Tháng 6
20:27 25/06/2019

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 5,ước tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2019

  1. Tăng trưởng kinh tế

Ước tính tốc độ tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm theo giá so sánh 2010 tăng 5,71% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,35%; khu vực sản xuất công nghiệp và hoạt động xây dựng tăng 8,45%; khu vực dịch vụ tăng 6,04%.

  1. Tài chính - Tín dụng

2.1 Tài chính

Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 6 được 697,009 tỷ đồng, lũy kế được 5.801,830 tỷ đồng, đạt 82,77% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 418,197 tỷ đồng, lũy kế được 1.885 tỷ đồng, đạt 55,23% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; thu Trung ương trợ cấp được 269,719 tỷ đồng, lũy kế được 1.807,982 tỷ đồng, đạt 53,39% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; thu chuyển nguồn được 1.889,274 tỷ đồng, ngoài kế hoạch Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi ngân sách địa phương tháng 6 được 1.737,704 tỷ đồng, lũy kế được 3.925,298 tỷ đồng, đạt 64,93% dự toán Trung ương giao và đạt 64,16% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi thường xuyên được 591,422 tỷ đồng, luỹ kế được 1.984,456 tỷ đồng, đạt 50,80% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

2.2 Tín dụng

Đến ngày 31 tháng 5, huy động vốn trên địa bàn được 13.095 tỷ đồng, tăng trưởng 3,40% so với tháng trước và tăng 8,29% so với cuối năm 2018. Vốn huy động đáp ứng được 58,70% cho hoạt động tín dụng. Ước đến ngày 30 tháng 6, huy động vốn toàn địa bàn được 13.378 tỷ đồng, tăng trưởng 2,16% so với cuối tháng trước, tăng 10,64% so với cuối năm 2018.

Tổng dư nợ cho vay (bao gồm ngoại tệ quy đổi VND) đến ngày 31 tháng 5, được 22.308 tỷ đồng, giảm 0,20% so với cuối tháng trước, tăng 1,80% so với cuối năm 2018. Ước đến ngày 30 tháng 6, dư nợ toàn địa bàn được 22.887 tỷ đồng, tăng 2,60% so với cuối tháng trước, tăng 4,44% so với cuối năm 2018. Nợ xấu toàn địa bàn là 829 tỷ đồng, chiếm 3,72% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 30 tháng 6, nợ xấu còn ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.                             

  1. Vốn đầu tư và xây dựng

3.1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 17 tháng 6 năm 2019, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2019 là 17.955,761 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.749,761 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn là: 1.365 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.841 tỷ đồng.

Vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 5, là 1.711,630 tỷ đồng, bằng 105,84% so với tháng trước và bằng 101,14% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 175,530 tỷ đồng, bằng 116,17% so với tháng tr­ước và bằng 67,97% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 145,500 tỷ đồng, bằng 99,89% so với tháng tr­ước và bằng 105,24% so với cùng kỳ năm tr­ước.

             - Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.390,600 tỷ đồng, bằng 105,32% so với tháng tr­ước và bằng 107,32% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính tháng 6, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện được 1.671,132 tỷ đồng, bằng 105,25% so với cùng kỳ năm trước và bằng 97,63% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư giảm so với tháng trước là do vào mùa mưa nên ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các công trình trọng điểm; kết thúc thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2019; công tác giải phóng mặt bằng triển khai chậm; các dự án của nhà đầu tư thực hiện còn chưa đúng kế hoạch đã đăng ký ở các Khu, cụm Công nghiệp..

Ước tính 6 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 9.475,295 tỷ đồng, bằng 103,75% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 52,77% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 890,560 tỷ đồng, bằng 80,76% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 50,90% so với kế hoạch năm.        

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 749,833 tỷ đồng, bằng 112,78% so với cùng kỳ năm trước và đạt 54,93% so với kế hoạch năm.                 

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 7.834,902 tỷ đồng, bằng 106,38% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 52,79% so với kế hoạch năm.

