Tháng 4
15:27 24/03/2019

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 3, ước tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2019

  1. Tài chính - Tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 4 được 883,192 tỷ đồng, lũy kế được 2.973,774 tỷ đồng, đạt 42,43% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 530 tỷ đồng, lũy kế được 1.283,841 tỷ đồng, đạt 37,62% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Thu trợ cấp từ ngân sách Trung ương được 269,719 tỷ đồng, lũy kế được 1.268,544 tỷ đồng, đạt 37,46% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi ngân sách nhà nước tháng 4 được 728,564 tỷ đồng, lũy kế được 2.950,413 tỷ đồng, đạt 48,80% dự toán Trung ương giao và đạt 48,22% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi xây dựng cơ bản được 280,516 tỷ đồng, lũy kế được 1.394,047 tỷ đồng, đạt 68,47% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chi thường xuyên được 414,474 tỷ đồng, lũy kế được 1.509,834 tỷ đồng, đạt 38,65% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2. Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 31 tháng 3, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 12.499 tỷ đồng, tăng 3,37% so với cuối năm 2018. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng thương mại nhà nước huy động được 8.427 tỷ đồng (chiếm 67,42% trên tổng huy động), khối Ngân hàng thương mại cổ phần huy động được 3.658 tỷ đồng (chiếm 29,27% trên tổng huy động), phần còn lại là của Ngân hàng chính sách xã hội và quỹ tín dụng nhân dân. Vốn huy động đáp ứng được 55,28% cho hoạt động tín dụng. Dự báo đến ngày 30 tháng 4, tổng vốn huy động trên địa bàn được 12.628 tỷ đồng, tăng 4,43% so với cuối năm 2018.

Đến ngày 31 tháng 3, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn được 22.611 tỷ đồng, tăng 3,17% so với cuối năm 2018. Trong tổng dư nợ trên địa bàn thì khối Ngân hàng thương mại nhà nước được 16.122 tỷ đồng (chiếm 71,30% trên tổng dư nợ), khối Ngân hàng thương mại cổ phần được 4.176 tỷ đồng (chiếm 18,47% trên tổng dư nợ), phần còn lại là của Ngân hàng chính sách xã hội và quỹ tín dụng nhân dân. Ước thực hiện đến ngày 30 tháng 4, tổng dư nợ cho vay trên toàn địa bàn được 22.592 tỷ đồng, tăng 3,09% so với cuối năm 2018.

Nợ xấu đến ngày 31 tháng 3, toàn tỉnh là 833 tỷ đồng, chiếm 3,68% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 30 tháng 4, nợ xấu toàn địa bàn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.

  1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16 tháng 4, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2019 là 17.857,224 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.651,224 tỷ đồng.

- Vốn vay Ngân hàng phát triển: Chưa phân bổ.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.365 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.841 tỷ đồng.

Vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 3 là 1.497,750 tỷ đồng, bằng 101,85% so với tháng trước và bằng 100,50% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 139,310 tỷ đồng, bằng 105,79% so với tháng tr­ước và bằng 88,51% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 115,870 tỷ đồng, bằng 130,77% so với tháng tr­ước và bằng 106,89% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.242,570 tỷ đồng, bằng 99,38% so với tháng tr­ước và bằng 104,47% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính tháng 4 năm 2019, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện được 1.580,180 tỷ đồng, bằng 101,01% so với cùng kỳ năm trước và bằng 105,50% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư tăng so với tháng trước là do: Chủ đầu tư đẩy nhanh việc đền bù, giải phóng mặt bằng, đấu thầu, chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm tiến độ thi công các công trình, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh; triển khai nhanh việc lập hồ sơ, thủ tục các dự án mới đã bố trí vốn bổ sung; tháng cao điểm thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2019.

Ước tính 4 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 6.055,553 tỷ đồng, bằng 103,47% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 33,91% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 539,530 tỷ đồng, bằng 81,97% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 32,67% so với kế hoạch năm. 

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 441,073 tỷ đồng, bằng 106,12% so với cùng kỳ năm trước và đạt 32,31% so với kế hoạch năm.      

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 5.074,950 tỷ đồng, bằng 106,20% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 34,20% so với kế hoạch năm.

  1. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Lúa đông xuân, toàn tỉnh đã xuống giống được 78.418 ha, bằng 101,60% so với kế hoạch tỉnh, so với cùng kỳ tăng 0,64% (bằng 500 ha). Lúa đang cho thu hoạch cuối vụ. Diện tích lúa đông xuân đã thu hoạch được 77.721 ha, phần còn lại đang tiếp tục thu hoạch. Năng suất sơ bộ được 71,96 tạ/ha, giảm 1,64% (bằng 1,2 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng sơ bộ chung cả vụ được 564.296 tấn, giảm 1,01% (bằng 5.768 tấn) so với cùng kỳ.

Lúa hè thu, tính đến thời điểm hiện tại ước toàn tỉnh xuống giống được 49.076 ha, bằng 64,03% so với kế hoạch (kế hoạch tỉnh là 76.640 ha). Phần còn lại bà con nông dân đang tiếp tục xuống giống.

Mía niên vụ 2019, đã xuống giống được 8.357 ha, so với cùng kỳ năm trước bằng 76,79%, tập trung ở huyện Phụng Hiệp, thành phố Vị Thanh và thị xã Ngã Bảy. Các giống mía chủ yếu là giống ngắn ngày như ROC 16, K85-92, ROC 22, R570…

Diện tích ngô gieo trồng  toàn tỉnh ước được 1.491 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 3,71% (bằng 57,49 ha). Năng suất sơ bộ được 55,19 tạ/ha, tăng 5,13% (bằng 2,69 tạ/ha) so với cùng kỳ. Năng suất ngô tăng do sử dụng giống ngô mới cho năng suất cao hơn.

