Tháng 3
20:29 02/03/2019

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 2, ước tháng 3 và quý I năm 2019

  1. Tài chính - Tín dụng

1.1. Tài chính

Ước Tổng thu ngân sách nhà nước tháng 3 năm 2019 được 644.601 triệu đồng, lũy kế được 2.006.982 triệu đồng, đạt 28,63% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 336.000 triệu đồng, lũy kế được 859.840 triệu đồng, đạt 25,19% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Tổng chi ngân sách địa phương tháng 3 năm 2019 được 590.630 triệu đồng, luỹ kế được 1.764.509 triệu đồng, đạt 29,19% dự toán Trung ương giao, đạt 28,84% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Chi thường xuyên được 424.349 triệu đồng, luỹ kế được 1.211.202 triệu đồng, đạt 31% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 28/02/2019, huy động vốn trên địa bàn được 12.246 tỷ đồng, tăng trưởng 1,27% so với tháng trước, tương ứng tăng trưởng 1,28% so với cuối năm 2018. Vốn huy động đáp ứng được 55,08% cho hoạt động tín dụng. Ước đến ngày 31/3/2019 huy động vốn trên địa bàn được 12.386 tỷ đồng, tăng trưởng 2,43% so với cuối năm 2018.

Cho vay trên địa bàn đến ngày 28/02/2019, được 22.234 tỷ đồng, tăng trưởng 0,89% so với cuối tháng 01, tương ứng tăng trưởng 1,46% so với cuối năm 2018. Ước đến ngày 31/3/2019, tổng dư nợ được 22.424 tỷ đồng, tăng trưởng 2,32% so với cuối năm 2018.

Nợ xấu đến ngày 28/02/2019 là 385 tỷ đồng, chiếm 1,73% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 31/3/2019, nợ xấu toàn địa bàn vẫn ở mức an toàn.

  1. Vốn đầu tư và xây dựng

2.1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 15 tháng 3 năm 2019, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2019 là 17.857.224 triệu đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.651.224 triệu đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.365.000 triệu đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.841.000 triệu đồng.

Vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 02 là 1.470.593 triệu đồng, bằng 97,58% so với tháng trước và bằng 103,15% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 131.690 triệu đồng, bằng 109,30% so với tháng tr­ước và bằng 79,07% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 88.603 triệu đồng, bằng 92,49% so với tháng tr­ước và bằng 103,51% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.250.300 triệu đồng, bằng 96,87% so với tháng tr­ước và bằng 106,54% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 3 là 1.544.610 triệu đồng, bằng 103,64% so với cùng kỳ năm trước và bằng 105,03% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư thực hiện tăng so với tháng trước là do: Nguồn vốn năm 2019 đã phân bổ ngay từ đầu năm, nên các chủ đầu tư không gặp khó khăn về nguồn vốn, công trình được triển khai thi công liên tục; tháng cao điểm thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2019.

Ước tính quý I, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 4.522.233 triệu đồng, bằng 105,46% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 25,32% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 398.120 triệu đồng, bằng 82,97% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 24,11% so với kế hoạch năm.           

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 287.853 triệu đồng, bằng 106,69% so với cùng kỳ năm trước và đạt 21,09% so với kế hoạch năm.               

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 3.836.260 triệu đồng, bằng 108,41% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 25,85% so với kế hoạch năm.

Để thực hiện hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư XDCB năm 2019 của tỉnh Hậu Giang, Cục Thống kê khuyến nghị một số giải pháp như sau:

Một là: các sở, ngành cần kiểm tra, đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình XDCB, mà đặc biệt là các công trình trọng điểm trên địa bàn; đồng thời gắn với việc giám sát, kiểm tra chất lượng công trình, nhanh chóng hoàn thành các công trình XDCB đang tồn đọng nhất là các công trình dự án trọng điểm đã bố trí vốn (giao thông, nông nghiệp, y tế, giáo dục, v.v…)

Hai là: Tập trung hoàn thành các công trình khánh thành và khởi công theo đúng tiến độ.    

Ba là: Đẩy nhanh tiến độ lập thủ tục XDCB đối với các công trình dự án đã đ­ược bố trí vốn, nhanh chóng làm thủ tục quyết toán các công trình đó hoàn thành.

Bốn là: Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành cấp tỉnh và các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề vướng mắc trong đầu tư XDCB.

2.2. Xây dựng

Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành quý IV năm 2018 thực hiện được 1.836.100 triệu đồng, so với quý trước (1.640.776 triệu đồng) bằng 111,90% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,93%. Trong đó, loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 797.435 triệu đồng; loại hình khác gồm xã, phường, thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 1.038.665 triệu đồng. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện quý IV năm 2018 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 1.030.620 triệu đồng, so với quý trước (1.027.560 triệu đồng) bằng 100,30% và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,08%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 298.500 triệu đồng, so với quý trước (172.500 triệu đồng) bằng 173,04% và so với cùng kỳ năm trước bằng 222,10%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 419.680 triệu đồng, so với quý trước (351.866 triệu đồng) bằng 119,27% và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,19%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 87.300 triệu đồng, so với quý trước (88.850 triệu đồng) bằng 98,26% và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,35%.

Ước tính quý I, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 1.619.120 triệu đồng, so với quý trước bằng 88,18% và so với cùng kỳ năm trước (1.435.924 triệu đồng) bằng 112,76%. Trong đó loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 853.160 triệu đồng, so với quý trước bằng 106,99% và so với cùng kỳ năm trước bằng 106,48%; loại hình khác gồm xã, phường, thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 765.960 triệu đồng, so với quý trước bằng 73,74% và so với cùng kỳ năm trước bằng 120,68%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình ước thực hiện trong quý I năm 2019 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 878.570 triệu đồng, so với quý trước bằng 85,25% và so với cùng kỳ năm trước bằng 134,41%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 267.300 triệu đồng, so với quý trước bằng 89,55% và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,80%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 395.800 triệu đồng, so với quý trước bằng 94,31% và so với cùng kỳ năm trước  bằng 102,54%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 77.450 triệu đồng, so với quý trước bằng 88,72% và so với cùng kỳ năm trước bằng 61,62%.

Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng so với cùng kỳ là do thời tiết thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động xây dựng; các thủ tục đã hoàn thành từ đầu năm; quý cao điểm thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2019 đã góp phần làm tăng giá trị sản xuất.

Đến nay, tình hình xây dựng trên địa bàn Tỉnh chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở dân dụng và đường giao thông. Riêng các công trình trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước có qui mô lớn thì hầu hết đều do các Doanh nghiệp ngoài tỉnh thi công. Do vậy, đề nghị Lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, để các Doanh nghiệp xây dựng trong tỉnh được thi công nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành xây dựng của Tỉnh tăng cao.

Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành

 

Quý IV/2018 (triệu đồng)

Quý I/2019 (triệu đồng)

Quý I/2019 so với cùng kỳ (%)

Tổng số

1.836.100

1.619.120

112,76

Chia theo loại hình sở hữu

 

 

 

Doanh nghiệp ngoài nhà nước

797.435

853.160

106,48

Loại hình khác

1.038.665

765.960

120,68

Chia theo loại công trình

 

 

 

Công trình nhà ở

1.030.620

878.570

134,41

Công trình nhà không để ở

298.500

267.300

98,80

Công trình kỷ thuật dân dụng

419.680

395.800

102,54

Hoạt động xây dựng chuyên dụng

87.300

77.450

61,62

  1. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

3.1. Nông nghiệp

Lúa đông xuân 2019, toàn tỉnh đã xuống giống được 78.418 ha, bằng 101,60% so với kế hoạch tỉnh, so với cùng kỳ tăng 0,64% (bằng 500 ha). Lúa đang trổ chín và cho thu hoạch rộ. Hiện nay, vẫn còn một vài xã của huyện Long Mỹ và thị xã Ngã Bảy đang ở giai đoạn làm đồng.

Diện tích lúa đông xuân đã thu hoạch được 44.377 ha, tập trung chủ yếu là huyện Châu Thành A, huyện Phụng Hiệp và huyện Vị Thủy. Các giống lúa được sử dụng chủ yếu như: OM 5451 chiếm tỷ lệ 44%, RVT chiếm tỷ lệ 22%, IR 50404 chiếm tỷ lệ 8,7%, đài thơm 8 chiếm tỷ lệ 11,8%, ST24 chiếm tỷ lệ 5% và còn lại là các giống khác chiếm tỷ lệ 8,5%. Năng suất đã thu hoạch ước được 71,68 tạ/ha; năng suất cả vụ ước được 71,70 tạ/ha, giảm 2% (bằng 1,46 tạ/ha) so với cùng kỳ; sản lượng lúa đông xuân năm nay ước tính được 562.229 tấn, giảm 1,37% (bằng 7.815 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Lúa hè thu, ước toàn tỉnh đã xuống giống được 7.306 ha, bằng 9,53% so với kế hoạch (kế hoạch của tỉnh là 76.640 ha).

Mía niên vụ 2019, toàn tỉnh đã xuống giống được 8.514 ha, giảm 19,55% (bằng 2.068 ha) so với cùng kỳ. Diện tích mía giảm nhiều là do giá mía những năm qua bấp bênh, hộ trồng mía không có lãi vì vậy theo khuyến cáo của ngành nông nghiệp là chuyển đổi sang cây trồng khác. Mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, huyện Long Mỹ, thành phố Vị Thanh và thị xã Ngã Bảy. Các giống mía chủ yếu là giống mía ngắn ngày như ROC 16, K88-92, ROC 22, R570,…

Diện tích gieo trồng ngô toàn tỉnh được 1.391 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 3,11% (bằng 42 ha).

Diện tích gieo trồng cây rau được 8.210 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 20,05% (bằng 1.371 ha).

Ước tính tháng 3, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

Đàn heo có 149.328 con heo, tăng 0,22% (bằng 326 con). Trong đó, heo thịt có 129.558 con, tăng 0,22% (bằng 278 con). Đàn heo tăng do giá bán heo hơi năm nay tăng so với cùng kỳ, người chăn nuôi heo đã có lãi nên nhiều hộ trước đây tạm thời dừng nuôi nay nuôi lại. Đàn bò có 3.611 con, giảm 5,37% (bằng 250 con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn gia cầm có 4.139,14 ngàn con, tăng 1,99% (bằng 80,61 ngàn con). Trong đó, đàn gà có 1.275,19 ngàn con, tăng 1,45% (bằng 18,19 ngàn con); đàn vịt có 2.724 ngàn con, tăng 2,79% (bằng 74 ngàn con). Đàn gia cầm tăng do giá thịt gia cầm ổn định, dịch bệnh ít, thị trường đầu ra tốt.

Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng được 2.278 tấn, tăng 1,42% (bằng 32 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế được 6.922 tấn, tăng 0,90% (bằng 61 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng được 16 tấn, tăng 4,27% (bằng 1 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng được 383 tấn, tăng 0,56% (bằng 2 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng gà được 278 tấn, tăng 1,30% (bằng 4 tấn) so với cùng kỳ. Lũy kế được 21.568 tấn, tăng 3,48% (bằng 726 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng trứng gia cầm được 10.816 ngàn quả, giảm 0,9% (bằng 98 ngàn quả).

Trong quý I, dịch cúm gia cầm và dịch tả lợn Châu Phi không xuất hiện trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên ngành thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh.

3.2. Lâm nghiệp

Trong quý I, diện tích rừng trồng mới ước được 38 ha tăng 1,19% (bằng 0,45 ha), khai thác gỗ được 3.116 m3 giảm 2,2% (bằng 70 m3), sản lượng củi khai thác được 30.250 Ster, giảm 2,93% (bằng 913 Ster) so với cùng kỳ.

Từ đầu năm đến nay, công tác phòng cháy chữa cháy rừng được đảm bảo, không xảy ra vụ cháy rừng nào trên địa bàn tỉnh. Công tác thẩm định, giám sát, kiểm tra, nghiệm thu khai thác rừng, cây phân tán đảm bảo đúng quy định.

3.3. Thủy sản

Trong tháng 3, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 65 ha, tăng 2,19% (bằng 1 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong quý I, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 1.904 ha, tăng 1,86% (bằng 35 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá nuôi được 1.772 ha, tăng 1,86% (bằng 33 ha) so với cùng kỳ.

