Tháng 5
09:19 29/05/2019

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 4, ước tháng 5, 5 tháng và 6 tháng năm 2019

  1. Tài chính - Tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 5 được 2.271,995 tỷ đồng, lũy kế được 5.236,706 tỷ đồng, đạt 74,71% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 311,553 tỷ đồng, lũy kế được 1.600 tỷ đồng, đạt 46,88% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi ngân sách địa phương tháng 5 được 728,657 tỷ đồng, luỹ kế được 3.424,995 tỷ đồng, đạt 56,64% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi thường xuyên được 377,548 tỷ đồng, luỹ kế được 1.668,224 tỷ đồng, đạt 42,70% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 30/4/2019 huy động vốn trên địa bàn được 12.665 tỷ đồng, tăng trưởng 1,33% so với tháng trước, tương ứng tăng trưởng 4,74% so với cuối năm 2018. Vốn huy động đáp ứng được 56,66% cho hoạt động tín dụng. Ước đến ngày 31/5/2019 huy động vốn trên địa bàn được 12.842 tỷ đồng, tăng trưởng 1,40% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 6,20% so với cuối năm 2018.

Cho vay trên địa bàn đến ngày 30/4/2019 được 22.354 tỷ đồng, giảm 1,14% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 2% so với cuối năm 2018. Ước đến ngày 31/5/2019 tổng dư nợ được 22.803 tỷ đồng, tăng trưởng 4,05% so với cuối năm 2018.

Nợ xấu đến ngày 30/4/2019 là 804 tỷ đồng, chiếm 3,60% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 31/5/2019 nợ xấu toàn địa bàn vẫn ở mức an toàn.

  1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16 tháng 5 năm 2019, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang là 17.857,224 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.651,224 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.365,000 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.841 tỷ đồng.

Vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 4 là 1.617,160 tỷ đồng, bằng 107,97% so với tháng trước và bằng 103,36% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 151,100 tỷ đồng, bằng 108,46% so với tháng tr­ước và bằng 84,73% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 145,660 tỷ đồng, bằng 125,71% so với tháng trước và bằng 99,87% so với cùng kỳ năm tr­ước.

            - Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.320,400 tỷ đồng, bằng 106,26% so với tháng tr­ước và bằng 106,45% so với cùng kỳ năm trước.

            Ước tính tháng 5, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện được 1.698,060 tỷ đồng, bằng 100,34% so với cùng kỳ năm trước và bằng 105,01% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư tăng so với tháng trước là do: Thời tiết khô ráo tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị thi công tập trung đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh; tháng cao điểm thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2019 được triển khai nhanh ở các huyện/thị xã/thành phố; được sự quan tâm của tỉnh ủy và UBND tỉnh đã chỉ đạo giải quyết nhanh, kịp thời các khó khăn vướng mắc và đảm bảo đúng tiến độ, sớm đưa các công trình hoàn thành vào khai thác, sử dụng đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh.

            Ước tính 5 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 7.790,593 tỷ đồng, bằng 103,25% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 43,63% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 708,410 tỷ đồng, bằng 77,30% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 42,90% so với kế hoạch năm.                                 - Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 597,233 tỷ đồng, bằng 107,82% so với cùng kỳ năm trước và đạt 43,75% so với kế hoạch năm.                   

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 6.484,950 tỷ đồng, bằng 106,75% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 43,70% so với kế hoạch năm.

Ước tính 6 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 9.475,295 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm tr­ước (9.132,815 tỷ đồng) bằng 103,75% và đạt 53,06% so với kế hoạch năm hiện tại phân bổ (17.857,224 tỷ đồng). Trong đó vốn ngân sách nhà nước thực hiện được 850,600 tỷ đồng, bằng 77,14% so với cùng kỳ năm trước và đạt 51,51% so với kế hoạch điều chỉnh hiện tại (1.651,224 tỷ đồng), chiếm tỷ trọng 8,98% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.

Vốn đầu tư phát triển thuộc Ngân sách nhà nước do địa phương quản lý

 

Kế hoạch năm 2019 (tỷ đồng)

Ước

tháng 5

(tỷ đồng)

Ước 5 tháng

(tỷ đồng)

Tổng số

17.857,224

1.698,060

7.790,593

Vốn Ngân sách nhà nước

1.651,224

165,830

708,410

      Ngân sách Trung ương

593,818

70,200

236,720

      Ngân sách địa phương

1.057,406

95,630

471,690

Vốn tự có của Doanh nghiệp nhà nước và trung ương đầu tư trên địa bàn

1.365,000

151,300

597,233

Vốn khác

14.841,000

1.380,930

6.484,950

  1. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

3.1. Nông nghiệp

Lúa đông xuân 2019, toàn tỉnh đã xuống giống được 78.418,2 ha, bằng 101,60% so với kế hoạch tỉnh, so với cùng kỳ tăng 0,64% (bằng 500,2 ha). Lúa đã thu hoạch dứt điểm. Năng suất thu hoạch được 73,37 tạ/ha, tăng 0,29% (bằng 0,21 tạ/ha) so với cùng kỳ; sản lượng lúa đông xuân năm nay được 575.354 tấn, tăng 0,93% (bằng 5.310 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Lúa hè thu, ước toàn tỉnh đã xuống giống được 71.761 ha, bằng 93,63% so với kế hoạch (kế hoạch của tỉnh là 76.640 ha).

Bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại lúa hè thu như ốc bươu vàng, bù lạch, rầy nâu, sâu cuốn lá, muỗi hành, chuột,... Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đang được ngăn chặn kịp thời.

Mía niên vụ 2019, toàn tỉnh đã xuống giống được 8.357 ha, giảm 21,03% (bằng 2.225 ha) so với cùng kỳ. Diện tích mía giảm nhiều là do giá mía thấp, hộ trồng mía không có lãi, vì vậy nhiều hộ không trồng nữa. Mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, huyện Long Mỹ, thành phố Vị Thanh và thị xã Ngã Bảy. Các giống mía chủ yếu là giống mía ngắn ngày như ROC 16, K88-92, ROC 22, R570,…

Diện tích gieo trồng ngô, toàn tỉnh được 1.491 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 3,71% (bằng 58 ha).

Diện tích gieo trồng cây rau được 8.537 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 31,94% (bằng 2.067 ha).

Ước tính tháng 5, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

Đàn heo: Có 150.808 con (không tính heo con chưa tách mẹ), giảm 0,09% (bằng 142 con). Đàn bò: Có 3.552 con, tăng 10,24% (bằng 330 con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn gia cầm: Có 3.740,19 ngàn con, tăng 4,66% (bằng 166,62 ngàn con). Trong đó, đàn gà có 1.190 ngàn con, tăng 4,88% (bằng 55 ngàn con). Đàn gia cầm tăng do giá thịt gia cầm ổn định, dịch bệnh ít, thị trường đầu ra tốt.

Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng được 2.635 tấn, giảm 1,1% (bằng 29 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng được 17 tấn, tăng 2,6% (bằng 0,5 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng được 891 tấn, tăng 4,45% (bằng 38 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng gà được 270 tấn, tăng 3,57% (bằng 9 tấn) so với cùng kỳ. Sản lượng trứng gia cầm được 10.116 ngàn quả, tăng 1,99% (bằng 197 ngàn quả).

Trong tháng tính đến ngày 15/5/2019, trên địa bàn tỉnh xuất hiện 4 ổ dịch tả lợn Châu phi, cụ thể: Ngày 05/5/2019, trên địa bàn ấp Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Tường, huyện Vị Thủy xảy ra 01 ổ dịch bệnh với tổng số heo chết và tiêu hủy là 24 con; ngày 8/5/2019, trên địa bàn xã Đông Thạnh, huyện Châu Thành xảy ra 01 ổ dịch bệnh với tổng số heo chết và tiêu hủy là 133 con; ngày 13/5/2019 trên địa bàn xã Đông Phú, huyện Châu Thành xảy ra 01 ổ dịch bệnh với tổng số heo chết và tiêu hủy là 27 con; ngày 10/5/2019 trên địa bàn xã Đông Phước, huyện Châu Thành xảy ra 01 ổ dịch bệnh với tổng số heo chết và tiêu hủy là 30 con. Ngành chức năng đã tiến hành tiêu độc khử trùng tiêu hủy tại các điểm bị dịch bệnh; tập trung công tác ngăn ngừa, phòng chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh, tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh.  

3.2. Lâm nghiệp

Từ đầu năm đến nay, công tác phòng cháy chữa cháy rừng được đảm bảo, không xảy ra vụ cháy rừng nào trên địa bàn tỉnh. Công tác thẩm định, giám sát, kiểm tra, nghiệm thu khai thác rừng, cây phân tán đảm bảo đúng quy định.

Trong tháng, diện tích rừng trồng mới ước được 3 ha, khai thác gỗ được 78 m3, tăng 9,4% (bằng 67m3), sản lượng củi khai thác được 4.853 Ster, giảm 1,02% (bằng 50 Ster) so với cùng kỳ.

3.3. Thủy sản

Trong tháng 5, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 439,2 ha, tăng 29,44% (bằng 100 ha) so với cùng kỳ năm trước. Ước 5 tháng đầu năm, diện tích nuôi thủy sản được 2.415 ha, tăng 4,52% (bằng 105 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá nuôi được 2.280 ha, tăng 4,72% (bằng 103 ha) so với cùng kỳ.

Tổng sản lượng thủy sản tháng 5, ước được 5.689 tấn, tăng 4,45% (bằng 243 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng được 5.409 tấn, tăng 4,72% (bằng 244 tấn); sản lượng thủy sản khai thác được 280 tấn, giảm 0,48% (bằng 1 tấn). Ước 5 tháng, tổng sản lượng thủy sản được 27.145 tấn, tăng 2,36% (bằng 626 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng được 25.821 tấn, tăng 4,72% (bằng 632 tấn); sản lượng thủy sản khai thác được 1.324 tấn, giảm 0,47% (bằng 6 tấn).

Nhìn chung, trong 5 tháng đầu năm, ngành nông nghiệp tập trung vào công tác xuống giống vụ lúa hè thu 2019 và tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, phòng dịch trên gia súc, gia cầm.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Trong những tháng gần đây, lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đã có nhiều dự án mới đi vào hoạt động, với nhiều chính sách hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, cộng đồng doanh nghiệp trong tỉnh đã không ngừng lớn mạnh, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động, đảm bảo an sinh xã hội.