3.2. Xây dựng

Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành quý I, thực hiện được 1.471,214 tỷ đồng, so với quý trước (1.836,100 tỷ đồng) bằng 80,13% và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,46%. Trong đó, loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 636,631 tỷ đồng; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 834,583 tỷ đồng. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện quý I như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 940,274 tỷ đồng, so với quý trước (1.030,620 tỷ đồng) bằng 91,23% và so với cùng kỳ năm trước bằng 143,85%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 201,636 tỷ đồng, so với quý trước (298,500 tỷ đồng) bằng 67,55% và so với cùng kỳ năm trước bằng 74,53%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 279,646 tỷ đồng, so với quý trước (419,680 tỷ đồng) bằng 66,63% và so với cùng kỳ năm trước bằng 72,45%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 49,658 tỷ đồng, so với quý trước (87,300 tỷ đồng) bằng 56,88% và so với cùng kỳ năm trước bằng 39,51%.

Ước tính quý II, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 1.733,342 tỷ đồng, so với quý trước bằng 117,82% và so với cùng kỳ năm trước (1.504,376 tỷ đồng) bằng 115,22%. Trong đó, loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 810,211 tỷ đồng, so với quý trước bằng 127,27% và so với cùng kỳ năm trước bằng 95,24%; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 923,131 tỷ đồng, so với quý trước bằng 110,61% và so với cùng kỳ năm trước bằng 141,22%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình ước thực hiện trong quý II như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 1.164,313 tỷ đồng, so với quý trước bằng 123,83% và so với cùng kỳ năm trước bằng 172,44%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 198,634 tỷ đồng, so với quý trước bằng 98,51% và so với cùng kỳ năm bằng 80,96%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 313,075 tỷ đồng, so với quý trước bằng 111,95% và so với cùng kỳ năm trước bằng 64,08%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 57,290 tỷ đồng, so với quý trước bằng 115,37% và so với cùng kỳ năm trước bằng 60,15%.

Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng so với quý trước là do thời tiết thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động xây dựng; các thủ tục đã hoàn thành từ đầu năm; quý cao điểm thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2019 đã góp phần làm tăng giá trị sản xuất.

Tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành 6 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 3.204,556 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (2.940,300 tỷ đồng) bằng 108,99%. Trong đó, loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 1.446,842 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 87,58%; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 1.757,714 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 136,43%. Giá trị ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện 6 tháng đầu năm như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 2.104,617 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (1.328,870 tỷ đồng) bằng 158,38%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 400,270 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (515,920 tỷ đồng) bằng 77,58%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 592,721 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (874,575 tỷ đồng) bằng 67,77%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 106,948 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (220,935 tỷ đồng) bằng 48,41%.

Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng thực hiện 6 tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ năm trước là do hiện nay giá cả nhóm hàng vật liệu xây dựng, chi phí máy thi công và chi phí nhân công tăng cao; một số công trình cơ bản đã hoàn thành đưa vào sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư và nhà thầu góp phần làm tăng giá trị sản xuất; tiếp tục thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ, thắt chặt tiết kiệm chi tiêu, kiềm chế lạm phát, chống lãng phí.

Đến nay, tình hình xây dựng trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở dân dụng và đường giao thông. Riêng các công trình trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước có qui mô lớn thì hầu hết đều do các doanh nghiệp ngoài tỉnh thi công. Do vậy, đề nghị Lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, để các doanh nghiệp xây dựng trong tỉnh được thi công nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành xây dựng của tỉnh tăng cao.

  1. 4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

4.1. Nông nghiệp

Diện tích lúa đông xuân chính thức đã xuống giống được 78.418 ha, bằng 101,6% so với kế hoạch tỉnh, so với cùng kỳ tăng 0,64% (bằng 500 ha). Đến nay, lúa đông xuân trên địa bàn tỉnh đã thu hoạch dứt điểm. Năng suất thu hoạch chính thức được 73,37 tạ/ha, tăng 0,29% (bằng 0,21 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng lúa đông xuân toàn tỉnh chính thức được 575.354 tấn, tăng 0,93% (bằng 5.310 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Hiện nay, lúa hè thu toàn tỉnh đã xuống giống dứt điểm được 78.082 ha, đạt 101,80% so với kế hoạch (kế hoạch của tỉnh là 76.640 ha), so với cùng kỳ năm trước tăng 3,95%. Bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại lúa hè thu như: Ốc bươu vàng, bù lạch, sâu cuốn lá, nhện gié, chuột, bệnh cháy bìa lá, đạo ôn cổ bông và lem lép hạt... Ngành chức năng đang tích cực hướng dẫn bà con nông dân có biện pháp phòng trừ hiệu quả.