Cây rau các loại gieo trồng 4 tháng đầu năm được 8.400 ha, so với năm trước tăng 29,86% (bằng 1.931 ha). Diện tích trồng rau tăng do chuyển đổi diện tích cây trồng từ cây khác không có hiệu quả sang trồng rau (cụ thể là từ cây mía chuyển sang trồng rau màu).

Hiện nay, ngành nông nghiệp đang đề nghị bà con thường xuyên thăm đồng để phát hiện sớm sinh vật gây hại để có biện pháp xử lý kịp thời. Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đang được ngăn chặn.

Trong tháng 4, dịch cúm gia cầm không xuất hiện trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, ngành thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh. Số đầu con gia súc, gia cầm trong tháng cụ thể như sau:

Đàn heo ước có 150.299 con, giảm 0,43% (bằng 651 con). Trong đó, heo thịt có 130.558 con, giảm 1,72% (bằng 2.282 con). Đàn gia cầm ước có 3.505,36 ngàn con, tăng 2,29% (bằng 78,52 ngàn con). Trong đó, đàn gà có 1.145,01 ngàn con, tăng 2,41% (bằng 26,94 ngàn con) so với cùng kỳ. Đàn gia cầm tăng do giá thịt gia cầm ổn định, dịch bệnh ít, thị trường đầu ra tốt. Đàn bò ước có 3.712 con, tăng 122,83% (bằng 690 con) so với cùng kỳ. Đàn bò tăng do trong tháng mới phát sinh một hộ nuôi trang trại bò trong tỉnh. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 4 tháng: Thịt lợn được 8.305 tấn, so với cùng kỳ, tăng 0,65% (bằng 53,60 tấn), thịt gia cầm được 1.027,64  tấn, so với cùng kỳ tăng 0,75% (bằng 7,67 tấn), sản lượng trứng thu hoạch được 22.033 ngàn quả, giảm 0,88% (bằng 195,05 ngàn quả) so với cùng kỳ.

Diện tích nuôi trồng thủy sản tháng 4 toàn tỉnh ước tính được 72 ha, tăng 4,52% (bằng 1,8 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích cá nuôi được 71 ha, tăng 2,67% (bằng 1,9 ha). Lũy kế 4 tháng đầu năm được 1.976 ha, tăng 1,17% ( bằng 4,6 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích cá nuôi được 1.842 ha, tăng 0,16% (bằng 2,93 ha). 

Tổng sản lượng thủy sản tháng 4 ước được 5.204 tấn, tăng 3,49% (bằng 175 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 4.927 tấn, tăng 3,80% (bằng 180 tấn). Trong đó, cá nuôi được 4825 tấn, tăng 3,78% (bằng 176 tấn) so với cùng kỳ; sản lượng thủy sản khai thác được 277 tấn, giảm 1,76% (bằng 4,9 tấn). Lũy kế 4 tháng đầu năm toàn tỉnh ước được 21.455 tấn, tăng 1,82% (bằng 383 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 20.411 tấn, tăng 1,94% (bằng 388 tấn). Trong đó, cá nuôi được 20.013 tấn, tăng 1,95% (bằng 383 tấn) so với cùng kỳ; sản lượng thủy sản khai thác được 1.044 tấn, giảm 0,47% (bằng 5 tấn). Trong đó, cá khai thác được 874 tấn, giảm 0,46% (bằng 4 tấn) so với cùng kỳ.

Nhìn chung, trong tháng 4, ngành nông nghiệp tập trung vào công tác thu hoạch lúa đông xuân; xuống giống vụ lúa hè thu năm 2019; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, phòng dịch trên gia súc, gia cầm.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp thực hiện tháng 3, tính theo giá so sánh 2010, được 2.113,108 tỷ đồng, tăng 7,57% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 2.903,661 tỷ đồng, tăng 8,58% so với cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp chế biến thực phẩm là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (trên 43,84% trong tổng giá trị), trong tháng có một số ngành hoạt động không hiệu quả như; ngành mía đường giảm sản lượng sản xuất do hàng tồn kho nhiều; ngành chế biến thủy sản không thuận lợi trong quá trình sản xuất, do nguyên liệu đầu vào của ngành này điều tăng như; tôm nguyên liệu, xăng dầu, điện, nên doanh nghiệp chỉ sản xuất theo hợp đồng đã ký, không để tình trạng hàng tồn kho nhiều ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp … nên ngành chế biến thực phẩm giảm 8,82% so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, các ngành còn lại trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đều tăng. Vì vậy, giá trị sản xuất thực hiện tháng 3 năm 2019 tăng nhưng không cao so với cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 4, tính theo giá so sánh 2010, được 2.282,689 tỷ đồng, tăng 8,03 % so với tháng trước và tăng 11,07% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 3.150,692 tỷ đồng, tăng 8,51% so với tháng trước và tăng 11,69% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Number One Hậu Giang, công xuất thiết kê 300 triệu lít nước uống không cồn/năm, sau thời gian đầu tư hoàn thành đã đi vào hoạt động ổn định trong tháng 4 năm 2019, nên ước giá trị ngành này nói riêng và giá trị sản xuất của toàn tỉnh nói chung, tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 4 tháng, tính theo giá so sánh 2010, được 8.341,469 tỷ đồng, tăng 9,16% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 11.413,393 tỷ đồng, tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có 2 khu công nghiệp, 3 cụm công nghiệp tập trung, đã thu hút được 52 dự án với tổng vốn đầu tư trên 70.366 tỷ đồng, vốn đầu tư trong nước và trên 487,9 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Trong đó, 39 doanh nghiệp trong khu công nghiệp và trên 133 doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp đang hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đóng góp giá trị trên 9.862 tỷ đồng (theo giá thực tế), chiếm tỷ trọng trên 88,42% trong tổng giá trị của toàn tỉnh và tăng 9,05% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp lớn sau thời gian đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định và một số doanh nghiệp đang hoạt động đầu tư, mở rộng nhà máy, tăng sản lượng trong những tháng vừa qua, nên làm tăng giá trị sản xuất một số ngành chiếm tỷ trọng lớn như: Ngành sản xuất giày dép (tăng 20,48%); Ngành sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy (tăng 12,10%); Ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (tăng 13,63 %); ...Vì vậy, ước giá trị  sản xuất công nghiệp tăng so với cùng kỳ năm trước.

