tấn, tăng 1,17% (bằng 200 tấn).

Diện tích gieo trồng cây rau các loại đến hiện tại được 16.432 ha, tăng 2,82% (bằng 451 ha) so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cây rau các loại tăng là do bà con nông dân chuyển diện tích trồng mía kém hiệu quả sang trồng rau màu, góp phần tăng thu nhập ổn định cho người dân.

Ngành chức năng đang tiếp tục duy trì công tác giám sát, tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh. Ước tính trong tháng 11, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

- Đàn trâu: Có 1.466 con, giảm 2,4% (bằng 36 con) so với cùng kỳ.

- Đàn bò: Có 3.550 con, gỉảm 4,36% (bằng 162 con) so với cùng kỳ năm trước.

- Đàn lợn (heo): Hiện có 101.661 con (không tính heo con chưa tách mẹ) so với cùng kỳ năm trước giảm 32,36% (bằng 48.638 con). Đàn lợn giảm là do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu phi xảy ra trên địa bàn tỉnh. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 11 tháng ước được 22.623 tấn, so với cùng kỳ giảm 7,31% (bằng 1.785 tấn).

- Đàn gia cầm: Có 4.434 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,74% (bằng 200 ngàn con). Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 11 tháng ước được 10.266 tấn, tăng 16,27% ( bằng 1.437 tấn).

Tính đến ngày 17 tháng 11, trên địa bàn tỉnh, số lượng heo chết và tiêu hủy tại 2.678 ổ dịch tả lợn Châu phi của 08 huyện/thị xã/thành phố có tổng số 55.257 con, trọng lượng ước tính 3.377,8 tấn. Cụ thể:

- Thành phố Vị Thanh có 272 ổ dịch với 4.144 con chết và tiêu hủy.

- Thị xã Ngã Bảy có 139 ổ dịch với 3.580 con chết và tiêu hủy.

- Thị xã Long Mỹ có 446 ổ dịch với 8.422 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Châu Thành có 204 ổ dịch với 3.862 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Châu Thành A có 197 ổ dịch với 4.132 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Phụng Hiệp có 300 ổ dịch với 5.660 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Vị Thủy có 290 ổ dịch với 5.436 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Long Mỹ có 830 ổ dịch với 20.021 con chết và tiêu hủy.

Ngành chức năng đã tiến hành tiêu hủy, tiêu độc khử trùng tại các điểm bị dịch bệnh theo quy định.

3.2. Lâm nghip            

Trong 11 tháng, diện tích rừng trồng mới ước được 409 ha, so với cùng kỳ tăng 2,14% (bằng 08 ha); sản lượng gỗ khai thác được 13.608 m3, so với cùng kỳ tăng 0,14% (bằng 19 m3), sản lượng củi khai thác được 67.362 Ster giảm 1,9% (bằng 1.305 Ster) so với cùng kỳ.

Công tác thẩm định, giám sát, kiểm tra, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định, công tác phòng chống cháy rừng được quán triệt và làm tốt nên từ đầu năm đến nay không xảy ra vụ cháy rừng nào trên địa bàn tỉnh.

3.3 Thủy sản

Trong 11 tháng, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 7.794,37 ha, tăng 6,19% (bằng 454 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Tổng sản lượng thủy sản 11 tháng, toàn tỉnh ước được 68.012 tấn, tăng 6,67% (bằng 4.256 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng 65.378 tấn, tăng 6,99% (bằng 4.274 tấn). Sản lượng thủy sản khai thác 2.634 tấn, giảm 0,67% (bằng 17,84 tấn).