Mía niên vụ 2019, toàn tỉnh đã xuống giống được 8.314 ha, giảm 21,43% so với cùng kỳ năm trước do yếu tố giá cả không có lợi cho người trồng mía, tập trung ở các huyện Phụng Hiệp, Long Mỹ, Thành phố Vị Thanh và Thị xã Ngã Bảy. Các giống mía chủ yếu là giống mía ngắn ngày như: ROC 16, K88-92, ROC 22, K95-289, … Mía hiện đang trong giai đoạn phát triển tốt.

Diện tích gieo trồng ngô toàn tỉnh được 1.491 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 3,71% (bằng 57 ha). Năng suất thu hoạch được 55,06 tạ/ha, tăng 4,88% (bằng 2,56 tạ/ha).

Cây rau các loại, diện tích gieo trồng được 6.788 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,94% (bằng 320 ha).

Diện tích gieo trồng đậu các loại được 525 ha, so với cùng kỳ năm trước giảm 10,15% (bằng 59 ha).

Cây xoài, diện tích hiện có toàn tỉnh được 2.810 ha, tăng 4,31% so với cùng kỳ năm trước (bằng 116 ha), sản lượng thu hoạch được 14.546 tấn, tăng 4,42% so với cùng kỳ (bằng 616 tấn).

Diện tích trồng cây chuối toàn tỉnh được 2.343 ha, tăng 3,91% (bằng 88 ha) so với cùng kỳ, sản lượng thu hoạch được 16.153 tấn, tăng 3,70% so với cùng kỳ năm trước (bằng 576 tấn).

Diện tích trồng dứa được 1.588 ha, tăng 3,2% so với cùng kỳ (bằng 49 ha), sản lượng thu hoạch được 13.298 tấn, tăng 3,32% so với cùng kỳ năm trước (bằng 427 tấn).

Cây cam, diện tích toàn tỉnh được 9.080 ha, tăng 4,33% so với cùng kỳ (bằng 377 ha), sản lượng thu hoạch được 40.813 tấn, tăng 3,23% so với cùng kỳ năm trước (bằng 1.277 tấn).

Ước tính thực hiện tháng 6, số đầu con gia súc, gia cầm như sau:

Đàn lợn (heo): Có 147.943 con heo (không tính heo con chưa tách mẹ) giảm 1,99% (giảm 3.007 con), sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm được 13.135 tấn, tăng 0,14% (bằng 18,11 tấn). Đàn bò: Có 3.552 con, tăng 10,24% (bằng 330 con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn gia cầm: Có 3.740 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 4,66% (tăng 166 ngàn con). Trong đó, đàn gà có 1.190 ngàn con, tăng 4,88% (bằng 55,39 ngàn con); sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng được 4.618 tấn, tăng 2,55% (bằng 115 tấn). Sản lượng trứng gia cầm 6 tháng đầu năm được 61.307,74 ngàn quả, tăng 1,98% so với cùng kỳ năm trước (bằng 1.190,87 ngàn quả).

Đàn gia cầm năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước nguyên nhân là do: Ngành thú y thực hiện tốt công tác tiêm phòng, quản lý, giám sát dịch bệnh, dịch cúm gia cầm không để xảy ra trên địa bàn tỉnh; giá cả biến động theo hướng tăng người chăn nuôi có lợi nhuận nên đầu tư tái đàn, mở rộng quy mô sản xuất.

Theo báo cáo của sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tính đến ngày 23/6/2019, trên địa bàn tỉnh, số lượng heo chết và tiêu hủy tại 197 ổ dịch tả lợn (heo) Châu phi của 100 ấp/khu vực, 39 xã/phường/thị trấn, 08 huyện/thị xã/thành phố với tổng số 6.051 con. Cụ thể:

- Thành phố Vị Thanh có 04 ổ dịch với 68 con chết và tiêu hủy.

- Thị xã Ngã Bảy có 33 ổ dịch với 1.969 con chết và tiêu hủy.