Giá trị sản xuất công nghiệp thực hiện tháng 4:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 2.125,403 tỷ đồng, tăng 3,42% so với cùng kỳ năm trước.

- Tính theo giá thực tế, được 3.036,374 tỷ đồng, tăng 7,64% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do hầu hết ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đều tăng. Riêng ngành công nghiệp sản xuất đường đang gặp khó khăn trong quá trình sản xuất và tiêu thụ như: Thiếu nguyên liệu hoạt động (doanh nghiệp phải nghỉ giữa vụ sớm hơn 2 tháng so với cùng kỳ); giá bán sản phẩm giảm (trên 2 triệu đồng/tấn) so với cùng kỳ, hàng tồn kho tính đến đầu tháng 4 trên 34.734 tấn. Chính vì các yếu tố trên đã làm giảm giá trị sản xuất ngành chế biến thực phẩm (trên 8,75%) so với cùng kỳ. Vì vậy, giá trị sản xuất thực hiện tháng 4 tăng nhưng không cao so với cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 5:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 2.159,992 tỷ đồng, tăng 1,63% so với tháng trước và tăng 12,60% so với cùng kỳ năm trước.

- Tính theo giá thực tế, được 3.094,870 tỷ đồng, tăng 1,93% so với tháng trước và tăng 12,96% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do các cơ sở sản xuất công nghiệp cá thể và doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng tiêu thụ nội địa, tăng sản lượng sản xuất để phục vụ thị trường trong dịp Mùng 5 tháng 5 âm lịch sắp đến. Ngoài ra, tăng một phần là do Công ty TNHH Number One Hậu Giang, sau thời gian đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định, nên làm tăng giá trị sản xuất so với cung kỳ.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 5 tháng:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 10.344,175 tỷ đồng, tăng 8,20% so với cùng kỳ năm trước và đạt 36,85% so với kế hoạch năm.

- Tính theo giá thực tế, được 14.393,945 tỷ đồng, tăng 10,01% so với cùng kỳ năm trước và đạt 36,16% so với kế hoạch năm.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có trên 200 doanh nghiệp và hơn 4.644 cơ sở sản xuất cá thể hoạt động sản xuất công nghiệp, những ngành chiếm tỷ trong lớn và tăng cao so với mức tăng chung của tỉnh như: Sản xuất đồ uống (chiếm tỷ trọng trên 2,52% và tăng 42,21%); sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (chiếm tỷ trọng 10,10% và tăng 28,85% so với cùng kỳ); sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy (chiếm tỷ trọng 17,59% và tăng 10,60% so với cùng kỳ); sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (chiếm tỷ trọng 7,87% và tăng 23,34% so với cùng kỳ); ngành sản xuất các sản phẩm từ khoáng phi kim loại (chiếm tỷ trọng 3,30% và tăng 109,12% so với cùng kỳ)… Nguyên nhân tăng chủ yếu là do các doanh nghiệp có giá trị sản xuất lớn, có nguồn nguyên liệu ổn định, thị phần của các doanh nghiệp không ngừng mở rộng. Vì vậy, các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành trên tăng sản lượng sản xuất hoặc đầu tư mở rộng nhà máy để đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 6 tháng:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 11.503,881 tỷ đồng, tăng 8,85% so với cùng kỳ năm trước và đạt 44,60% so với kế hoạch năm.

- Tính theo giá thực tế, được 17.458,360 tỷ đồng, tăng 10,36% so với cùng kỳ năm trước và đạt 43,85% so với kế hoạch năm.

Nhìn chung, 6 tháng năm, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối đồng đều và ổn định. Tuy nhiên, dù đã có sự tăng trưởng, nhưng không cao, vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về giá, thị trường xuất khẩu và một số yếu tố khác như: Nguyên liệu đầu vào, điện, xăng dầu đều có biến động tăng,... Do vậy, để hoàn thành kế hoạch năm 2019, các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp đang đầu tư sớm đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP):

Dự tính tháng 5, (IIP) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang tăng 2,66% so với tháng trước và tăng 5,71% so với cùng kỳ.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tăng 2,68% so với tháng trước và tăng 5,70% so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,23% so với tháng trước và tăng 4,21% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ là do doanh nghiệp trong các ngành như: Xay xát và sản xuất bột thô tăng 192,78%; sản xuất thức ăn giá súc, gia cầm và thủy sản tăng 10,70%, các ngành trên chiếm tỷ trọng không cao trong tổng ngành chê biên thực phẩm. Riêng ngành chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chiếm tỷ trọng 22,65% trong tổng ngành chế biến thực phẩm nhưng chỉ tăng 3,98% so với cùng kỳ, do các doanh nghiệp hoạt động trong ngành này bị tác động bởi các yếu tố như: Điện, xăng dầu, tôm nguyên liệu đều tăng nên các doanh nghiệp chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng đã ký. Vì vây, chỉ số ngành chế biến thực phẩm tăng nhưng thấp hơn mức tăng chung của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 0,48% so với tháng trước và tăng 18,23% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Lạc Tỷ II sản phẩm chính là giày da các loại, chủ yếu là xuất khẩu, do doanh nghiệp mới đầu tư hoàn thành và đi vào hoạt động thêm 1 phân xưởng với quy mô trên 3.000 lao động. Vì vậy, chỉ số ngành này tăng cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

- Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 2,34% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng không cao so với cùng kỳ năm trước là do Công ty TNHH giấy Lee & Man Việt Nam, với sản phẩm chính là giấy cuộn và bìa giấy sau hơn một năm đi vào hoạt động ổn định, doanh nghiệp đã hoạt động hết công suất thiết kế nên chỉ số sản xuất của doanh nghiệp này nói riêng và chỉ số chung của ngành này không tăng cao như những năm trước.

- Ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 2,09% so với tháng trước và tăng 48,00% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty cổ phần dầu khí Bình Minh với sản phẩm chính là dung môi đây là ngành công nghiệp phụ trợ cho các ngành công nghiệp nặng và là sản phẩm mới trên địa bàn tỉnh, nên thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp này rất lớn và tăng liên tục. Vì vậy, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành này tăng cao so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 2,32% so với tháng trước và tăng 73,02% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Tân Huy Hoàng sản xuất các sản phẩm gia dụng bằng plastic có thị trường tiêu thụ lớn và ổn định nên chỉ số sản xuất công nghiệp ngành này tăng đều so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 3,12% so với tháng trước và tăng 4,97% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do Công ty TNHH MTV bê tông HAMACO Hậu Giang với sản phẩm chính là cấu kiện xây dựng bằng bê tông và bê tông tươi; công ty Cổ phần khoán sản và xi măng Cần Thơ với sản phẩm chính là xi măng, đây là những sản phẩm mới được sản xuất trên địa bàn tỉnh nên thị trường của doanh nghiệp không ngừng được mỡ rộng. Vì vậy, chỉ số ngành này tăng so với cùng kỳ.

Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: Giảm 1,24% so với tháng trước và tăng 10,47% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty Điện Lực Hậu Giang đã hoạt động ổn định, cung cấp đủ điện một cách an toàn, hiệu quả cho người dân các hộ sản xuất kinh doanh và các doanh nghiệp được hoạt động liên tục, đảm bảo hạn chế không để xảy ra tình trạng thiếu điện sử dụng và mất điện đột ngột. Sản lượng truyền tải điện năng tăng 10,19% so với cùng kỳ năm trước. Riêng ngành sản xuất nước đá đang gặp khó khăn về thị trường tiêu thu do bị cạnh tranh bởi các doanh nghiệp cùng ngành nên doanh nghiệp giảm sản lượng sản xuất. Cụ thể, doanh nghiệp tư nhân Duy Phương sản lượng giảm 21,49% so với cùng kỳ năm trước. Vì vậy, ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tuy tăng nhưng không cao so với cùng kỳ năm trước.

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: Tăng 1,29% so với tháng trước và tăng 3,30% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ năm trước là do Công ty Cổ phần cấp thoát nước - Công trình đô thị Hậu Giang nắm được nhu cầu sử dụng nước sạch trong sinh hoạt của người dân nông thôn ngày càng cao nên công ty đã hoàn thiện, khởi công mới các tuyến đường ống dẫn nước đến các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh và khai thác thêm các nguồn nước ngầm để đảm bảo cung cấp đầy đủ nước phục vụ tốt việc sản xuất kinh doanh và sinh hoạt cho mọi người dân.

  1. 5. Thương mại, dịch vụ

5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Trong tháng 4, thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh tăng so với tháng trước do lượng hàng hóa phục vụ cho ngày Tiết Thanh minh, Tết cổ truyền Chôl-Chnăm-Thmây của đồng bào Khmer, và các ngày lễ lớn trong năm (Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch, ngày Giải phóng Miền Nam 30/4, Ngày Quốc tế lao động 1/5) là rất lớn. Đặc biệt, để chào mừng kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh, Hậu Giang đã đăng cai tổ chức giải Marathon Quốc tế “Mekong Delta Marathon” thu hút hơn 4.000 vận động viên tham gia đã góp phần không nhỏ làm cho doanh thu thương mại, dịch vụ tăng hơn tháng trước.

Thực hiện tháng 4, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.268,226 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 106,18% và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,64%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.422,434 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 105,52% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,08%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 317,570 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 112,63% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,33%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 528,222 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 105,53% và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,64%.

Ước thực hiện tháng 5, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.048,386 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 93,27% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,87%. Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.278,083 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 94,04% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,40%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 503,842 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 95,38% và so với cùng kỳ năm trước bằng 106,89%.

Bước qua tháng 5, thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh có xu hướng giảm hơn so với tháng trước, chỉ có một số ít nhóm hàng tăng so với tháng trước là xăng, dầu, đồ dùng gia đình, vật liệu xây dựng nhưng không đáng kể. Nguyên nhân giảm hơn so với tháng trước là do gánh nặng trong chi phí sản xuất kinh doanh, trong sinh hoạt gia đình đều tăng do giá điện và giá xăng dầu tăng, dịch bệnh trên heo tiếp tục diễn biến phức tạp, thời tiết bất lợi cho trồng trọt sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế và đời sống của người dân. Các ngành dịch vụ cũng rơi vào tình trạng ảm đạm, nhất là dịch vụ vui chơi, giải trí và dịch vụ ăn uống. Dịch vụ ăn uống giảm là do ảnh hưởng trực tiếp việc người dân hạn chế tiêu dùng các sản phẩm từ thịt heo.

Ước thực hiện 5 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 16.397,463 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,35%.