Dự tính tháng 4, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, tăng 13,02% so với tháng trước và tăng 7,79% so với cùng kỳ.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,08% so với tháng trước và tăng 7,74% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do sau thời gian nghỉ tết Nguyên đán, các doanh nghiệp đã tuyển đủ số lượng lao động theo yêu cầu nên chỉ số sản xuất công nghiệp có xu hướng tăng so với tháng trước. Riêng trong tháng 3 giá điện tăng 8,26%, xăng dầu đều chỉnh tăng, nên ảnh hưởng rất lớn đến chi phí đầu vào của các doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp. Vì vậy, có một số doanh nghiệp chỉ sản xuất sản phẩm theo đơn đặt hàng đã ký, không sản xuất dư thừa làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp, nên chỉ số sản xuất công nghiệp tăng nhưng không cao so với cùng kỳ.

Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 6,34% so với tháng trước và giảm 0,07% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm so với cùng kỳ là do: Chỉ số sản xuất đường (giảm 78,85% do doanh nghiệp còn hàng tồn kho nhiều, thiếu nguyên liệu sản xuất nên chỉ số sản xuất giảm rất nhiều); chỉ số ngành chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản (giảm 2,66 %, do các doanh nghiệp hoạt động trong ngành này bị tác động các yếu tố như:  Điện, xăng dầu, tôm nguyên liệu đều tăng, nên các doanh nghiệp giảm sản lượng sản xuất, để tìm những hợp đồng mới mang lợi nhuận cao hơn mới tăng sản lượng sản xuất trở lại), nên dự tính chỉ số sản xuất ngành chế biến thực phẩm giảm so với cùng kỳ.

Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 39,76% so với tháng trước và tăng 66,08% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Lạc Tỷ II, sản phẩm chính là giày da các loại, chủ yếu là xuất khẩu, do doanh nghiệp mới đầu tư mở rộng nhà máy và đang tuyển trên 3.000 lao động nên dự tính chỉ số sản xuất tăng rất cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 3,29% so với tháng trước và tăng 21,44% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH giấy Lee & Man Việt Nam với sản phẩm chính là giấy cuộn và bìa giấy, sau hơn một năm hoạt động ổn định, doanh nghiệp đã chủ động được nguồn nguyên liệu nhập khẩu và thị trường tiêu thụ ổn định, nên doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất để hoàn thành các hợp đồng đã ký trước đó.

Ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 14,09% so với tháng trước và tăng 19,57% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do Công ty TNHH MTV Phân Bón Hữu Cơ Đậm Đặc, tăng sản lượng sản xuất để phục vụ nhu cầu của thị trường Hậu Giang và các vùng lân cận đang vào vụ lúa hè thu.

Ngành sản xuất sản phẩm từ khoán phi kim loại tăng 13,95% so với tháng trước và tăng 6,42% với cùng kỳ năm trước. Để đáp ứng nhu cầu sử dụng xi măng ngày càng cao góp phần tăng doanh thu, Công ty TNHH MTV xi măng Cần Thơ, sản phẩm chính là xi măng đen, tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm mở rộng thị trường tiêu thu, thực hiện các chính sách bán hàng và dịch vụ bán hàng linh hoạt nên sản lượng của doanh nghiệp tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 16,14% so với tháng trước và tăng 8,29% so với cùng kỳ năm trước. Ngành điện đã hoạt động ổn định, cung cấp đủ điện một cách an toàn, hiệu quả cho người dân và các doanh nghiệp được hoạt động liên tục, đảm bảo hạn chế không để xảy ra tình trạng mất điện. Ngoài ra, do hiện nay là cao điểm của đợt nóng nên nhu cầu sử dụng điện của các hộ gia đình, cơ quan, xí nghiệp... tăng đột biến. Vì vậy, chỉ số truyền tải phân phối điện tăng cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải  giảm 0,34% so với tháng trước và tăng 18,54% so với cùng kỳ. Hiện nay tình hình xâm nhập mặn của các huyện, thị, thành phố trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đang diễn ra hết sức phức tạp nên Công ty Cổ phần Cấp thoát nước – Công trình đô thị Hậu Giang đã có kế hoạch chủ động đối phó, hoạt động liên tục, khai thác thêm các nguồn nước ngầm để đảm bảo cung cấp đầy đủ nước phục vụ tốt việc sản xuất kinh doanh và sinh hoạt cho mọi người dân. Sản lượng sản xuất nước sạch sinh hoạt tháng 4 được 1.005,95 ngàn M3 tăng 39,30% so với cùng kỳ năm trước.