- Thị xã Long Mỹ có 02 ổ dịch với 28 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Châu Thành có 97 ổ dịch với 2.075 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Châu Thành A có 31 ổ dịch với 684 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Vị Thủy có 03 ổ dịch với tổng số 490 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Phụng Hiệp có 26 ổ dịch với 711 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Long Mỹ có 01 ổ dịch với 26 con chết và tiêu hủy.

Ngành chức năng đã tiến hành tiêu hủy, tiêu độc khử trùng tại các điểm bị dịch bệnh; lập các chốt kiểm dịch động vật tại các điểm trên quốc lộ, các tuyến đường chính để kiểm soát việc vận chuyển heo và các sản phẩm của heo. Tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh.

4.2. Lâm nghiệp

Trong 6 tháng, diện tích rừng trồng mới ước được 107 ha, sản lượng gỗ khai thác được 5.553 m3, tăng 0,78% (bằng 42,9 m3), sản lượng củi khai thác được 50.637 Ster, giảm 1,03% (bằng 527,6 Ster).

Từ đầu năm đến nay không xảy ra vụ cháy rừng nào trên địa bàn tỉnh.  Công tác thẩm định, giám sát, kiểm tra, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định, diện tích rừng được bảo vệ an toàn.    

4.3. Thủy sản

Trong 6 tháng, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 2.493 ha, tăng 4,53% so cùng kỳ năm trước (bằng 108 ha). Trong đó, diện tích nuôi cá toàn tỉnh ước tính được 2.358 ha, tăng 4,72% ( bằng 106 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Tổng sản lượng thủy sản 6 tháng ước được 32.632 tấn, tăng 2,53% (bằng 805 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng được 31.024 tấn, tăng 2,69% (bằng 813 tấn).

Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm, ngành nông nghiệp tập trung vào công tác thu hoạch dứt điểm lúa đông xuân, xuống giống lúa vụ hè thu, tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, phòng dịch trên gia súc, gia cầm, đặc biệt thực hiện quyết liệt công tác phòng chống dịch tả lợn Châu phi xảy ra trên địa bàn tỉnh trong thời gian vừa qua.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Tình hình sản xuất công nghiệp những tháng đầu năm 2019 tiếp tục tăng so với cùng kỳ và có nhiều tín hiệu khả quan, nhiều nhóm ngành vừa đảm bảo nhu cầu sử dụng trong nước, vừa góp phần quan trọng cho tăng trưởng xuất khẩu. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được coi là điểm sáng và là động lực tăng trưởng cho sản xuất công nghiệp trong suốt thời gian vừa qua.

Giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá so sánh 2010, thực hiện tháng 5 được 2.147,237 tỷ đồng, tăng 11,93% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 3.042,639 tỷ đồng, tăng 11,05% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 98,92% trong tổng giá trị toàn ngành và phát triển bền vững trong thời gian vừa qua là do các nhà máy chế biến chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh. Đặc biệt, tỉnh đang ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông- thuỷ sản có lợi thế cạnh tranh và sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, có khả năng xuất khẩu và giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội. Vì vậy, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng so với cùng kỳ.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 6, tính theo giá so sánh 2010, được 2.190,143 tỷ đồng, tăng 2% so với tháng trước và tăng 12,67% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 3.116,646 tỷ đồng, tăng 2,43% so với tháng trước và tăng 13,96% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân là do ngành sản xuất chế biến thực phẩm là ngành chiếm tỷ trọng rất lớn (trên 42,75% giá trị sản xuất của toàn ngành) và là ngành chủ lực của tỉnh trong thời gian vừa qua, nhưng một số doanh nghiệp trong ngành này hoạt động hiệu quả chưa cao, do bị ảnh hường các yếu tố như: Giá điện, xăng dầu có biến động tăng, khó khăn về nguồn nguyên liệu sạch, thiếu vốn sản xuất kinh doanh nên một vài doanh nghiệp cắt giảm sản lượng sản xuất không để hàng tồn kho tăng cao (do vây, chỉ số tồn kho ngành công nghiệp giảm 5,02% so với cùng kỳ) ảnh hưởng đến vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra bị ảnh hưởng một phần là do niên vụ mía năm 2018-2019, Công ty Cổ phần mía đường Cần Thơ nghỉ giữa vụ sớm hơn 2 tháng so với cùng kỳ. Vì vậy, đã làm giá trị sản xuất của toàn tỉnh tăng không cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 6 tháng đầu năm, tính theo giá so sánh 2010, được 12.521,563 tỷ đồng, tăng 8,85% so với cùng kỳ năm trước và đạt 44,60% so với kế hoạch năm. Tính theo giá thực tế, được 17.458,360 tỷ đồng, tăng 10,36% so với cùng kỳ năm trước và đạt 43,85% so với kế hoạch năm.