Dự tính 6 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 19.425,839 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,87%. Cụ thể: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 14.502,651 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,58%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 1.724,783 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 110,15%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 3.198,405 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 109,50%.

Dự tính trong 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng ngành thương mại trên địa bàn tỉnh Hậu Giang khá cao 9,53%. Trong đó, ngành bán và sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác là 5,06%, ngành bán buôn là 10,93%, ngành bán lẻ là 8,76%. Ngành thương mại có tốc độ tăng khá là do ảnh hưởng của giá cả trong những tháng đầu năm đến nay luôn nằm ở mức tăng như: Xăng, dầu, gas, vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu… Lượng hàng hóa phục vụ cho các ngày Tết, ngày lễ trong những tháng đầu năm là rất lớn. Ngoài ra, giá điện bắt đầu tăng trong tháng 3 là một gánh nặng trong sản xuất kinh doanh làm tăng tiêu dùng của người dân. Hiện nay, thương mại trên địa bàn tỉnh chủ yếu tăng loại hình kinh tế tư nhân (tăng 13,54%) đó là điều phù hợp với xu hướng kinh doanh trong tình hình hội nhập của cuộc cách mạng công nghệ 4.0.

Đối với các ngành dịch vụ ước tính trong 6 tháng đầu năm tốc độ tăng tương đối ổn định. Trong đó, doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 10,22%, lưu trú, ăn uống tăng 9,50%. Trong những tháng đầu năm diễn ra nhiều sự kiện nổi bậc thường niên như: Tết nguyên đán, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, Tết cổ truyền của đồng bào dân tộc Khmer,…. Đặt biệt, để chào mừng kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh, Hậu Giang đã đăng cai tổ chức giải Marathon Quốc tế “Mekong Delta Marathon” thu hút hơn 4000 vận động viên tham gia đã góp phần không nhỏ làm cho doanh thu các ngành dịch vụ tăng. Ngoài ra, các hình thức vui chơi giải trí ngày càng được chú ý phát triển theo hướng mô hình du lịch vườn sinh thái đang nở rộ tại một số địa phương có vườn trái cây như: Châu Thành A, Châu Thành, Ngã Bảy cũng góp phần làm tăng doanh thu dịch vụ ăn uống, vui chơi, giải trí,…

Tuy nhiên, trong hai tháng gần đây tình hình dịch bệnh trên heo tại Hậu Giang có diễn biến phức tạp, hiện tại dịch đang có chiều hướng gia tăng sang các địa bàn lân cận do tập quán chăn nuôi của người dân. Điều này đã ảnh hưởng lớn đến tâm lý tiêu dùng sản phẩm thịt heo của người dân, ước tính doanh thu từ kinh doanh thịt và các sản phẩm từ thịt heo sẽ giảm mạnh trong các tháng tới nếu không kịp thời ngăn chặn, khống chế dịch. Điều đó có thể sẽ làm cho thương mại giảm và có liên quan trực tiếp đến ngành ăn uống cũng sẽ có xu hướng giảm theo.

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện tháng 4 được 69,726 triệu USD, so với tháng trước bằng 105,68% và so với cùng kỳ năm trước bằng 89,04%. Chia ra: Xuất khẩu được 40,369 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 89,95% và so với cùng kỳ năm trước bằng 61,22%. Nhập khẩu được 29,357 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 139,13% và so với cùng kỳ năm trước bằng 237,27%.

Nguyên nhân giá trị xuất khẩu hàng hóa trực tiếp giảm so với tháng trước là do giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn giảm, mặt hàng xuất khẩu giảm nhiều nhất là Tôm chế biến các loại. Mặt hàng thủy sản xuất khẩu này (chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch chung) có giá trị xuất giảm, chỉ bằng 78,83% so với tháng trước. Các mặt hàng xuất khẩu khác còn lại vẫn có giá trị ổn định. Vì vậy, giá trị xuất khẩu bị giảm.

Ước thực hiện tháng 5, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 70,954 triệu USD, so với tháng trước bằng 101,76% và so với cùng kỳ năm trước bằng 93,69%. Chia ra: Xuất khẩu ước thực hiện được 42,783 triệu USD so với tháng trước bằng 105,98% và so với cùng kỳ năm trước bằng 72,39%. Nhập khẩu ước thực hiện được 28,171 triệu USD so với tháng trước bằng 95,96% và so với cùng kỳ bằng 169,42%.

Ước thực hiện 5 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 339,746 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 85,24% và so với kế hoạch năm đạt 32,67%. Trong đó: Xuất khẩu ước thực hiện được 195,709 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 75,64% và so với kế hoạch năm đạt 26,85%. Nhập khẩu ước thực hiện được 119,686 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 104,86% và so với kế hoạch năm đạt 47,87%. Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 23,843 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 94,12% và so với kế hoạch năm đạt 39,74%.

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 417,564 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 85,06% và so với kế hoạch năm đạt 40,15%. Chia ra: Xuất khẩu ước thực hiện được 240,260 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 75,39% và so với kế hoạch năm đạt 32,96%. Nhập khẩu ước thực hiện được 148,183 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 104,59% và so với kế hoạch năm đạt 59,27%. Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 0,688 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 190,06% và so với kế hoạch năm đạt 68,80%. Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 28,433 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 94,26% và so với kế hoạch năm đạt 47,39%.