Tổng sản lượng thủy sản tháng 3, ước được 6.312 tấn, tăng 2,82% (bằng 173 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng được 6.063 tấn, tăng 2,91% (bằng 171 tấn); sản lượng thủy sản khai thác được 249 tấn, tăng 0,69% (bằng 2 tấn). Trong quý I, tổng sản lượng thủy sản ước được 16.251 tấn, tăng 2,69% (bằng 425 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng được 15.484 tấn, tăng 2,88% (bằng 433 tấn); sản lượng thủy sản khai thác được 767 tấn, giảm 1% (bằng 8 tấn).

Nhìn chung, trong quý I ngành nông nghiệp tập trung vào công tác thu hoạch lúa đông xuân, xuống giống vụ lúa hè thu 2019 và tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, phòng dịch trên gia súc, gia cầm.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Tình hình sản xuất công nghiệp những tháng đầu năm 2019 tiếp tục tăng so với cùng kỳ và có nhiều tín hiệu khả quan, nhiều nhóm ngành vừa đảm bảo nhu cầu sử dụng trong nước vừa góp phần quan trọng cho tăng trưởng xuất khẩu. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được coi là điểm sáng và là động lực tăng trưởng cho sản xuất công nghiệp trong suốt thời gian vừa qua.

Giá trị sản xuất công nghiệp thực hiện tháng 02, tính theo giá so sánh 2010, được 1.807.526 triệu đồng, tăng 8,39% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế được 2.414.057 triệu đồng, tăng 9,52% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu là do một số doanh nghiệp có giá trị sản xuất lớn mới đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định (số lượng doanh nghiệp tăng 6,25% so với cùng kỳ) các doanh nghiệp mới đóng góp vào giá trị chung của toàn tỉnh trên 100 tỷ đồng tháng. Ngoài ra, tăng một phần là do các doanh nghiệp đang hoạt động ổn định mở rộng quy mô nhà máy nên làm tăng giá trị sản xuất so với cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 3, tính theo giá so sánh 2010, được 2.158.743 triệu đồng, tăng 19,43% so với tháng trước và tăng 9,89% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 2.986.250 triệu đồng, tăng 23,70% so với tháng trước và tăng 11,67% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với tháng trước là do các doanh nghiệp đi vào hoạt động ổn định sau thời gian nghỉ tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019 (tháng 3 năm 2019 doanh nghiệp và cơ sở cá thể công nghiệp hoạt động nhiều hơn 12 ngày so với tháng 2). Ngoài ra, tăng một phần là do một số doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng tiêu thụ nội địa tăng sản lượng sản xuất để cung ứng ra thị trường sau thời gian dài nghỉ Tết nên ước giá trị sản xuất tháng 3 tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện quý I, tính theo giá so sánh 2010, được 6.104.415 triệu đồng, tăng 9,27% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 8.345.290 triệu đồng, tăng 10,93% so với cùng kỳ năm trước. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có trên 182 doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đóng góp giá trị trên 7.518 tỷ đồng (theo giá thực tế), chiếm tỷ trọng trên 89,55% trong tổng giá trị của toàn tỉnh.

Nhìn chung, quý I sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối đồng đều và ổn định. Tuy nhiên, dù đã có sự tăng trưởng, nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững. Do vậy, để hoàn thành kế hoạch năm 2019, các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp đang đầu tư sớm đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

Dự tính 3 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang tăng 9,40% so với cùng kỳ.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tăng 9,40% so với cùng kỳ. Trong đó, các ngành tăng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; in, sao chép bản ghi các loại; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất sản phẩm từ khoán phi kim loại khác… Cụ thể: Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 95,35% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Lạc Tỷ II với sản phẩm chính là giày các loại, sau hơn 06 năm đi vào hoạt động đã tạo dựng được thương hiệu và thị trường tiêu thụ ổn định nên đến thời điểm hiện tại công ty đã đầu tư mở rộng thêm một phân xưởng, tương đương 3.000 lao động (đang trong quá trình tuyển dụng lao động và vận hành thử nghiệm). Vì vậy, chỉ số công nghiệp ngành này tăng so với cùng kỳ và còn tăng cao hơn nữa trong những tháng tiếp theo. Ngành sản xuất giấy và sản phẩm bằng giấy tăng 16,60% so với cùng kỳ năm trước. Ngành sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 156,25% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Tân Huy Hoàng, sản xuất các sản phẩm gia dụng bằng plastic, đây là sản phẩm mới nên thị phần của doanh nghiệp này rất lớn. Vì vậy, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành này tăng đều và ổn định so với cùng kỳ. Ngành sản xuất sản phẩm từ khoán phi kim loại khác tăng 10,05% so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó, có một số ngành giảm so với cùng kỳ hoặc tăng nhưng thấp hơn mức tăng chung của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như: Sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất đồ uống; sản xuất trang phục; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất… Nguyên nhân chủ yếu là do hàng tồn kho nhiều, thiếu lao động có tay nghề, thị trường tiêu thụ không ổn định, chi phí nguyên, nhiên liệu đầu vào tăng làm tăng giá thành sản phẩm nên khó tìm hợp đồng tiêu thụ sản phẩm… Vì vậy, các doanh nghiệp giảm sản lượng sản xuất để khắc phục các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, nên làm chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng chưa đúng với tìm năng và thế mạnh của tỉnh.

 Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: Tăng 8,60% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sản xuất, truyền tải và phân phối điện tăng 9,43% so với cùng kỳ. Ngành điện đã cung cấp đủ điện, an toàn phục vụ phát triển kinh tế xã hội, đã hạn chế tối đa không để mất điện, đảm bảo nhu cầu sử dụng cho người dân và các doanh nghiệp được hoạt động liên tục nhất là trong dịp tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019 vừa qua.

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: Tăng 10,08% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do hiện nay đang vào mùa khô nên Công ty cổ phần cấp thoát nước - công trình đô thị Hậu Giang nắm được nhu cầu sử dụng nước sạch trong sinh hoạt của người dân nông thôn ngày càng cao, nên công ty đã hoàn thiện và khởi công mới các tuyến đường ống dẫn nước đến các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh để phục vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp, cơ quan xí nghiệp trong đợt nắng nóng như hiện nay. Sản lượng sản xuất nước sạch sinh hoạt 3 tháng được 2.698,5 ngàn M3 tăng 7,96% so với cùng kỳ năm trước.