Diện tích nuôi trồng và sản lượng thuỷ sản 11 tháng so với cùng kỳ năm trước tăng là do cá thả nuôi ruộng sớm và nhiều hơn cùng kỳ, kỹ thuật nuôi được quan tâm nhiều hơn, giá bán cao hơn năm trước, hộ nuôi có lợi nhuận nên tập trung đầu tư nuôi thủy sản.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp thực hiện tháng 10, tính theo giá so sánh 2010, được 2.489,792 tỷ đồng, tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 3.434,884 tỷ đồng, tăng 7,27% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do chính sách nhà nước khuyến khích “người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và chương trình đưa hàng Việt về nông thôn đã phát huy hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở cá thể công nghiệp và doanh nghiệp nhỏ tăng sản lượng sản xuất các mặt hàng tiêu thụ nội địa để chuẩn bị phục vụ tiêu dùng trong dịp NOEL và Tết Dương Lịch năm 2020 sắp tới.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 11, tính theo giá so sánh 2010, được 2.685,760 tỷ đồng, tăng 7,87% so với tháng trước và tăng 13,13% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 3.798,104 tỷ đồng, tăng 10,57% so với tháng trước và tăng 14,65% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH MTV Masan Brewery HG và Công ty TNHH Number One Hậu Giang tăng sản lượng sản xuất để phục vụ thị trường Tết Nguyên đán năm 2020. Bên cạnh đó, tăng một phần là do Công ty cổ phần mía đường Cần Thơ đã đi vào hoạt động ổn định niên vụ mía năm 2019 - 2020, nên ước thực hiện tháng 11 năm 2019 tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 11 tháng, tính theo giá so sánh 2010, được 24.518,345 tỷ đồng, tăng 7,90% so với cùng kỳ năm trước và đạt 87,34% so với kế hoạch năm. Tính theo giá thực tế, được 34.373,521 tỷ đồng, tăng 9,02% so với cùng kỳ năm trước và đạt 86,34% so với kế hoạch năm.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có trên 176 doanh nghiệp và hơn 4.644 cơ sở cá thể hoạt động sản xuất công nghiệp, Trong đó, 09 doanh nghiệp có giá trị rất lớn, chiếm tỷ trọng trên 66,61 % tổng giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh, từ đầu năm đến nay có 04 doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, mở rộng quy mô tăng sản lượng sản xuất như: Công ty TNHH giấy Lee & Man Việt Nam; Công ty TNHH MTV Xi măng Cần Thơ - Hậu Giang; Công ty TNHH MTV bê tông HAMACO Hậu Giang; Công ty TNHH Lạc Tỷ II, tổng giá trị của các doanh nghiệp này tăng trên 1.181 tỷ đồng so với cùng kỳ. Do đó, đã làm một số ngành tăng cao so với mức tăng chung của tỉnh như; Sản xuất giày dép (chiếm tỷ trọng 9,11% và tăng 13,58%); Sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy (chiếm tỷ trọng 15,18% và tăng 14,22% so với cùng kỳ); Sản xuất các sản phẩm từ khoán phi kim loại (chiếm tỷ trọng 3,63% và tăng 14,57% so với cùng kỳ) nên đã làm tăng giá trị sản xuất của toàn tỉnh so với cùng kỳ năm trước.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính tháng 11, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang tăng 3,80% so với tháng trước và tăng 7,25% so với cùng kỳ.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tăng 3,80% so với tháng trước và tăng 7,26% so với cùng kỳ. Trong đó, Một số ngành tăng cao hơn mức tăng chung của tỉnh so với cùng kỳ như:

- Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 3,65% so với tháng trước và tăng 7,32% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ là do doanh nghiệp gặp thuận lợi trong quá trình tiêu thụ sản phẩm tại các thị trường truyền thống và có thêm khách hàng ở những thị trường mới. Vì vậy, chỉ số sản xuất của các ngành như: Chỉ số chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản (tăng 16,91%); Chỉ số xay xát và sản xuất bột thô (tăng 0,86%)... Bên cạnh đó, chỉ số của các mặt hàng tiêu thụ trong nước giảm do bị cạnh tranh bởi hàng nhập khẩu và các doanh nghiệp khác cùng ngành như: Chỉ số sản xuất đường (giảm 22,23%); Chỉ số chế biến, bảo quản rau quả (giảm 29,30%), Chỉ số sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản (giảm 11,78%), nên chỉ số chung của ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng nhưng không cao so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 7,56% so với tháng trước và tăng 37,90% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Lạc Tỷ II đang gặp thuận lợi trong quá trình sản xuất và xuất khẩu, doanh nghiệp đã mở rộng phân xưởng sản xuất Giày thể thao, hiện tại doanh nghiệp có trên 13.143 lao động, tăng 1,43% so với cùng kỳ năm trước, do số lượng đơn đặt hàng tăng lên nên doanh nghiệp đang tuyển dụng thêm lao động để kịp hoàn thành các hợp đồng đã ký. Vì vậy, chỉ số sản xuất ngành này tăng cao so với cùng kỳ và có xu hướng tăng cao hơn nữa trong thời gian tới.

- Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 2,51% so với tháng trước và tăng 21,49% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do Công ty TNHH Giấy Lee & Man Việt Nam với sản phẩm chính là giấy cuộn và bìa giấy, sau thời gian hơn một năm đi vào hoạt động ổn định, doanh nghiệp đã chủ động được nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ ổn định, nên chỉ số sản xuất ngành này tăng so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất sản phẩm từ khoán phi kim loại tăng 3,64% so với tháng trước và tăng 7,12% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do công ty TNHH MTV bê tông Hamaco-Hậu Giang sản phẩm chính là cấu kiện xây dựng bằng bê tông và Công ty TNHH MTV xi măng Cần Thơ - Hậu Giang với sản phẩm chính là xi măng đen, do đây là sản phẩm mới trên địa bàn tỉnh và có giá thành hết sức cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác trong khu vực. Vì vây, đến nay thị phần của các doanh nghiệp này ngày càng mở rộng, sản lượng tăng ổn định so với cùng kỳ. Vì vậy, chỉ số ngành này tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

- Ngoài ra, có một số ngành có mức tăng trưởng âm hoặc thấp hơn mức tăng chung của tỉnh so với cùng kỳ như: Sản xuất đồ uống (giảm 32,14%); Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (giảm 19,13%). Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng hoạt động kinh doanh kém hiệu quả của một số doanh nghiệp trong các ngành kể trên là do hàng tồn kho tăng nhiều, thiếu lao động có tay nghề, thị trường tiêu thụ không ổn định, giá điện, xăng dầu có biến động tăng trong những tháng vừa qua, đã làm chi phí đầu vào tăng và giá thành sản phẩm tăng theo. Vì vậy, các doanh nghiệp giảm sản lượng sản xuất để khắc phục các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, nên làm ảnh hưởng đến chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng nhưng không cao so với cùng kỳ năm trước.

Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: Tăng 0,28% so với tháng trước và tăng 3,48% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty Điện Lực Hậu Giang đã hoạt động ổn định, cung cấp đủ điện một cách an toàn, hiệu quả cho người dân, các hộ sản xuất kinh doanh và các doanh nghiệp được hoạt động liên tục, đảm bảo hạn chế không để xảy ra tình trạng thiếu điện sử dụng và mất điện đột ngột, sản lượng truyền tải điện năng tăng 0,22% so với tháng trước và tăng 3,24% so với cùng kỳ năm trước.

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: Tăng 4,68% so với tháng trước và tăng 7,12% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ năm trước là do ý thức sử dụng nước sạch trong sinh hoạt của người dân nông thôn ngày càng cao nên Công ty Cổ Phần Cấp Thoát Nước- CTĐT Hậu Giang đã nâng cấp và khởi công mới các tuyến đường ống dẫn nước đến các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh, để đảm bảo cung cấp đầy đủ nước sạch phục vụ tốt việc sản xuất kinh doanh và sinh hoạt cho người dân.

  1. 5. Thương mại, dịch vụ

5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Trong tháng 10, đây là thời điểm bước vào mùa nước nổi tại đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tại Hậu Giang nói riêng, do đó, lượng hàng hóa trên địa bàn tỉnh giảm hơn so với tháng trước do trong tháng này các sản phẩm nông sản cung cấp ra thị trường giảm. Ngoài ra, nhu cầu sử dụng các hàng hóa khác như may mặc, đồ dùng và một số hàng hóa khác cũng có xu hướng giảm. Vì vậy, tổng mức bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh ước giảm hơn so với tháng trước. 

Dịch vụ ăn uống và một số dịch vụ khác có cùng xu hướng giảm so với tháng trước do các tuyến đường trong khu trung tâm trên địa bàn thành phố Vị Thanh đang bước vào giai đoạn sửa chữa, nâng cấp nên các hàng quán buôn bán chậm lại, có một số cơ sở kinh doanh không liên tục trong tháng.