  1. Thương mại và dịch vụ

5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Bước qua tháng 3, thời tiết tiếp tục nắng nóng và dịch bệnh trên lợn có diễn biến phức tạp, giá xăng, dầu và giá điện được đều chỉnh tăng làm tăng chi phí sinh hoạt. Thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh khá trầm lắng, lượng hàng hóa được tiêu thụ chậm, nhất là các chế phẩm từ thịt heo do người dân e ngại dịch bệnh nên hạn chế sử dụng. Ngoài ra, vì mới qua Tết các công trình xây dựng chưa hoạt động xây dựng lại nên nhóm hàng gỗ, vật liệu xây dựng vẫn còn tiêu thụ chậm và giảm mạnh so với những tháng cuối năm 2018. Bên cạnh đó, ngành lưu trú, ăn uống cũng có cùng xu hướng do nhu cầu tiêu dùng trong tháng không cao, tâm lý e ngại các loại dịch bệnh của người dân đã làm cho ngành thương mại - dịch vụ trong tháng giảm hơn so với tháng trước.

Thực hiện tháng 3, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.078,094 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 93,31% và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,19%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.295,608 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 92,86% và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,52%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 281,955 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 97,86% và so với cùng kỳ năm trước bằng 116,43%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 500,531 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 92,91% và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,24%.

Ước thực hiện tháng 4, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.294,175 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 107,02% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,04%. Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.432,459 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 105,96% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,52%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 309,847 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 109,89% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,62%.

Bước qua tháng 4, thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh tăng so với tháng trước do lượng hàng hóa phục vụ cho ngày Tiết Thanh minh, ngày Tết lớn nhất trong năm của đồng bào Khmer Tết cổ truyền Chôl-Chnăm-Thmây, và các ngày lễ lớn trong năm (Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10/03Âl, ngày Giải phóng Miền Nam 30/4, Ngày Quốc tế lao động 1/5) là rất lớn. Hầu hết các nhóm hàng điều tăng so với tháng trước, đặc biệt nhóm hàng lương thực, thực phẩm, đồ dùng gia đình, nhiên liệu và một số hàng hóa khác có doanh thu tăng.

Các ngành dịch vụ trong tháng cũng tăng hơn so với tháng trước do nhu cầu vui chơi, tham quan du lịch và hoạt động văn hóa được tổ chức phục vụ cho ngày Tết cổ truyền của đồng bào Khmer và kỷ niệm các ngày lễ lớn đã làm cho nhóm ngành vui chơi giải trí tăng cao. Ngoài ra, ngành lưu trú, ăn uống tăng nhằm phục vụ nhu cầu họp mặt, vui chơi, du lịch của người dân. 

Ước thực hiện 4 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 13.372,727 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,31%.

Nhìn chung, trong những tháng đầu năm ngành thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có tốc độ tăng trưởng khá tốt. Tuy nhiên, để duy trì tốc độ tăng trưởng và hoàn thành kế hoạch thì các cấp lãnh đạo cần đưa ra các giải pháp về quản lý giá cả và theo dõi các loại dịch bệnh trong những tháng tiếp theo.

5.2. Xuất nhập khẩu hàng hóa

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện tháng 3 được 65,981 triệu USD, so với tháng trước bằng 139,70% và so với cùng kỳ năm trước bằng 87,12%. Chia ra: Xuất khẩu được 44,881 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 161,69% và so với cùng kỳ năm trước bằng 94,61%. Nguyên nhân tăng so với tháng trước là do sau kỳ nghỉ tết các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu trên địa bàn trở lại hoạt động bình thường và bắt đầu lên kế hoạch tăng sản lượng sản xuất để đảm bảo kịp thời gian thực hiện hợp đồng đã ký kết. Vì vậy, giá trị xuất khẩu trong tháng 3 tăng hơn so với tháng trước. Các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực trên địa bàn hầu hết đều tăng, trong đó tăng nhiều nhất là mặt hàng thủy hải sản chế biến các loại tăng 70,61%, giày dép tăng 28,16%, giấy thành phẩm các loại tăng 166,41% so với tháng trước. Các nhóm hàng xuất khẩu khác còn lại cũng có tăng nhưng không nhiều. Nhập khẩu được 21,100 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 108,35% và so với cùng kỳ năm trước bằng 74,56%.

Ước thực hiện tháng 4, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 67,069 triệu USD, so với tháng trước bằng 101,65% và so với cùng kỳ năm trước bằng 85,64%. Chia ra: Xuất khẩu ước thực hiện được 47,215 triệu USD so với thực hiện tháng trước bằng 105,20% và so với cùng kỳ năm trước bằng 71,60%. Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu tăng so với tháng trước là do trong tháng tới các doanh nghiệp có nhiều điều kiện thuận lợi để tăng doanh thu xuất khẩu. Vừa qua, chính phủ đã có chỉ thị yêu cầu tăng cường ưu tiên việc thực hiện xúc tiến thương mại, tổ chức các sự kiện để quảng bá hình ảnh sản phẩm thủy sản đến các nhà nhập khẩu nhằm tăng khả năng tìm kiếm phát triển thị trường xuất khẩu tìm năng trong tương lai. Mặt khác, cũng trong thời gian vừa qua Bộ Thương mại Hoa Kỳ (COC) đã có công bố sơ bộ về mức thuế chống bán phá giá đối với các doanh nghiệp thủy sản của Việt Nam có sản phẩm xuất khẩu vào Hoa Kỳ với mức thuế suất áp dụng được công bố là 0%, điều này đã ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trong thời gian tới có thể xuất khẩu vào thị trường tiêu dùng khổng lồ này dễ dàng hơn. Vì vậy, dự đoán trong tháng tới giá trị xuất khẩu có thể sẽ tăng. Nhập khẩu ước thực hiện được 19,854 triệu USD so với tháng trước bằng 94,09% và so với cùng kỳ năm trước bằng 160,48%.