Hiện nay, tình hình xuất khẩu đang ngày càng khó khăn và có diễn biến phức tạp bởi các thị trường nhập khẩu dựng lên ngày càng nhiều các rào cản thương mại, gây ra rất nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận giao thương. Do đó, tổng giá trị xuất khẩu trực tiếp tính đến thời điểm hiện tại bị sụt giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước, ước tỉnh chỉ bằng khoảng 80% tổng giá trị xuất khẩu của cùng kỳ. Vì vậy, để có thể cải thiện tình hình xuất khẩu đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay các doanh nghiệp cần chủ động không ngừng tìm kiếm các thị trường tiềm năng mới, có mức tiêu thụ khá nằm trong khối Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương để thay thế những thị trường truyền thống có giá trị xuất khẩu lớn nhưng khó tính.

Song song đó, các doanh nghiệp cũng phải quan tâm đúng mức đến vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm chế biến theo quy định của các nước nhập khẩu, từng bước lấy được lòng tin, sự tín nhiệm của người dân ở các nhập khẩu. Sáng tạo trong khâu quảng cáo, quảng bá hình ảnh thương hiệu của sản phẩm nhằm tạo cơ hội thuận lợi để xuất khẩu sang thị trường các nước, góp phần cải thiện và nâng cao kim ngạch xuất khẩu chung trong năm 2019.

5.3. Tình hình giao thông vận tải

Tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện trong tháng 4 được 81,786 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 86,73%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 44,477 tỷ đồng bằng 85,70% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 37,309 tỷ đồng bằng 87,99% so với cùng kỳ năm trước.

Thực hiện 5 tháng, tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi trên địa bàn được 435,030 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 92,59%. Chia ra: Đường bộ thực hiện được 236,451 tỷ đồng bằng 93,96% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 198,579 triệu đồng bằng 91,00% so với cùng kỳ năm trước.

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi trên địa bàn được 520,145 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 93,14%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 282,800 tỷ đồng bằng 94,30% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 237,345 tỷ đồng bằng 91,80% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm so với cùng kỳ là do hiện nay nhiều cơ sở hoạt động vận tải trên địa bàn giảm quy mô hoạt động, bán phương tiện do kinh doanh không hiệu quả, không còn thực hiện vận chuyển, luân chuyển hàng hóa, hành khách và dần chuyển sang hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực khác, chỉ có một số ít những cơ sở hoạt động lâu năm mở rộng được quy mô nên cũng đã phần nào hạn chế được mức sụt giảm so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, hiện nay một số doanh nghiệp hoạt động vận tải trên địa bàn không chịu nỗi sự cạnh tranh nên một số đã xin giải thể, thực hiện thủ tục đóng mã số thuế, một số khác chuyển hoạt động kinh doanh. Vì vậy, đã làm giảm đáng kể giá trị doanh thu vận tải so với cùng kỳ năm trước.

Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Thực hiện tháng 4, hàng hoá vận chuyển được 587.740 tấn (34.251.370 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 101,26% (100,07%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,06% (95,82%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 128.800 tấn (6.471.800 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,29% (99,19%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,24% (86,16%). Đường sông thực hiện được 458.940 tấn (27.779.570 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 101,54% (100,28%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,86% (98,39%).

Ước thực hiện tháng 5, toàn tỉnh vận chuyển được 602.112 tấn hàng hóa các loại (34.899.679 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 102,45% (101,89%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,16% (99,29%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 130.331 tấn (6.460.890 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,19% (99,83%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,71% (92,82%). Đường sông thực hiện được 471.781 tấn (28.438.789 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 102,80% (102,37%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,49% (100,89%).

Ước thực hiện 5 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 2.968.395 tấn hàng hóa các loại (168.537.845 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 93,66% (97,32%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 679.563 tấn (34.183.046 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 86,29% (89,76%). Đường sông vận chuyển được 2.288.832 tấn (134.354.799 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 96,10% (99,45%).

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh vận chuyển được 3.575.345 tấn hàng hóa các loại (204.221.885 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 95,36% (97,75%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 814.283 tấn (40.899.056 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 87,40% (90,61%). Đường sông vận chuyển được 2.761.062 tấn (163.322.829 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 97,99% (99,72%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Thực hiện tháng 4, toàn tỉnh vận chuyển được 9.039.260 lượt hành khách (47.656.640 HK.Km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,81% (100,35%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,18% (86,84%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.009.760 lượt hành khách (34.542.160 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 99,82% (99,75%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 87,83% (85,53%). Đường sông vận chuyển được 2.029.500 lượt hành khách (13.114.480 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 104,38% (101,96%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 89,39% (90,47%).

Ước thực hiện tháng 5, toàn tỉnh thực hiện được 9.061.100 lượt hành khách (48.372.010 HK.km), so với tháng trước bằng 100,24% (101,50%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 90,76% (92,21%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.018.200 lượt hành khách (35.006.030 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,12% (101,34%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 89,27% (87,90%). Đường sông vận chuyển được 2.042.900 lượt hành khách (13.365.980 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,66% (101,92%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,32% (105,76%).

Ước thực hiện 5 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 47.400.624 lượt hành khách (252.073.935 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 89,86% (88,92%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 36.357.566 lượt hành khách (182.292.388 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 90,20% (87,76%). Đường sông vận chuyển được 11.043.058 lượt hành khách (69.781.547 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 88,78% (92,09%).