Thực hiện tháng 10, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.051,203 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 97,82% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,59%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.254,063 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 97,90% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,38%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 284,196 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 97,84% và so với cùng kỳ năm trước bằng 115,57%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 512,944 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 97,43% và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,43%.

Ước thực hiện tháng 11, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.098,944 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 101,56% và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,69%.

Bước qua tháng 11, thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh tăng nhẹ so với tháng trước, do giá cả của mặt hàng thực phẩm tươi sống như: Thịt heo, thịt gia cầm, thủy hải sản, các loại rau xanh, trái cây có giá cả nằm ở mức cao. Ngoài ra, bước qua tháng 11 là thời điểm chuẩn bị gieo trồng vụ lúa chính trong năm và các loại hoa màu phục vụ cho Tết Nguyên đán nên nhóm hàng bán buôn vật tư nông nghiệp, giống cây trồng được tiêu thụ mạnh. Bên cạnh đó, đây là thời điểm các doanh nghiệp kinh doanh bắt đầu chuẩn bị hàng hóa để phục vụ dịp lễ cuối năm và Tết Nguyên đán Canh Tý 2020 nên thương mại trong tháng có xu hướng tăng hơn so với tháng trước, tuy nhiên lượng hàng hóa chưa được lưu thông, trao đổi nhiều nên mức tăng không cao.

Ngành lưu trú, ăn uống và các ngành dịch vụ khác trong tháng cũng có cùng xu hướng tăng so với tháng trước do các tuyến đường đã cơ bản thi công sắp xong, tạo thuận lợi cho hoạt động kinh doanh hơn, tuy nhiên do chưa ổn định được địa điểm kinh doanh nên hoạt động của một số cơ sở chưa liên tục nên chỉ tăng nhẹ so với tháng trước. 

Ước thực hiện 11 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 34.511,225 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 109,08% và so kế hoạch năm đạt 93,01%.

Nhìn chung, trước khó khăn của tình hình dịch bệnh trên heo và thời tiết chưa thuận lợi để sản xuất, kinh doanh, giá cả hàng hóa không ổn định. Do đó, những tháng cuối năm cần thực hiện tốt hơn nữa công tác tổ chức hoạt động hội chợ; xúc tiến thương mại; chương trình đưa hàng Việt về nông thôn; chương trình người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam và một số công tác trọng tâm khác, nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng và đáp ứng tốt nhu cầu mua sắm của người dân để thực hiện tốt kế hoạch đề ra trong năm 2019.

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện tháng 10 được 91,400 triệu USD, so với tháng trước bằng 95,47% và so với cùng kỳ năm trước bằng 95,02%. Chia ra:

- Xuất khẩu được 67,228 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 112,19% và so với cùng kỳ năm trước bằng 113,76%. Nguyên nhân giá trị xuất khẩu hàng hóa trực tiếp tăng so với tháng trước chủ yếu là do giá trị xuất khẩu giày, dép tăng 56,98% và mặt hàng giấy thành phẩm tăng 19,88% so với tháng trước. Các mặt hàng khác còn lại có giá trị lớn như hàng thủy sản, hàng nông sản rau quả và một số mặt hàng khác mặc dù có giảm, bằng 90,67% so với tháng trước nhưng giá trị giảm không lớn. Vì vậy, giá trị xuất khẩu chung của tháng 10 vẫn tăng.

- Nhập khẩu được 24,172 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 67,49% và so với cùng kỳ năm trước bằng 65,17%.

Ước thực hiện tháng 11, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 96,806 triệu USD, so với tháng trước bằng 105,91% và so với cùng kỳ năm trước bằng 95,06%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 70,068 triệu USD so với tháng trước bằng 104,22% và so với cùng kỳ năm trước bằng 122,75%. Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu tăng so với tháng trước là do trong những tháng cuối năm các thị trường nhập khẩu lớn như Mỹ, Nhật Bản và các nước EU... diễn ra rất nhiều lễ hội nên dự đoán nhu cầu tiêu thụ của người dân ở các nước này sẽ tăng cao. Do đó, để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, những nước này sẽ tăng sản lượng nhập khẩu các mặt hàng thủy sản và rau quả. Thêm vào đó, hiện nay các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam được hưởng ưu đãi về thuế suất khi nhập khẩu vào thị trường Mỹ, đây là điều kiện rất thuận lợi để cho doanh nghiệp có thể tăng tính cạnh tranh trên thị trường thế giới và tăng sản lượng, giá trị xuất khẩu trong những tháng còn lại của năm. Vì vậy, dự báo trong tháng tới giá trị xuất khẩu sẽ tiếp tục tăng.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 26,738 triệu USD so với tháng trước bằng 110,62% và so với cùng kỳ năm trước bằng 60,52%.