Ước thực hiện 4 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 262,209 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 82,43 %. Trong đó, xuất khẩu ước thực hiện được 159,772 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 80,03%. Nhập khẩu ước thực hiện được 82,012 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 84,10%. Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 248 ngàn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 68,89%

Nhìn chung, hoạt động xuất khẩu trên địa bàn vẫn chưa hết khó khăn, trong đó mặt hàng xuất khẩu Tôm chế biến các loại chịu ảnh hưởng lớn nhất. Các thị trường nhập khẩu lớn như: Mỹ, Nhật và các nước trong khối liên minh Châu Âu (EU) ngày càng dựng lên nhiều rào cản thương mại mới trong việc nhập khẩu các mặt hàng thủy sản có xuất xứ từ Việt Nam. Rào cản lớn nhất vẫn là vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm dư lượng chất kháng sinh trong sản phẩm, thuế chống bán phá giá, truy xuất nguồn gốc sản phẩm, những quy định, quy trình kiểm dịch rắt rao (kiểm tra 100% các lô hàng nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản) đối với các sản phẩm nhập khẩu. Điều này đã gây ra nhiều khó khăn khiến nhiều sản phẩm của doanh nghiệp không thể đáp ứng được yêu cầu về chất lượng khi xuất khẩu vào thị trường các nước này. Hệ lụy đã gây ảnh hưởng xấu làm giảm doanh thu của doanh nghiệp và giảm giá trị xuất khẩu chung trên địa bàn. Không chỉ có thế, vấn đề thiếu hụt nguồn nguyên liệu chế biến, sự canh tranh gay gắt trên thị trường thế giới cũng đều là những thách thức lớn cho doanh nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay, đòi hỏi các doanh nghiệp cần nhanh chóng có biện pháp để tháo gỡ.

Vì vậy, để đảm bảo hoạt động xuất khẩu tiếp tục phát triển bền vững và đóng góp giá trị cao vào tổng kim ngạch chung trong thời gian tới thì các ngành chức năng và doanh nghiệp cần liên kết chặt chẽ với nhau trong việc giải quyết các vấn đề khó khăn. Cần tăng cường tổ chức các sự kiện xúc tiến thương mại có quy mô về chiều rộng và chiều sâu để có nhiều cơ hội quảng bá hình ảnh, chất lượng sản phẩm thủy sản của Việt Nam một cách trực quan nhất đến với người tiêu dùng cũng như các nhà nhập khẩu có tiềm năng khác, tạo sự gắn kết và tin tưởng của họ đối với sản phẩm thủy sản Việt Nam. Ngoài ra, các ngành chức năng cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, kiểm tra, kịp thời ngăn chặn các hành vi sử dụng hóa chất trong sản phẩm xuất khẩu, thực hiện quy hoạch vùng nuôi có quy mô lớn và đồng bộ, nhằm đảm bảo nguồn nguyên liệu đạt yêu cầu và cung cấp được đầy đủ cho các doanh nghiệp chế biến, từ đó có thể làm giảm giá thành, nâng cao chất lượng, ổn định chuối giá trị của sản phẩm, đồng thời tăng tính cạnh tranh của thủy sản Việt Nam hơn trên thị trường thế giới, góp phần đáng kể làm tăng giá trị xuất khẩu chung trên địa bàn.

5.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải thực hiện tháng 4 được 85,284 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 102,64% và so với cùng kỳ năm trước bằng 90,44%. Trong đó, đường bộ được 47,185 tỷ đồng, bằng 104,89% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước bằng 90,92%. Đường sông được 38,099 tỷ đồng, bằng 99,99% so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước bằng 89,86%.

Ước thực hiện 4 tháng, tổng doanh thu đường bộ, đường sông và kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 355,569 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 92,71%. Trong đó, đường bộ được 194,527 tỷ đồng, bằng 94,11% so với cùng kỳ năm trước. Đường sông được 161,042 tỷ đồng, bằng 91,06% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân giảm so với cùng kỳ là do hiện nay nhiều cơ sở hoạt động vận tải trên địa bàn giảm quy mô hoạt động, nhiều cơ sở đã bán phương tiện để nghỉ hoạt động do kinh doanh không hiệu quả và chuyển sang hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp hoặc thương mại, dịch vụ, chỉ có một số ít những cơ sở hoạt động lâu năm mở rộng được quy mô nên cũng đã phần nào hạn chế được mức sụt giảm so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, hiện nay một số doanh nghiệp hoạt động vận tải trên địa bàn cũng đã và đang dần thực hiện chuyển đổi ngành sản xuất kinh doanh sang lĩnh vực thương mại và dịch vụ, một số doanh nghiệp khác thì xin giải thể, thực hiện thủ tục đóng mã số thuế. Vì vậy, đã làm giảm đáng kể giá trị doanh thu vận tải so với cùng kỳ.

Thực hiện tháng 3, hàng hoá vận chuyển được 580.420 tấn (34.227.325 Tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 103,96% (105,99%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,06% (99,12%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 128.422 tấn (6.524.964 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 98,11% (101,86%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 80,33% (82,42%). Đường sông thực hiện được 451.998 tấn (27.702.361 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 105,76% (107,01%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,71% (104,09%).