  1. 5. Thương mại, dịch vụ

5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Trong tháng 02, lượng hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng trong dân đã giảm nhiều so với tháng trước, hầu như các hoạt động thương mại chỉ diễn ra sôi nổi trong những ngày Tết, sau đó các cơ sở nghỉ kinh doanh khá nhiều nên doanh thu thương mại giảm hơn so với tháng trước cả bán buôn và bán lẻ. Các ngành dịch vụ cũng có chung xu hướng giảm, nhất là dịch vụ lưu trú, ăn uống, một số ngành dịch vụ khác như: Dịch vụ vui chơi giải trí, bất động sản, hành chính hỗ trợ, sửa chữa đồ dùng và một số dịch vụ khác.

Thực hiện tháng 02, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.298.938 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 89,12% và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,13%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.472.106 triệu đồng, so với tháng trước bằng 87,54% và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,97%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 286.677 triệu đồng, so với tháng trước bằng 100,51% và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,51%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 538.701 triệu đồng, so với tháng trước bằng 91,19% và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,15%.

Ước thực hiện tháng 3, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.065.706 triệu đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 92,93% và so với cùng kỳ năm trước bằng 106,78%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.283.208 triệu đồng, so với tháng trước bằng 92,36% và so với cùng kỳ năm trước bằng 106,94%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 268.967 triệu đồng, so với tháng trước bằng 93,35% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,29%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 513.531 triệu đồng, so với tháng trước bằng 95,33% và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,87%.

Bước qua tháng 3, thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh khá trầm lắng, hầu hết các nhóm hàng hóa đều giảm, nhất là nhóm hàng lương thực, thực phẩm tươi sống vì ảnh hưởng giá giảm của một số mặt hàng chủ lực trong nhóm này như: Lúa, gạo, thịt heo, thịt gà, rau xanh …, lượng hàng hóa được tiêu thụ chậm, người dân e ngại các dịch bệnh từ heo nên hạn chế sử dụng. Ngoài ra, vì mới qua Tết các công trình xây dựng chưa hoạt động xây dựng lại nên nhóm hàng gỗ, vật liệu xây dựng vẫn còn tiêu thụ chậm và giảm mạnh so với những tháng cuối năm 2018, và một số hàng hóa khác cũng có xu hướng giảm đã làm cho ngành thương mại trong tháng giảm hơn so với tháng trước.

Ước thực hiện 3 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 10.066.163 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,27%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 7.579.403 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 107,65%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 843.774 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 110,54%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 1.642.986 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 110,03%.

Với số liệu trên cho thấy, trong 3 tháng đầu năm các ngành dịch vụ tăng từ 10%. Trong đó, dịch vụ vui chơi, giải trí tăng cao nhất (tăng 13,19%) do trong thời gian qua một số khu vui chơi mới đưa vào hoạt động, các khu du lịch sinh thái, khu nghỉ dưỡng được đầu tư xây dựng và nâng cấp nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân trong và ngoài tỉnh.

Đối với ngành thương mại trong 3 tháng đầu năm có tốc độ tăng trung bình. trong đó, tổng mức bán lẻ tăng 7,65%, bán buôn tăng 10,14%. Loại hình kinh tế tư nhân đang dần tăng tỷ trọng trong ngành thương mại, nhất là đối với bán buôn, loại hình kinh tế này đang chiếm vai trò chủ đạo, các nhóm hàng ưu thế như: Vật tư nông nghiệp, xăng, dầu, gỗ và vật liệu xây dựng, lương thực, thực phẩm… Trong khi đó bán lẻ hàng hóa loại hình kinh tế cá thể chiếm tỷ trọng lớn hơn, do số lượng cơ sở nhiều và rải đều từ thành thị đến nông thôn, nên thuận lợi hơn trong việc cung ứng hàng hóa, người dân dễ dàng tiếp cận.

Nhìn chung, trong những tháng đầu năm tình hình thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh phát triển tốt, ổn định. Tuy nhiên, hiện nay các loại bệnh dịch trên heo đang gây tâm lý e ngại sử dụng các chế phẩm từ thịt heo làm ảnh hưởng đến giá cả và sức tiêu dùng. Ngoài ra, giá lúa, gạo xuống thấp so với cùng kỳ đã ảnh hưởng mạnh đến hoạt động thu mua và thu nhập của người dân trong tỉnh. Vì vậy, trong thời gian tới các cấp lãnh đạo cần có phương hướng giải quyết tốt các vấn đề tồn đọng nêu trên nhằm đạt được kế hoạch đề ra trong thời gian tới .

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện tháng 02 được 47,23 triệu USD, so với tháng trước bằng 76,81% và so với cùng kỳ năm trước bằng 67,98%. Chia ra: Xuất khẩu được 27,76 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 69,55% và so với cùng kỳ năm trước bằng 64,63%. Nguyên nhân giảm so với tháng trước là do tháng 02 là thời điểm nghỉ tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019, thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu trên địa bàn không được thường xuyên liên tục và có số ngày ngắn hơn so với tháng trước. Vì vậy, giá trị xuất khẩu giảm. Mặt hàng có giá trị xuất giảm nhiều nhất là nhóm hàng thủy sản chế biến, hàng giày dép và giấy thành phẩm các loại. Chỉ tính riêng tổng giá trị xuất khẩu của ba nhóm hàng này đã chiếm 89,17% trong tổng giá trị xuất khẩu nhưng chỉ bằng 68,69% so với tháng trước (giảm 31,31%). Các nhóm hàng xuất khẩu khác còn lại cũng có giảm nhưng không đáng kể. Nhập khẩu được 19,47 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 90,22% và so với cùng kỳ năm trước bằng 73,40%.

Ước thực hiện tháng 3, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 50,44 triệu USD, so với tháng trước bằng 106,79% và so với cùng kỳ năm trước bằng 66,60%. Chia ra: Xuất khẩu ước thực hiện được 32,42 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 116,79% và so với cùng kỳ năm trước bằng 68,34%. Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu tăng so với tháng trước là do sau kỳ nghỉ Tết dài các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu trên địa bàn trở lại hoạt động bình thường và có kế hoạch gia tăng sản lượng sản xuất, nâng công suất tối đa của các nhà máy chế biến. Vì vậy, giá trị xuất khẩu trong tháng tới có thể sẽ tăng ở tất cả các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực (thủy sản, giày dép, giấy thành phẩm các loại). Nhập khẩu ước thực hiện được 18,02 triệu USD, so với tháng trước bằng 92,54% và so với cùng kỳ năm trước bằng 66,56%.