Ước thực hiện 11 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 904,679 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 93,48% và so với kế hoạch năm đạt 86,99%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 541,356 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 85,68% và so với kế hoạch năm đạt 74,26%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 308,822 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,91% và so với kế hoạch năm đạt 123,53%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 1,279 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 148,20% và so với kế hoạch năm đạt 127,90%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 53,222 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 103,34% và so với kế hoạch năm đạt 88,70%.

Tình hình xuất khẩu những tháng cuối năm có dấu hiệu tích cực và khởi sắc một phần so với những tháng đầu năm. Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tìm lại được thị trường xuất khẩu, đặc biệt là thị trường Mỹ. Giá trị xuất khẩu những tháng cuối năm bắt đầu từ tháng 9 luôn có giá trị tăng cao so với những tháng đầu năm. Tuy nhiên, tính chung giá trị xuất khẩu trong 10 tháng vẫn có mức giảm so với cùng kỳ, giá trị tăng trong những tháng vừa qua không đủ bù lại giá trị đã giảm trước đó. 

Vì vậy, trong những tháng còn lại của năm, các doanh nghiệp cần chủ động đưa ra kế hoạch sản xuất hợp lý phù hợp với tình hình xu hướng hiện nay, tích cực tìm kiếm thêm các thị trường xuất khẩu tiềm năng mới để tăng giá trị xuất khẩu và phân tán rủi ro trong kinh doanh, không nên phụ thuộc vào một thị trường nhất định, tích cực phát huy các thế mạnh và có những giải pháp hiệu quả nhanh chóng khắc phục những khó khăn đang tồn tại, kiểm soát tốt nguồn nguyên liệu đầu vào đảm bảo hoạt động thường xuyên liên tục của nhà máy, tránh tình trạng ngưng trệ do không có nguyên liệu sản xuất, đảm bảo thực hiệc thanh toán đầy đủ được các hợp đồng đã ký kết. Đồng thời, tăng cường công tác quảng bá sản phẩm, mở rộng các kênh tiếp thị để bán sản phẩm, mạnh dạn đầu tư đổi mới, nâng cấp các trang thiết bị để nâng cao chất lượng giá trị của sản phẩm, đảm bảo các sản phẩm xuất đi đáp ứng được đầy đủ tiêu chuẩn, quy định của các thị trường nhập khẩu khó tính, từng bước tiến tới dở bỏ các rào cản thương mại do các nước đặt ra, góp phần tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp dễ dàng hơn trong xuất khẩu sản phẩm để làm tăng giá trị xuất khẩu chung.

5.3. Tình hình giao thông vận tải

Tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện trong tháng 10 được 110,635 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 110,12%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 37,361 tỷ đồng bằng 91,33% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 44,839 tỷ đồng bằng 102,56% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 28,436 tỷ đồng bằng 179,51% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện trong tháng 11 được 113,023 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 108,85%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 38,137 tỷ đồng bằng 90,94% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 46,166 tỷ đồng bằng 100,27% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 28,720 tỷ đồng bằng 181,18% so với cùng kỳ năm trước.

Ước thực hiện 11 tháng, tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi trên địa bàn được 1.081,263 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 102,85%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 401,025 tỷ đồng bằng 91,57% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 459,661 tỷ đồng bằng 101,90% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 220,578 tỷ đồng bằng 135,90% so với cùng kỳ năm trước.