Ước thực hiện tháng 4, toàn tỉnh vận chuyển được 581.981 tấn hàng hóa các loại (35.146.487 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 100,27% (102,69%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 93,78% (99,72%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 131.981 tấn (6.606.430 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 102,78% (101,22%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 82,00% (87,91%). Đường sông thực hiện được 449.992 tấn (28.542.057 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 99,56% (103,03%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,91% (102,91%).

 Ước thực hiện 4 tháng đầu năm, toàn tỉnh vận chuyển được 2.360.514 tấn hàng hóa các loại (134.533.277 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 93,04% (97,96%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 552.416 tấn (27.854.786 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 86,24% (89,50%). Đường sông vận chuyển được 1.808.098 tấn (106.678.491 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 95,34% (100,44%).

Hành khách vận chuyển thực hiện tháng 3, toàn tỉnh được 8.966.510 lượt hành khách (47.489.707 HK.Km), so với thực hiện tháng trước bằng 96,00% (93,40%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 85,22% (84,68%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.022.237 lượt hành khách (34.627.876 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 96,66% (93,05%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 87,10% (83,35%). Đường sông vận chuyển được 1.944.273 lượt hành khách (12.861.831 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 93,66% (94,35%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 79,06% (88,46%).

Ước thực hiện tháng 4, toàn tỉnh thực hiện được 9.113.776 lượt hành khách (48.343.743 HK.km), so với tháng trước bằng 101,64% (101,80%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,90% (88,09%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.117.427 lượt hành khách (35.067.094 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 101,36% (101,27%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 89,18% (86,83%). Đường sông vận chuyển được 1.996.349 lượt hành khách (13.276.649 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 102,68% (103,23%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 87,93% (91,59%).

Ước thực hiện 4 tháng đầu năm, toàn tỉnh vận chuyển được 38.414.040 lượt hành khách (204.389.028 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 89,83% (88,47%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 29.447.033 lượt hành khách (147.811.292 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 90,76% (88,04%). Đường sông vận chuyển được 8.967.007 lượt hành khách (56.577.736 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 86,91% (89,61%).

  1. Các vấn đề văn hóa và xã hội, y tế và tai nạn giao thông

6.1. Tình hình văn hóa                                         

Toàn ngành Văn hóa, thể thao và du lịch đã thực hiện được 760m2 panô, 56 băng rol, treo và tháo gỡ hơn 1.000 cờ các loại, 89 lượt phóng thanh cổ động, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành. Triển khai thực hiện maket phục vụ tuyên truyền kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2019) và trang trí khánh tiết ngày Sách Việt Nam năm 2019.

Trong tháng, đoàn Ca múa nhạc dân tộc xây dựng và biểu diễn 15 suất diễn phục vụ trên 9.000 lượt người xem, phục vụ vùng nông thôn và các sở, ban ngành trong tỉnh như: Phục vụ Đại hội đại biểu Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam phường V, lần thứ V, nhiệm kỳ 2019-2024 và Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã Long Mỹ lần thứ IX, nhiệm kỳ 2019-2024; phục vụ giao lưu biểu diễn hoán đổi nghệ thuật tại các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh An Giang. Đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức giao lưu trong và ngoài tỉnh 05 cuộc; xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 91 buổi, thu hút 50.320 lượt người xem.

Tổ chức hoạt động ngày Sách Việt Nam tỉnh Hậu Giang lần thứ IV năm 2019 từ ngày 10/4 - 12/4/2019 như: Triển lãm 1.000 quyển sách gồm các chủ đề: Sách 30/4, sách biển đảo, sách quý - sách hay, sách mới, sách địa chí; tổ chức các trò chơi vui nhộn về sách như: Đảo chữ đoán tên sách, nhận diện tác giả - tác phẩm, nhận diện ca dao tục ngữ và tổ chức ngày hội “Sách với tuổi thơ” thu hút hơn 200 lượt tham gia và trao 90 phần quà; tham gia chấm thi “Xếp mô hình sách” của các đơn vị Thư viện huyện, thị, thành phố trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Trưng bày sách tại chỗ 3 lần trên 90 quyển, bao gồm: Sách kỷ niệm ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước 30/4; sách mới các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, pháp luật...; trưng bày thường xuyên sách chuyên đề “Cải cách hành chính”. Trong tháng, hệ thống Thư viện tỉnh và huyện đã phục vụ 53.466 lượt người với 100.486 lượt sách báo, truy cập máy tính; cấp 204 thẻ bạn đọc.

Tổ chức 07 cuộc triển lãm lưu động và thường xuyên phục vụ các sự kiện: Cuộc thi khởi nghiệp thanh niên tỉnh Hậu Giang năm 2019; lễ phát động thực hiện với Chủ đề năm 2019 “An toàn phụ nữ và trẻ em”; hội thảo “Giải pháp tập hợp phụ nữ Việt Nam khu vực Tây Nam Bộ; Tọa đàm “An toàn cho phụ nữ và trẻ em”; ngày hội Phụ nữ khởi nghiệp năm 2019; ngày Hội thanh niên hiến máu tình nguyện hưởng ứng tháng thanh niên năm 2019; họp mặt cán bộ đoàn tỉnh Hậu Giang - Cần Thơ - Sóc Trăng qua các thời kỳ và tuyên dương thanh niên tiêu biểu trong thực hiện di chúc Hồ Chí Minh với các Chuyên đề như: Thành tựu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh tỉnh Hậu Giang năm 2018; triển lãm bản đồ và tư liệu “Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”; thành tựu 15 năm xây dựng và phát triển tỉnh Hậu Giang