Ước thực hiện quý I, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 175,56 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 74,81%. Chia ra: Xuất khẩu ước thực hiện được 100,08 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 74,86%. Nguyên nhân giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước chủ yếu là do sự sụt giảm giá trị của nhóm hàng thủy sản, giấy và một số loại hàng nông sản, rau quả xuất khẩu khác. Trong đó, giá trị xuất khẩu của nhóm hàng thủy sản so với cùng kỳ năm trước có giá trị giảm nhiều nhất do sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường thế giới, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận và mở rộng các thị trường xuất khẩu truyền thống lẫn tiềm năng. Do đó, trong quý I năm 2019, giá trị xuất khẩu của nhóm hàng này đều giảm mạnh và chỉ bằng 66,45% so với cùng kỳ, tiếp đến là mặt hàng giấy thành phẩm xuất khẩu cũng chỉ bằng 52,26% và hàng rau quả bằng 64,09% so với cùng kỳ năm trước. Vì vậy, giá trị xuất khẩu trong quý I giảm mạnh. Nhập khẩu ước thực hiện được 59,08 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 69,39%. Nguyên nhân giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước là do một số doanh nghiệp trong những tháng đầu năm, trước khi nghỉ Tết Nguyên đán đã hạn chế nhập khẩu nguyên liệu phục vụ sản xuất nhằm tránh tình trạng tồn kho lâu gây ảnh hưởng đến chất lượng của nguyên liệu. Mặt khác, một số doanh nghiệp có giá trị nhập khẩu lớn chuyển hướng sang ưu tiên tìm kiếm sử dụng nguồn nguyên liệu trong nước, hạn chế nhập khẩu từ bên ngoài để phục vụ sản xuất. Vì vậy, giá trị nhập khẩu giảm đi rất nhiều so với cùng kỳ. Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 213 ngàn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 152,14%. Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 16,186 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 103,21%.

Năm 2019 có thể sẽ là năm cho các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực trên địa bàn có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Các hiệp định thương mại lớn (CPTPP, EVFTA...) hầu hết có thể sẽ chính thức có hiệu lực trong năm 2019 sẽ là bàn đạp để thúc đẩy xuất khẩu. Lợi thế lớn mà các hiệp định thương mại này mang đến là các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường các nước sẽ được giảm thuế mạnh và dần dần tiến tới xóa bỏ hoàn toàn không đánh thuế đối với sản phẩm xuất khẩu có nguồn gốc xuất xứ từ Việt Nam. Điều này sẽ tạo ra nhiều cơ hội để các doanh nghiệp có thể chủ động dễ dàng giới thiệu các sản phẩm của mình đến với thị trường, xây dựng và củng cố được thương hiệu của sản phẩm, tiến tới mục tiêu các rào cản thương mại thật sự không còn là trở ngại lớn trong xuất khẩu.

Tuy nhiên, song song đó, các hiệp định không chỉ mang đến những cơ hội phát triển mà còn mang đến nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp cần phải đối mặt. Khó khăn lớn nhất cần kể đến chính là sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường giữa các doanh nghiệp của Việt Nam với doanh nghiệp của các nước trong khu vực. Do đó, trong thời gian tới, các doanh nghiệp cần có các giải pháp để chủ động ứng phó. Doanh nghiệp cần tập trung nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, tăng cường công tác quảng bá hình ảnh đến được với người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu, xây dựng hình thành chuỗi giá trị khép kín, vận động người nuôi liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp đảm bảo nguồn nguyên liệu được ổn định, đạt chất lượng theo chứng chỉ quốc tế, cung ứng đủ nhu cầu cần của doanh nghiệp trong chế biến, sản xuất. Ngoài ra cần liên kết mật thiết với các ngành chức năng hữu quan trong việc xuất khẩu để nắm bắt kịp thời những thay đổi của thị trường, nâng cao vai trò của quản lý nhà nước trong chế biến xuất khẩu đối với sản phẩm, tuân thủ đúng quy định, quy trình đảm bảo sản phẩm là những sản phẩm sạch đáp ứng được đẩy đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu.

5.3. Tình hình giao thông vận tải

Trong tháng 02, tình hình vận chuyển, luân chuyển hành khách và hàng hóa trên địa bàn có sự sụt giảm so với tháng trước. Nguyên nhân là do đây là thời điểm các doanh nghiệp lẫn các cơ sở kinh doanh vận tải trên địa bàn hầu hết đều ngưng hoạt động để vui xuân đón tết Nguyên đán cổ truyền Kỷ Hợi 2019. Do năm nay nghỉ tết có chu kỳ nghỉ dài nên số ngày hoạt động vận tải của các cơ sở ngắn hơn nhiều so với tháng trước, hoạt động vận chuyển hàng hóa cũng ít sôi động hơn mặc dù các tuyến đường trọng yếu đã được các ngành chức năng chỉ đạo tu bổ, sửa chữa, kẻ vạch mới nhằm tạo thuận tiện phục vụ nhu cầu đi lại và vận chuyển của người dân.

Ước thực tháng 3, tổng doanh thu đường bộ, đường sông và dịch vụ, đại lý hỗ trợ vận tải được 85.356 triệu đồng, so với cùng kỳ bằng 93,87%. Trong đó, đường bộ được 47.030 triệu đồng, giảm 10,05% so với cùng kỳ. Đường sông được 38.326 triệu đồng, bằng 99,16% so với cùng kỳ năm trước.

Ước thực hiện quý I, tổng doanh thu đường bộ, đường sông và dịch vụ, đại lý hỗ trợ vận tải được 272.547 triệu đồng, so với cùng kỳ bằng 93,77%. Trong đó, đường bộ được 149.385 triệu đồng, giảm 4,36% so với cùng kỳ. Đường sông được 123.162 triệu đồng, bằng 91,61% so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó, các lực lượng giao thông cũng được bố trí tăng cường công tác tuần tra kiểm soát trước, trong và sau Tết nhằm đảm bảo an ninh, an toàn giao thông hạn chế xảy ra tai nạn trên các tuyến đường, đồng thời để tránh tình trạng gây nghẽn, ùn tắt giao thông làm cản trở sự lưu thông và nhu cầu đi lại của người dân.

Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Thực hiện tháng 02, hàng hoá vận chuyển được 558.290 tấn (32.293.430 Tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 88,50% (93,28%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 81,00% (84,61%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 130.890 tấn (6.405.740 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 81,24% (77,00%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 80,98% (80,16%). Đường sông thực hiện được 427.400 tấn (25.887.690 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 90,99% (98,43%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 81,01% (85,79%).

Ước thực hiện tháng 3, toàn tỉnh vận chuyển được 583.840 tấn hàng hóa các loại (32.192.770 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 104,58% (105,88%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,62% (99,02%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 131.730 tấn (6.506.390 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 100,64% (101,57%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 82,40% (82,18%). Đường sông thực hiện được 452.110 tấn (27.686.380 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 105,78% (106,95%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,74% (104,03%).

Ước thực hiện quý I, toàn tỉnh vận chuyển được 1.781.963 tấn hàng hóa các loại (99.352.241 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 92,98% (97,32%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 423.740 tấn (21.231.782 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 88,35% (89,93%). Đường sông vận chuyển được 1.358.223 tấn (78.120.459 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 94,53% (99,55%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Thực hiện tháng 02, toàn Tỉnh vận chuyển được 9.340.310 lượt hành khách (50.844.060 HK.Km), so với thực hiện tháng trước bằng 84,96% (88,10%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 81,92% (81,44%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.264.510 lượt hành khách (37.212.430 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 90,32% (90,98%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 87,08% (84,44%). Đường sông vận chuyển được 2.075.800 lượt hành khách (13.631.630 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 70,35% (81,10%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 67,85% (74,23%).

Ước thực hiện tháng 3, toàn tỉnh thực hiện được 8.963.210 lượt hành khách (48.866.470 HK.km), so với tháng trước bằng 95,96% (96,11%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 85,19% (85,60%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.021.830 lượt hành khách (36.007.430 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 96,66% (96,76%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 87,10% (86,67%). Đường sông vận chuyển được 1.941.380 lượt hành khách (12.859.040 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 93,52% (94,33%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 78,94% (82,75%).

Ước thực hiện quý I, toàn tỉnh vận chuyển được 29.296.964 lượt hành khách (157.422.048 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 90,11% (88,87%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 22.329.199 lượt hành khách (114.123.752 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 91,27% (89,50%). Đường sông vận chuyển được 6.967.765 lượt hành khách (43.298.296 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 86,58% (87,23%).

  1. Các vấn đề văn hóa, thể thao và xã hội, y tế và tai nạn giao thông, cháy nổ

6.1. Tình hình văn hóa, thể thao                                           

Trong tháng 3, toàn ngành Văn hóa, thể thao và du lịch đã thực hiện được 1.700m2 pano, 80 băng rol, treo và tháo gỡ hơn 1.100 cờ các loại, 86 lượt phóng thanh cổ động, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành. Thực hiện trang trí triển lãm ảnh tham gia Liên hoan tuyên truyền lưu động toàn quốc chào mừng kỷ niệm 65 năm Chiến thắng Điên Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2019), từ ngày 04 đến ngày 15 tháng 3. Đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức giao lưu trong và ngoài tỉnh 04 cuộc; xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 88 buổi, thu hút 47.470 lượt người xem.

Trong tháng, đoàn ca múa nhạc dân tộc xây dựng và biểu diễn 11 suất diễn phục vụ trên 6.600 lượt người xem, phục vụ nông thôn và các sở ban ngành trong tỉnh như: Ngày thơ Việt Nam lần thứ VII năm 2019, khai mạc hội trại tòng quân năm 2019.

In, lắp mới pano trên tuyến đường quốc lộ 61 và tại các địa điểm thị xã Ngã Bảy, đầu đường Hùng Vương, trung tâm Văn hóa tỉnh, với tổng diện tích gần 300m2.

Sở Văn hóa, thể thao và du lịch đã tổ chức thành công cuộc thi văn nghệ quần chúng tỉnh Hậu Giang năm 2019, từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 01 năm 2019 tại khu văn hóa Hồ Sen, phường I, thành phố Vị Thanh, với sự tham gia của 08 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Kết quả, ban tổ chức đã trao 05 giải sáng tác, dàn dựng, biên đạo múa; 07 giải diễn viên xuất sắc và 08 giải toàn đoàn như sau: huyện Long Mỹ đạt giải nhất; thị xã Long Mỹ đạt giải nhì; thành phố Vị Thanh, Châu Thành A và Vị Thủy đạt giải ba; thị xã Ngã Bảy, Phụng Hiệp và Châu Thành đạt giải khuyến khích.Tổ chức các hoạt động trong hội báo xuân Kỷ Hợi năm 2019: Triển lãm 400 loại báo của các tỉnh, thành phố trong cả nước; 18 ấn phẩm dự thi của các huyện, thị, thành phố và các sở, ban ngành trong tỉnh; triển lãm 400 bản sách chuyên đề về Đảng Cộng Sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, sách quý - sách hay, sách về biển đảo Việt Nam và sách địa chí Hậu Giang. Bên cạnh đó, thư viện tỉnh còn xếp mô hình chiếc tàu vươn ra khơi và nhà giàn DK1 bằng sách nhằm tuyên truyền về biển đảo Việt Nam. Hội báo Xuân Kỷ Hợi 2019 khai mạc vào ngày 28 tháng 01 và phục vụ bạn đọc đến ngày 14 tháng 02 năm 2019 tại di tích chiến thắng Chương Thiện.