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh vận chuyển được 56.643.454 lượt hành khách (302.791.445 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 90,45% (89,91%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 43.508.876 lượt hành khách (219.031.788 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 90,66% (88,83%). Đường sông vận chuyển được 13.134.578 lượt hành khách (83.759.657 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 89,77% (92,88%).

  1. Các vấn đề văn hóa, thể thao và xã hội, y tế và tai nạn giao thông

6.1. Tình hình văn hóa, thể thao                                           

Những tháng đầu năm 2019, Sở Văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh Hậu Giang đã tập trung chỉ đạo tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, tuyên truyền chuyên đề “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; kỷ niệm 44 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2019), 46 năm Chiến thắng 75 lượt Tiểu đoàn địch của quân và dân Khu 9; ngày Quốc tế Lao động 1/5 và Lễ công bố Nghị quyết số 655/NQ-UBTVQH14 về việc thành lập thị trấn Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ; kỷ niệm 129 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2019).

Trong tháng 5, toàn ngành Văn hóa, thể thao và du lịch đã thực hiện được 1.780m2 panô, 80 băng rol, treo và tháo gỡ hơn 3.600 cờ các loại, 90 lượt phóng thanh cổ động, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành. Trang trí xe tuyên truyền tham gia Liên hoan Tuyên truyền lưu động toàn quốc kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Trường Sơn và truyền thống Bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2019) tại các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên. Đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức giao lưu trong và ngoài tỉnh 06 cuộc; xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 95 buổi, thu hút 46.500 lượt người xem. Trong tháng, đoàn ca múa nhạc dân tộc đã xây dựng và biểu diễn 05 suất diễn phục vụ trên 3.000 lượt người xem. Đặc biệt là chương trình kỷ niệm 129 năm Ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh tại Công viên Xà No, thành phố Vị Thanh, Đền thờ Bác Hồ tại xã Lương Tâm, huyện Long Mỹ và thị xã Long Mỹ.

Thư viện tỉnh đã tổ chức triển lãm 600 quyển sách về Chiến thắng lịch sử 30/4 và tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 44 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước tại thị trấn Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, sách được xếp thành mô hình Đền thờ Bác Hồ và chiếc xe tăng tạo sự thu hút người xem. Trưng bày sách tại chỗ 3 lần trên 105 quyển, bao gồm: Sách kỷ niệm ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ 7/5/1954; sách chuyên đề Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm ngày sinh Hồ Chí Minh 19/5/1890; sách mới các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, pháp luật...; trưng bày thường xuyên sách chuyên đề “Cải cách hành chính”. Trong tháng, hệ thống thư viện tỉnh và huyện đã phục vụ 54.747 lượt người với 109.504 lượt sách báo, truy cập máy tính; cấp 705 thẻ bạn đọc.

Sở Văn hóa, thể thao và du lịch đã tổ chức hội thao “ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam” tỉnh Hậu Giang năm 2019. Tham dự có 269 vận động viên (VĐV) đến từ 08 đơn vị huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, phục vụ gần 1.500 lượt người xem. Hỗ trợ Công an tỉnh Hậu Giang tổ chức đại hội khỏe “Vì An ninh Tổ quốc” Công an tỉnh lần thứ IV năm 2019 (giai đoạn 1). Tham gia giải quốc tế vô địch Karate Đông Nam Á năm 2019 tại Thái Lan. Kết quả đạt: 01 huy chương vàng cá nhân, 01 huy chương bạc đồng đội.

Tham gia các giải toàn quốc: Điền kinh Cúp tốc độ thống nhất thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả đạt: 01 huy chương vàng, 01 huy chương bạc, 02 huy chương đồng; vô địch các câu lạc bộ Jujitsu toàn quốc lần thứ I năm 2019 tại thành phố Hồ Chí Minh; vô địch các đội mạnh Vovinam toàn quốc lần thứ X năm 2019 tại Gia Lai. Kết quả đạt: 02 huy chương đồng.

6.2. Lao động và an sinh xã hội

 Trong 4 tháng đầu năm, sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã giải quyết việc làm mới cho 5.228 lao động, đạt tỷ lệ 34,85%  kế hoạch năm. Trong đó, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 27 người, đạt tỷ lệ 30% kế hoạch năm. Đào tạo nghề cho 1.050 lao động, đạt 16,15% kế hoạch năm. Trong đó, đào tạo nghề cho lao động nông thôn 450 lao động, đào tạo nghề thường xuyên, từ các chương trình, dự án khác 600 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 49,36%. Sở đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trình Thủ tướng Chính phủ cấp mới bằng Tổ quốc ghi công cho 06 trường hợp thân nhân liệt sĩ đã được giải quyết chế độ ưu đãi trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 nhưng chưa được cấp Bằng Tổ quốc ghi công. Tổ chức đưa, đón 35 người có công với cách mạng đi tham quan thủ đô Hà Nội, viếng lăng Bác và gặp mặt các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; 98 người có công đi tham quan, điều dưỡng tập trung tại huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Trong tháng 5, sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã hoàn chỉnh nội dung “Báo cáo việc thực hiện chính sách, pháp luật về thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững trên địa bàn vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2012-2018” phục vụ cho công tác giám sát của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Hậu Giang. Kiểm tra tình hình triển khai thực hiện dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo từ năm 2016-2018 tại các huyện: Châu Thành, Phụng Hiệp, Vị Thủy, Long Mỹ và Thị xã Long Mỹ. Toàn tỉnh có 4.324 hộ nghèo đăng ký thoát nghèo năm 2019. Tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nội bộ và ra dân được 30 cuộc với 948 lượt người tham dự. Thực hiện kế hoạch của Ban Chỉ đạo 138 tỉnh về việc kiểm tra xử lý vi phạm về trật tự xã hội, tệ nạn xã hội. Đội, tổ kiểm tra liên ngành các cấp đã kiểm tra được 31 lượt cơ sở; phát hiện 01 cơ sở vi phạm, phạt hành chính 01 cơ sở với số tiền 1,5 triệu đồng.