Dự báo về tình hình chung của ngành vận tải trên địa bàn trong năm 2019 sẽ có sự tăng trưởng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, ngành vận tải trên địa bàn đang có xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành mạnh mẽ, thay vì trước đây chủ yếu phụ thuộc vào giá trị vận chuyển hàng hóa và hành khách thì ở thời điểm hiện tại ngành vận tải chủ yếu phát triển thiên về hướng dịch vụ cho thuê kho bãi, các hoạt động hỗ trợ vận tải cùng với bưu chính và chuyển phát. Từ năm 2017 cho đến nay, tỷ trọng hoạt động của khu vực này không ngừng tăng lên năm sau luôn cao hơn năm trước lần lượt là 10,06% năm 2017, 13,58% năm 2018 và dự tính năm 2019 có thể ở mức 19,87%. Các doanh nghiệp vẫn đang tiếp tục đầu tư mở rộng kho, bến bãi để phục vụ cho các doanh nghiệp lớn đang có nhiều hạng mục đầu tư tại các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Châu Thành và Châu Thành A. Vì vậy, dự đoán từ đây đến cuối năm giá trị của khu vực dịch vụ vận tải sẽ còn tăng nhiều hơn nữa và sẽ góp phần quan trọng vào sự tăng trưởng chung của ngành vận tải.

Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Thực hiện tháng 10, hàng hoá vận chuyển được 811.067 tấn (70.319.664 Tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 114,94% (104,01%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 114,63% (212,89%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 156.664 tấn (9.659.263 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 101,99% (102,30%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,34% (100,86%). Đường sông thực hiện được 654.403 tấn (60.660.401 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 118,54% (104,39%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 117,71% (258,64%).

Ước thực hiện tháng 11, toàn tỉnh vận chuyển được 814.378 tấn hàng hóa các loại (72.655.159 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 100,41% (103,32%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,49% (217,25%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 158.518 tấn (9.927.534 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,18% (102,78%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 100,24% (103,22%). Đường sông thực hiện được 655.860 tấn (62.727.625 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 100,22% (103,41%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,40% (263,28%).

Ước thực hiện 11 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 7.478.450 tấn hàng hóa các loại (565.071.262 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 104,79% (149,98%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 1.697.113 tấn (89.037.937 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 100,72  (101,82%). Đường sông vận chuyển được 5.781.337 tấn (476.033.325 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 106,05 (164,54%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Thực hiện tháng 10, toàn tỉnh vận chuyển được 9.483.353 lượt hành khách (54.537.513 HK.Km), so với thực hiện tháng trước bằng 99,56% (100,46%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 95,27% (93,30%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.294.635 lượt hành khách (41.317.847  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,39% (101,47%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,25% (93,42%).Đường sông vận chuyển được 2.188.718 lượt hành khách (13.219.666 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 96,88% (97,44%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,14% (92,93%).

Ước thực hiện tháng 11, toàn tỉnh thực hiện được 9.576.342 lượt hành khách (55.531.643 HK.km), so với tháng trước bằng 100,98% (101,82%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,19% (98,30%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.327.282 lượt hành khách (41.988.159  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,45% (101,62%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,32% (98,04%). Đường sông vận chuyển được 2.249.060 lượt hành khách (13.543.484 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 102,76% (102,45%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,75% (99,10%).

Ước thực hiện 11 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 104.492.049 lượt hành khách (572.518.749 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 94,64% (93,97%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 80.579.966 lượt hành khách (426.293.128 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 94,10% (92,56%). Đường sông vận chuyển được 23.912.083 lượt hành khách (146.225.621 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 96,49% (98,32%).

  1. Các vấn đề văn hóa, thể thao, xã hội và tai nạn giao thông

6.1. Tình hình văn hóa, thể thao

Trong tháng, Ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục duy trì và triển khai nhiều hoạt động, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa, văn nghệ của các tầng lớp dân cư. Đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức giao lưu trong và ngoài tỉnh 04 cuộc; xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 68 buổi, thu hút 34.200 lượt người xem. Đoàn Ca múa nhạc dân tộc xây dựng và biểu diễn 12 suất phục vụ trên 7.200 lượt người xem, phục vụ các ngày lễ, phục vụ nông thôn và các Sở, Ban, ngành trong tỉnh cụ thể như: Lễ khai mạc Hội thi báo cáo viên giỏi cấp tỉnh năm 2019; một số tiết mục hoán đổi suất diễn phục vụ nhân dân tỉnh Tiền Giang.