Trong tháng 4, Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh Hậu Giang đảm bảo công việc tuyên truyền phục vụ chính trị, tập trung tuyên tuyền tốt các sự kiện, hoạt động kỷ niệm lớn của đất nước và của địa phương như: Tuyên truyền ngày thành lập Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh 26/3; ngày Quốc tế hạnh phúc; ngày Khí tượng thế giới; giờ trái đất; ngày sách Việt Nam, Tết Chôl-Chnăm-Thmây của đồng bào Khmer; đại hội Mặt trận tổ quốc cấp huyện; giổ Tổ Hùng Vương (Mùng 10/3 AL), …. Đài còn mở tiết mục mới để thực hiện cao điểm tuyên truyền về “Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019” trong chương trình thời sự hàng ngày đảm bảo ngày nào cũng có tin, phóng sự và tiết mục “Tiến tới Giải Mekong Delta Marathon” tỉnh Hậu Giang năm 2019 để tuyên truyền, quảng bá về Giải Marathon quốc tế của tỉnh Hậu Giang, phản ánh tình hình chạy maraton, công tác chuẩn bị, ý nghĩa của giải lần này.

Trong tháng, Đài Phát thanh và Truyền hình Hậu Giang đã sản xuất 310 tin, 128  phóng sự trên sóng truyền hình và 259 tin, 63 phóng sự, 4 phỏng vấn và khoảng trên 1.000 tin khai thác. Hộp thư truyền hình đã nhận được 26 nội dung đơn, đã trả lời 27 đơn (gồm sự việc tồn của tháng trước), tư vấn 33 lượt khán giả. Thực hiện 05 cuộc trực tiếp, thu hình như chương trình tình ca miền Sông Hậu, các chương trình trực tiếp tọa đàm nông nghiệp.

6.2. An sinh xã hội

 Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức tư vấn việc làm cho 1.560 lao động; có 318 lao động đăng ký tìm việc làm; giới thiệu việc làm cho 248 lao động.

Trong tháng, giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 1.381 lao động, đạt 34,85% kế hoạch năm. Trong đó, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 10 người, đạt 30% kế hoạch năm. Thỏa thuận và ký kết hợp đồng hỗ trợ tuyển dụng lao động với 13 doanh nghiệp, số lượng lao động đề nghị được cung ứng là 1.350 lao động.

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ chức 04 cuộc Giao dịch việc làm tại thành phố Vị Thanh, thị xã Ngã Bảy, huyện Phụng Hiệp và huyện Long Mỹ. Kết quả, có 25 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng lao động, 765 lao động được tư vấn việc làm, 80 lao động đăng ký việc làm.Tham dự Hội chợ việc làm tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long. Qua đó, đã tư vấn việc làm cho hơn 300 sinh viên của Trường. Tổ chức ngày hội tư vấn tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp, việc làm năm 2019 và tuyên dương gương tiêu biểu trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang với 500 học sinh và đại biểu tham dự. Qua đó, Ban tổ chức đã trao tặng Bằng khen của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cho 60 học sinh, sinh viên tiêu biểu trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh. Trường Trung cấp Kỹ thuật - Công nghệ tỉnh tổ chức tư vấn, hướng nghiệp tại 21 điểm trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh, qua đó đã phát gần 4.000 tờ rơi thông báo tuyển sinh đến tay các học sinh.

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã trợ cấp thường xuyên cho 29.608 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền trên 11,07 tỷ đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 125 trường hợp với số tiền 675 triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho 04 trường hợp với số tiền 63 triệu đồng. Tổ chức tọa đàm “Công tác xã hội Việt Nam - Đổi mới, hội nhập và phát triển” với 109 đại biểu tham dự. Tại buổi tọa đàm, ban tổ chức đã trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 05 tập thể và 02 cá nhân có đóng góp tích cực trong hoạt động xã hội – từ thiện trên địa bàn tỉnh. Tổ chức các hoạt động chăm lo cho người khuyết tật trên địa bàn tỉnh nhân Ngày người khuyết tật Việt Nam (ngày 18 tháng 4). Đặc biệt là tổ chức Hội nghị biểu dương người khuyết tật tiêu biểu tỉnh Hậu Giang năm 2019, tại Hội nghị biểu dương, Ban Tổ chức đã trao 30 Bằng khen của Uỷ ban nhân dân tỉnh và 100 phần quà cho người khuyết tật tiêu biểu của tỉnh với tổng số tiền 90 triệu đồng.

6.3. Khoa học và công nghệ

Sở Khoa học và công nghệ tổ chức Hội đồng Khoa học và công nghệ xét duyệt đề tài “Nghiên cứu, chọn tạo giống lúa mới có năng suất, chất lượng cao, chống chịu được phèn, mặn, kháng sâu bệnh và thích nghi tốt với điều kiện canh tác tại tỉnh Hậu Giang”, nghiệm thu dự án “Nâng cao năng suất, chất lượng và đạt chứng nhận tiêu chuẩn VietGAP tại hơp tác xã sản xuất cam xoàn Phương Phú, quýt đường Long Trị, Hậu Giang”. Cử cán bộ dự hội thảo giữa kỳ trong khuôn khổ đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền vững đất nông nghiệp tỉnh Hậu Giang”.