Ở các huyện tổ chức nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ phong phú về nội dung và hình thức để phục vụ nhân dân dịp tết đến xuân về, cụ thể như: Thành phố Vị Thanh tổ chức tiếng hát mùa xuân và hội thi tiểu phẩm hài; huyện Vị Thủy tổ chức hội thi tiếng hát mùa xuân và hội thi trích đoạn cải lương; thị xã Long Mỹ tổ chức hội thi đơn ca giai điệu Bolero và hội thi văn nghệ quần chúng; huyện Phụng Hiệp tổ chức hội thi tôi yêu dân ca và liên hoan đồng hành giai điệu quê hương; huyện Long Mỹ tổ chức hội thi đơn ca tiếng hát mùa xuân; thị xã Ngã Bảy tổ chức hội thi tiếng hát mùa xuân; huyện Châu Thành tổ chức hội thi dân ca sắc xuân Châu Thành và huyện Châu Thành A tổ chức hội thi nhóm ca khúc xuân.

Sở văn hóa, thể thao và Du lịch đã tổ chức thành công giải Quần vợt “Mừng Đảng quang vinh - Mừng Xuân Kỷ Hợi năm 2019”. Tham dự có 124 vận động viên (VĐV) thi đấu. Kết quả: Ban tổ chức trao 04 giải nhất, 04 giải nhì và 08 giải ba cho các cặp đôi đạt giải, phục vụ khoảng 500 lượt người xem. Tổ chức hội thao “Mừng Đảng quang vinh - Mừng Xuân Kỷ Hợi” tỉnh Hậu Giang năm 2019, gồm 6 môn: Môn Kéo co: Tham dự có 210 VĐV. Kết quả: Ban Tổ chức trao 03 giải nhất, 03 giải nhì, 06 giải ba cho các đơn vị đạt giải, phục vụ khoảng 1.000 lượt người xem. Môn Đẩy gậy: Tham dự có 112 VĐV. Kết quả: Ban Tổ chức trao 15 giải nhất, 15 giải nhì, 25 giải ba cho các cá nhân đạt giải. Môn Việt dã: Tham dự có 141 VĐV. Kết quả: Ban tổ chức trao 04 giải nhất, 04 giải nhì, 04 giải ba nội dung cá nhân và 04 giải nhất, 04 giải nhì, 04 giải ba nội dung tập thể. Môn Đua xuồng: Tham dự có 36 VĐV. Kết quả: Ban tổ chức trao 05 giải nhất, 05 giải nhì, 10 giải ba cho các nội dung đơn nam, đơn nữ, đôi nam, đôi nữ, đôi nam nữ. Môn Aerobic: Tham dự có 140 VĐV. Kết quả: Nội dung Aerobic Dances: Giải nhất thuộc về huyện Long Mỹ, giải nhì thuộc về huyện Châu Thành A, đồng giải ba thị xã Long Mỹ và thành phố Vị Thanh; nội dung thể dục cổ động: Giải nhất thuộc về thành phố Vị Thanh, giải nhì thuộc về thị xã Long Mỹ và giải ba huyện Châu Thành A. Môn Lân: Tham dự có 50 VĐV. Kết quả: Nội dung múa Lân truyền thống: Giải nhất thuộc về thị xã Long Mỹ, giải nhì thuộc về thị xã Ngã Bảy, đồng giải ba huyện Long Mỹ và thành phố Vị Thanh; nội dung Lân leo cột: Giải nhất thuộc về thành phố Vị Thanh, giải nhì thuộc về huyện Long Mỹ, đồng giải ba là thị xã Long Mỹ và huyện Châu Thành A.

Tham dự Giải Lân - Sư - Rồng toàn quốc năm 2019 tại thành phố Cần Thơ. Kết quả đạt 01 huy chương bạc, 01 huy chương đồng.

Tham dự Giải vô địch Taekwondo học sinh toàn quốc năm 2019 tại tỉnh Tây Ninh. Kết quả đạt: 03 huy chương bạc, 04 huy chương đồng.

Tham dự giải Cờ vua - Cờ tướng khu vực đồng bằng sông Cửu Long mở rộng mừng Đảng - mừng Xuân Kỷ Hợi năm 2019 tại tỉnh Đồng Tháp. Kết quả đạt: 01 huy chương vàng, 02 huy chương bạc, 02 huy chương đồng.

6.2. An sinh xã hội

 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với các đơn vị có liên quan tham mưu Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức các hoạt động tết Nguyên đán Kỷ Hợi 2019 cụ thể như sau:

Đi thăm, chúc Tết và tặng quà 06 đơn vị: Trường Dạy trẻ khuyết tật tỉnh; nhà nuôi trẻ mồ côi Hoa Mai Vị Thanh; nhà nuôi trẻ mồ côi Hoa Mai Cần Thơ (Châu Thành A); trung tâm Công tác xã hội tỉnh; cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ; trung tâm Công tác xã hội thành phố Cần Thơ với số tiền 42,2 triệu đồng; tổ chức họp mặt, chúc Tết và ăn Tết với hộ nghèo tại 08 điểm (cấp tỉnh tổ chức): phường III (thành phố Vị Thanh); phường Lái Hiếu (thị xã Ngã Bảy); xã Tân Phú (thị xã Long Mỹ); xã Hiệp Hưng (huyện Phụng Hiệp); xã Vĩnh Thuận Tây (huyện Vị Thuỷ); xã Vĩnh Thuận Đông (huyện Long Mỹ); thị trấn Mái Dầm (huyện Châu Thành) và thị trấn Cái Tắc (huyện Châu Thành A). Với các hoạt động chính như: bàn giao và đưa vào sử dụng 08 căn nhà tình thương (mỗi căn 50 triệu đồng) cho hộ nghèo gặp khó khăn về nhà ở trên địa bàn các điểm tổ chức ăn Tết; tặng 2.355 phần quà cho gia đình hộ nghèo với tổng kinh phí tổ chức họp mặt, ăn tết, tặng quà và tặng nhà là 1,85 tỷ đồng; tổ chức 08 Đoàn đi thăm, chúc Tết và tặng 1.880 phần quà cho các gia đình chính sách, người có công tiêu biểu với số tiền 940 triệu đồng. Sở Lao động – Thương binh & Xã hội phối hợp với các ngành, đoàn thể thành lập Đoàn đến thăm và tặng 363 phần quà cho các thương bệnh binh, người có công với cách mạng đang nằm điều trị tại các Bệnh viện, Trung tâm Y tế trong tỉnh với số tiền 181,5 triệu đồng. Tổ chức Lễ viếng Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh, thời gian vào lúc 6 giờ, ngày 01 tháng 02 năm 2019 (nhằm ngày 27/12 âm lịch). Tổ chức Chương trình “Xuân yêu thương” và tặng 1.000 phần quà với số tiền trên 1,57 tỷ đồng cho các em thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh.