Toàn ngành đã thực hiện 1.080m2 panô các loại, 25 băng rôn, in và treo hơn 1.100 cờ các loại, 62 lượt phóng thanh cổ động, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, Hội thi, Hội diễn, Liên hoan, Hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành.

Về hoạt động của thư viện, hệ thống Thư viện tỉnh và huyện, thị xã, thành phố đã phục vụ 132.971 lượt người với 265.942 lượt sách báo, truy cập máy tính; cấp 561 thẻ bạn đọc. Khởi động “Xe thư viện lưu động đa phương tiện” và tổ chức phục vụ tại các điểm: Trường tiểu học Him Lam (thành phố Vị Thanh), Trường Tiểu học thị trấn Nàng Mau (huyện Vị Thủy) và Trường Tiểu học Thuận An (thị xã Long Mỹ). Hoàn thành biên mục 4.000 bản sách từ Dự án “Xe ô tô thư viện lưu động đa phương tiện”.

Trong tháng, hệ thống các di tích toàn tỉnh phục vụ được 13.550 lượt khách (trong đó có 16 đoàn khách) tham quan tại các Khu di tích: Chiến thắng Chương Thiện (thành phố Vị Thanh); căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ; Chiến thắng Tầm Vu; Đền thờ Bác Hồ; Chiến thắng Chương Thiện tại huyện Long Mỹ; Khu trù mật Vị Thanh - Hỏa Lựu,... Thực hiện triển lãm thường xuyên tại di tích Chiến thắng Chương Thiện và Trung tâm Hội nghị tỉnh với Chuyên đề: Thành tựu 15 năm xây dựng và phát triển tỉnh Hậu Giang; một số hoạt động tiêu biểu Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Hậu Giang nhiệm kỳ 2019 - 2024.

Phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh tổ chức thành công Hội khỏe Phù Đổng tỉnh Hậu Giang lần thứ VIII, năm 2019. Tham gia các giải Vovinam vô địch quốc gia tại Quảng Nam, kết quả đạt được 03 HCĐ; Bắn cung vô địch quốc gia tại Hà Nội; Đua thuyền Cúp Canoeing tại Vĩnh Phúc, kết quả đạt được 01 HCĐ.

6.2. Lao động và an sinh xã hội

Trong tháng, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 1.932 lao động, đạt 112,4% kế hoạch năm. Trong đó, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 12 người, đạt 122,2% kế hoạch năm. Tư vấn việc làm cho 2.672 lao động; có 658 lao động đăng ký tìm việc làm; giới thiệu việc làm cho 341 lao động. Hỗ trợ giới thiệu, tuyển dụng 14.317 lao động cho 108 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh. Tổ chức 100 lớp đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu lao động qua đào tạo cho 18 doanh nghiệp với 2.440 lao động, với các nghề như may công nghiệp, đan dây nhựa, đan lục bình, cắt uốn tóc, kỹ thuật xây dựng, kỹ thuật chế biến món ăn,...

Bên cạnh đó, Sở đã xây dựng và ban hành Hướng dẫn liên tịch giữa Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính, Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội Hậu Giang về việc cụ thể hóa chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết số 09/2019/NQ-HĐND ngày 11 tháng 7 năm 2019 của HĐND tỉnh và quy trình thực hiện chi tiết Kế hoạch số 2137/KH-UBND ngày 13 tháng 9 năm 2019 của UBND tỉnh trong công tác đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng. Phối hợp với các đơn vị có liên quan tổ chức 59 cuộc tư vấn các chính sách hỗ trợ người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài với 1.579 người lao động tham dự.

Trợ cấp thường xuyên cho 29.975 lượt đối tượng với số tiền 11.381,445 triệu đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 159 trường hợp với số tiền 858,6 triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho 15 trường hợp với số tiền 217 triệu đồng.

 Theo kết quả sơ bộ điều tra rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh năm 2019, toàn tỉnh còn 10.361 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 5,11%. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7,18% xuống còn 5,11%, biên độ giảm trong kỳ 2,07%. Toàn tỉnh còn 8.776 hộ cận nghèo, chiếm tỷ lệ 4,33%. Tỷ lệ hộ cận nghèo giảm từ 5,02% xuống còn 4,33%, biên độ giảm trong kỳ 0,69%.