Sở Khoa học và công nghệ phối hợp các sở, ban ngành trong tỉnh thực hiện 03 dự án trong Chương trình 824: Một là xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể “Mãng cầu Hậu Giang” dùng cho sản phẩm mãng cầu trong tỉnh Hậu Giang; hai là quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể Quýt đường Long Trị; ba là xây dựng và quản lý chỉ dẫn địa lý “Khóm cầu đúc Hậu Giang” cho sản phẩm khóm của tỉnh Hậu Giang.

Thanh tra chuyên ngành về an toàn bức xạ hạt nhân đối với các cơ sở X quang y tế trên địa bàn tỉnh. Qua kiểm tra 07 đơn vị (04 Trung tâm y tế và 03 Bệnh viện), hầu hết các đơn vị thực hiện tốt việc khai báo và có giấy phép tiến hành công việc bức xạ; thực hiện tốt việc kiểm định máy X quang và kiểm xạ phòng đầy đủ theo chu kỳ quy định; có tổ chức khám sức khỏe và lưu giữ hồ sơ sức khỏe của nhân viên bức xạ; có trang bị và thực hiện đo liều chiếu xạ cá nhân của nhân viên bức xạ theo quy định nhưng lưu giữ kết quả chưa đầy đủ.

Trong tháng 4, Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng (TCĐLCL) đã kiểm định 860 lượt phương tiện đo của các đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh gồm: 25 cân đồng hồ lò xo các loại, 03 cân phân tích, 05 cân kỹ thuật, 04 bình đong, 05 cân đĩa, 01 cân bàn điện tử, 225 đồng hồ nước lạnh, 552 công tơ điện 1 pha và 40 cột đo xăng dầu.

Lũy kế từ đầu năm đến nay Trung tâm Kỹ thuật TCĐLCL đã kiểm định được 1.919 lượt phương tiện đo các loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh gồm: 575 cân đồng hồ lò xo các loại, 23 cân phân tích, 16 cân kỹ thuật, 14 huyết áp kế, 17 bình đong, 235 đồng hồ nước lạnh, 232 công tơ điện 1 pha và 133 cột đo xăng dầu.

6.4. Y tế

Theo báo cáo của Sở Y tế, trong tháng 4 có 26 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, giảm 03 ca so với tháng trước, cộng dồn có 85 ca mắc mới, tăng 39 ca so với cùng kỳ. Bệnh tay chân miệng có 19 ca mắc mới, giảm 04 ca so với tháng trước, cộng dồ có 117 ca mắc mới, tăng 40 ca so với cùng kỳ. Bệnh dịch lạ chưa phát hiện ra trên địa bàn tỉnh. Nhờ sự phát hiện sớm và điều trị kịp thời nên không có ca tử vong do các bệnh truyền nhiễm. Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 904 trẻ, cộng dồn là 3.043 trẻ, đạt 26,09% so với kế hoạch; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 1.118 trẻ, cộng dồn là 3.407 trẻ, đạt 30,31%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 1.172 thai phụ, cộng dồn là 2.757 thai phụ, đạt 23,64%.

Tính đến ngày 31 tháng 3 đã có 78,35% dân số trên địa bàn tỉnh tham gia bảo hiểm y tế (BHYT). Tất cả các cơ sở y tế đã đưa phần mềm quản lý khám chữa bệnh và thanh toán BHYT. Bước đầu đã đạt được những thuận lợi như: Thống kê số liệu chính xác hơn; dễ dàng, nhanh chóng trong việc tổng hợp số liệu; tạo ra sự nhất quán giữa các cơ sở y tế trong việc thống kê báo cáo số liệu. Quản lý tốt thông tin bệnh nhân đồng thời báo cáo số liệu về Sở Y tế, Bộ Y tế cũng như thanh quyết toán với bảo hiểm y tế kịp thời và chính xác hơn. Hiện nay, có 100% cơ sở y tế thực hiện đẩy dữ liệu lên Cổng Bộ Y tế và Cổng giám định BHYT. 100% cơ sở y tế đều thực hiện được việc kiểm tra thông tuyến thông qua Cổng giám định BHYT.

Sở y tế tiếp tục triển khai chiến dịch phòng, chống dịch bệnh; tăng cường chỉ đạo thực hiện tốt kế hoạch phòng, chống dịch bệnh chủ động, hạn chế tối đa số ca mắc mới. Chủ động phát hiện và chống lây lan dịch bệnh mới nổi. Tăng cường công tác tuyên truyền để người dân biết và phối hợp phòng, chống dịch bệnh, nhất là bệnh sốt xuất huyết và tay chân miệng. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động khám, chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm y tế, đảm bảo thông tuyến BHYT và trích chuyển dữ liệu theo sự chỉ đạo của Chính phủ và Bộ Y tế. Triển khai hệ thống quản lý sức khỏe người dân trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.

6.5. An toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 4, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 08 vụ tai nạn giao thông, làm chết 07 người và làm bị thương 01 người. So với tháng trước tương đương về số vụ, số người chết và số người bị thương. So với cùng kỳ năm trước số vụ giảm 03 vụ, số người chết giảm 02 người, số người bị thương giảm 06 người, đều chỉ tập trung ở đường bộ.

Trong 4 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 31 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 30 vụ, đường thủy 01 vụ), làm chết tổng cộng 30 người (đường bộ chết 29 người, đường thủy 01 người) và làm bị thương 08 người, tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước giảm 16 vụ, tập trung ở đường bộ, số người chết giảm 11 người (đường bộ giảm 12 người, đường thủy tăng 01 người) và số người bị thương giảm 15 người, tập trung ở đường bộ ./.