Trong tháng, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 trường hợp trẻ em bị đuối nước và 01 trường hợp trẻ em bị xâm hại tình dục.

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh tạo và giải quyết việc làm mới cho 10.996 lao động, đạt tỷ lệ 73,30% kế hoạch năm. Trong đó, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 52 người, đạt tỷ lệ 57,77% kế hoạch năm. Đào tạo nghề cho 3.900 lao động, đạt 60% kế hoạch năm. Trong đó, đào tạo nghề cho lao động nông thôn là 1.905 lao động, đào tạo nghề thường xuyên, từ các chương trình, dự án khác là 1.995 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 49,99%.

Tổ chức 04 cuộc giao dịch việc làm tại thành phố Vị Thanh, thị xã Ngã Bảy, huyện Phụng Hiệp và huyện Long Mỹ. Kết quả, có 25 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng lao động, 765 lao động được tư vấn việc làm, 80 lao động đăng ký việc làm. Tham dự Hội chợ việc làm tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long. Qua đó, đã tư vấn việc làm cho hơn 300 sinh viên của trường.

Tổ chức “Hội nghị triển khai Kế hoạch hỗ trợ tuyển dụng và đào tạo lao động cho doanh nghiệp năm 2019” với hơn 150 đại biểu tham dự. Qua Hội nghị, Sở đã ký thỏa thuận hỗ trợ tuyển dụng, đào tạo lao động đối với 10 doanh nghiệp với nhu cầu tuyển dụng 6.712 lao động, đào tạo nghề 1.930 lao động. Bằng nhiều hình thức hỗ trợ tuyển dụng, đến nay đã hỗ trợ tuyển dụng được 1.822 lao động. Thỏa thuận và ký kết hợp đồng hỗ trợ tuyển dụng lao động với 43 doanh nghiệp, số lượng lao động đề nghị được cung ứng là 6.081 lao động. Đến thời điểm hiện tại đã hỗ trợ cung ứng được 452 lao động.

6.3. Y tế

Trong tháng 5, theo báo cáo của Sở Y tế có 19 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, giảm 06 ca so với tháng trước, cộng dồn có 104 ca mắc mới, tăng 53 ca so với cùng kỳ. Bệnh tay chân miệng có 20 ca mắc mới, giảm 01 ca so với tháng trước, cộng dồ có 137 ca mắc mới, tăng 33 ca so với cùng kỳ. Bệnh dịch lạ chưa phát hiện ra trên địa bàn tỉnh. Nhờ sự phát hiện sớm và điều trị kịp thời nên không có ca tử vong do các bệnh truyền nhiễm. Số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng là 25 ca, cộng dồn là 52 ca (tăng 17 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.655 ca (còn sống 1.082 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng là 01 ca, cộng dồn là 09 ca (giảm 09 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.012 ca; số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 01 ca, cộng dồn là 03 ca (giảm 03 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 573 người. Số người hiện đang điều trị Methadone 36 người. Tổng số bệnh nhân điều trị ARV 714 bệnh nhân.

Sở Y tế tiếp tục triển khai chiến dịch phòng, chống dịch bệnh; tăng cường chỉ đạo thực hiện tốt kế hoạch phòng, chống dịch bệnh chủ động, hạn chế tối đa số ca mắc mới. Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn được duy trì tốt, không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào trên địa bàn. Triển khai thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh. Chỉ đạo các đơn vị có giường bệnh tập trung triển khai thực hiện tốt kế hoạch về đổi mới phong cách và thái độ phục vụ hướng tới sự hài lòng của người bệnh. Tình hình dịch bệnh tiềm ẩn nguy cơ bộc phát nên toàn ngành phải tiếp tục nỗ lực phòng chống dịch chủ động, khống chế không để dịch lây lan trên diện rộng.

6.4. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 5 năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 10 vụ tai nạn giao thông, làm chết 09 người và làm bị thương 02 người. So với tháng trước số vụ tăng 02 vụ, số người chết tăng 02 người và số người bị thương tăng 01 người, đều tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước số vụ tăng 07 vụ, số người chết tăng 06 người và số người bị thương tăng 01 người, cũng chỉ tập trung ở đường bộ.

Trong 5 tháng đầu năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 41 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 40 vụ, đường thủy 01 vụ), làm chết tổng cộng 38 người (đường bộ chết 37 người, đường thủy chết 01 người) và làm bị thương 10 người, tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước giảm 10 vụ, tập trung ở đường bộ, số người chết giảm 06 người (đường bộ giảm 07 người, đường thủy tăng 01 người) và số người bị thương giảm 14 người, tập trung ở đường bộ.