 Tổ chức 07 lớp tập huấn nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng giới cho 368 địa biểu là thành viên Ban vì sự tiến bộ phụ nữ và cán bộ phụ trách công tác bình đẳng giới cấp huyện và cấp xã; nói chuyện chuyên đề về bình đẳng giới, hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài tại 07 câu lạc bộ thuộc mô hình hỗ trợ phụ nữ có nguy cơ bị ép kết hôn với người nước ngoài tại xã Hòa An, huyện Phụng Hiệp. Tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nội bộ và ra dân được 27 cuộc với 1.020 lượt người tham dự.

Thực hiện Kế hoạch của Ban Chỉ đạo 138 tỉnh về việc kiểm tra xử lý vi phạm về trật tự xã hội, tệ nạn xã hội. Đội, tổ kiểm tra liên ngành các cấp đã kiểm tra được 34 lượt cơ sở; phát hiện 02 cơ sở vi phạm, phạt hành chính 02 cơ sở với số tiền 03 triệu đồng.

6.3. Y tế

Trong tháng 11, theo báo cáo của Sở Y tế, có 77 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, giảm 34 ca so với tháng trước, cộng dồn có 568 ca, tăng 312 ca so với cùng kỳ (loại trừ 01 ca trong tháng 10).  Bệnh tay chân miệng có 200 ca mắc mới, tăng 35 ca so với tháng trước, cộng dồn có 708 ca, tăng 136 ca so với cùng kỳ (loại trừ 04 ca trong tháng 10). Bệnh sởi, bệnh viêm gan do virut B, bệnh quai bị không có ca mắc mới. Bệnh dịch lạ và các bệnh truyền nhiễm khác chưa ghi nhận ca mắc trên địa bàn tỉnh.

Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 1.006 trẻ, cộng dồn là 10.520 trẻ, đạt 90,22%; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 945 trẻ, cộng dồn là 10.542 trẻ, đạt 89,73%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 972 thai phụ, cộng dồn là 9.747 thai phụ, đạt 83,59%. Số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng là 02 ca, cộng dồn có 123 ca (tăng 41 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.707 ca (còn sống 1.213 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng là 0 ca, cộng dồn là 20 ca (giảm 07 ca cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.021 ca; số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 0 ca, cộng dồn là 14 ca (giảm 12 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 584 người. Số người hiện đang điều trị Methadone là 38 người. Tổng số bệnh nhân điều trị ARV là 758 người.

Sở Y tế tiếp tục triển khai thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh chủ động, hạn chế thấp nhất sự lây lan của dịch bệnh, chưa xuất hiện các loại bệnh dịch lạ. Công tác chăm sóc, điều trị bệnh nhân HIV/AIDS đều được duy trì thường xuyên và đạt được kết quả tốt. Thực hiện tốt công tác khám,chữa bệnh cho đối tượng có thẻ BHYT. Triển khai thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh đã góp phần giảm thời gian chờ đợi khám bệnh của người bệnh, giảm lãng phí xã hội. Tiếp tục chỉ đạo các đơn vị có giường bệnh tập trung triển khai thực hiện tốt Kế hoạch về đổi mới phong cách và thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh. Công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường, không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm trên 30 người/vụ. Đồng thời, thực hiện tốt công tác dân số kế hoạch hóa gia đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản.

6.4. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 11, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 05 vụ tai nạn giao thông, làm chết 03 người và làm bị thương 02 người. So với tháng trước tăng 02 vụ, số người chết tăng 02 người và số người bị thương giảm 01 người, đều tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước số vụ giảm 11 vụ, số người chết giảm 05 người và số người bị thương giảm 12 người cũng đều tập trung ở đường bộ.

Trong 11 tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 78 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 76 vụ, đường thủy 02 vụ), làm chết tổng cộng 70 người (đường bộ chết 68 người, đường thủy chết 02 người) và làm bị thương 20 người (tập trung ở đường bộ). So với cùng kỳ năm trước giảm 18 vụ (tập trung ở đường bộ), số người chết giảm 06 người (đường bộ giảm 08, đường thủy tăng 02) và số người bị thương giảm 26 người, tập trung ở đường bộ .