Trợ cấp thường xuyên cho 88.158 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 32,79 tỷ đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 349 trường hợp với số tiền trên 1,88 tỷ đồng; hỗ trợ đột xuất cho 10 trường hợp với số tiền 98,8 triệu đồng; cấp 23.019 thẻ Bảo hiểm y tế cho đối tượng bảo trợ xã hội với kinh phí gần 4,30 tỷ đồng.

Hội Bảo trợ Người khuyết tật – Trẻ mồ côi – Bệnh nhân nghèo: tiếp nhận tài trợ từ Hội Assorv (Pháp) và các nhà hảo tâm số tiền 468,89 triệu đồng để chăm sóc, nuôi dưỡng 68 trẻ em mồ côi tại hai nhà trẻ mồ côi Hoa Mai Vị Thanh và Hoa Mai Châu Thành A.

Hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin: Các cấp hội đã vận được số tiền 1.172,9 triệu đồng để chăm lo cho các hội viên nhân dịp Tết.

Hội người mù tỉnh: Hiện tại có 1.651 hội viên, trong quý đã vận động được 742,9 triệu đồng để hỗ trợ cho các hội viên nhân dịp Tết.

Tổ chức trao 100 suất học bổng của Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em nghèo vượt khó học giỏi trên địa bàn huyện Long Mỹ và thành phố Vị Thanh với số tiền 120 triệu đồng.

Trong quý, trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ tai nạn đuối nước làm 04 trẻ em tử vong, tăng 02 vụ so với cùng kỳ năm 2018.

6.3. Y tế

Trong tháng 3, theo báo cáo của Sở Y tế có 29 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, tăng 11 ca so với tháng trước, cộng dồn có 51 ca mắc mới, tăng 11 ca so với cùng kỳ. Bệnh tay chân miệng có 23 ca mắc mới, giảm 27 ca so với tháng trước, cộng dồ có 97 ca mắc mới, tăng 42 ca so với cùng kỳ. Bệnh dịch lạ chưa phát hiện ra trên địa bàn tỉnh. Nhờ sự phát hiện sớm và điều trị kịp thời nên không có ca tử vong do các bệnh truyền nhiễm. Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 1.316 trẻ, cộng dồn là 2.139 trẻ, đạt 18,87% so với kế hoạch; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 1.409 trẻ, cộng dồn là 2.289 trẻ, đạt 20,36%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 807 thai phụ, cộng dồn là 1.641 thai phụ, đạt 14,07%.

Số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng là 18 ca, cộng dồn là 18 ca (tăng 10 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.603 ca (còn sống 1.032 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng là 08 ca, cộng dồn là 08 ca (tăng 01 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.009 ca; số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 01 ca, cộng dồn là 01 ca (tăng 01 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 571 người. Số người hiện đang điều trị Methadone 36 người. Tổng số bệnh nhân điều trị ARV 699 bệnh nhân.

Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn được đảm bảo và duy trì tốt, không xảy ra ngộ độc thực phẩm trước, trong và sau Tết Nguyên đán. Tổ chức đoàn kiểm tra, thanh tra trong tháng với 257 lượt, trong đó, tuyến tỉnh 03 lượt, tuyến huyện và xã là 254 lượt. Kết quả kiểm tra có 38 cơ sở sản xuất, chế biến thực phẩm đạt chất lượng (đạt 76%) và 12 cơ sở không đạt. Cơ sở kinh doanh thực phẩm là 300 cơ sở, số cơ sở đạt là 251 (đạt 73,7%). Cơ sở dịch vụ ăn uống là 1.076 cơ sở, số cơ sở đạt là 783 (đạt 82,80%). Số cơ sở vi phạm là 354 cơ sở, có 15 cơ sở bị phạt và có 03 sản phẩm tiêu hủy. Số tiền bị xử phạt là 24,4 triệu đồng. Trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào.

 Sở y tế tiếp tục triển khai chiến dịch phòng, chống dịch bệnh; tăng cường chỉ đạo thực hiện tốt kế hoạch phòng, chống dịch bệnh chủ động, hạn chế tối đa số ca mắc mới. Triển khai thực hiện các giải pháp nâng cao chất lược khám, chữa bệnh. Thực hiện tốt công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe người dân trong dịp tết Nguyên đán. Tình hình dịch bệnh tiềm ẩn nguy cơ bộc phát nên toàn ngành phải tiếp tục nỗ lực phòng chống dịch chủ động, khống chế không để dịch lây lan trên diện rộng.

6.4. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 3, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông, chỉ tập trung ở đường bộ. So với tháng trước giảm 02 vụ (đường bộ giảm 01 vụ, đường thủy giảm 01 vụ) và so với cùng kỳ năm trước tăng 01 vụ, tập trung ở đường bộ. Trong đó, có tổng cộng 07 người chết, so với tháng trước giảm 03 người (đường bộ giảm 02 người, đường thủy giảm 01 người) và so với cùng kỳ năm trước tương đương. Tổng số, có 01 người bị thương, so với tháng trước giảm 02 người và so với cùng kỳ năm trước tăng 01 người, chỉ tập trung ở đường bộ.

Trong quý I, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 23 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 22 vụ, đường thủy 01 vụ), làm chết tổng cộng 22 người (đường bộ chết 21 người, đường thủy 01 người) và làm bị thương 07 người, chỉ tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước giảm 13 vụ (đường bộ giảm 14 vụ, đường thủy tăng 01 vụ), số người chết giảm 10 người (đường bộ giảm 11 người, đường thủy tăng 01 người) và số người bị thương giảm 09 người, chỉ tập trung ở đường bộ .

6.5.Tình hình thực hiện an toàn cháy nổ

Trong quý I năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ cháy, Không có thiệt hại về người. Tổng giá trị thiệt hại tài sản ước tính gần 750 triệu đồng. Nguyên nhân do thời tiết nắng hạn nhiều, ít mưa nên dễ sảy ra cháy nổ. Vì vậy, mọi tổ chức và cá nhân cần tăng cường những biện pháp phòng chống cháy nổ trong mùa khô này./.