Nguyên nhân là do được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban tỉnh và các sở, ban ngành, với nhiều chính sách ưu đãi, thu hút các doanh nghiệp đầu tư mới trên địa bàn tỉnh, đến nay đã phát huy được hiệu quả, sau khi kết thúc năm tài chính hầu hết các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đều có lợi nhuận. Vì vậy, một số doanh nghiệp đang hoạt động ổn định, mạnh đầu tư mở rộng nhà máy, tuyển thêm công nhân, tăng sản lượng sản xuất để mở rộng thị phần trong và ngoài nước, nên một số doanh nghiệp có giá trị sản xuất lớn hoạt động có hiệu quả góp phần tăng giá trị sản xuất từ đầu năm đến nay. Bên cạnh đó, trong 6 tháng đầu năm giá xăng dầu tăng mạnh, công thêm giá điện tăng tác động rất lớn đến chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm giá thành sản xuất tăng. Một số doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả, bị thua lỗ do hợp đồng kinh tế đã ký kết từ đầu năm nên không dự trù trước được giá tăng/giảm của các yếu tố đầu vào. Vì vậy, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh có tăng nhưng không cao so với cùng kỳ (cùng kỳ tăng trên 15,75% theo giá thực tế).

Nhìn chung, 6 tháng đầu năm 2019, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối ổn định. Tuy nhiên, dù đã có sự tăng trưởng nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về giá, thị trường xuất khẩu và một số yếu tố khác như: Điện, xăng dầu,... Do vậy, để hoàn thành kế hoạch năm 2019, các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp đang đầu tư sớm đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính 6 tháng, chỉ số (IIP) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang tăng 9,58% so với cùng kỳ.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tăng 9,58% so với cùng kỳ. Trong đó, các ngành tăng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp chế biên, chế tạo như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; sản xuất sản phẩm từ khoán phi kim loại khác… Cụ thể:

- Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 54,28% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Lạc Tỷ II với sản phẩm chính là giày các loại, sau hơn 06 năm đi vào hoạt động đã tạo dựng được thương hiệu và thị trường tiêu thụ ổn định, đến thời điểm hiện tại, công ty đã đầu tư hoàn thành, đi vào hoạt động thêm một phân xưởng gia công đế và các bộ phận của giày da, hiện tại doanh nghiệp đang tuyển thêm trên 2.000 lao động để hoạt động hết công suất phân xưởng mới. Vì vậy, chỉ số công nghiệp ngành này tăng so với cùng kỳ và còn tăng cao hơn nữa trong những tháng tiếp theo.

- Ngành chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 11,71% so với cùng kỳ. Sự tăng trưởng của ngành này chủ yếu tập trung vào các cơ sở cá thể công nghiệp, tuy trong những năm gần đây số lượng cơ sở hoạt động trong ngành này giảm nhưng các cơ sở còn hoạt động có đầu tư máy móc thiết bị, ứng dụng điện năng thay thế cho máy chạy bằng nhiên liệu dầu diezel nên sản lượng sản xuất trên cùng một đơn vị thời gian tăng lên và lực lượng lao động giảm do ứng dụng công nghệ vào sản xuất. Vì vậy, chỉ số ngành này tăng so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất sản phẩm cao su và plastic tăng 119,07% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Tân Huy Hoàng, sản xuất các sản phẩm gia dụng bằng plastic, đây là sản phẩm mới nên thị phần của doanh nghiệp này rất lớn. Vì vậy, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành này tăng đều và ổn định so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất sản phẩm từ khoán phi kim loại khác tăng 10,14% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do công ty TNHH MTV xi măng Cần Thơ - Hậu Giang với sản phẩm chính là xi măng đen, do đây là sản phẩm mới trên địa bàn tỉnh và có giá thành hết sức cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác trong khu vực. Vì vây, đến nay thị phần của doanh nghiệp này ngày càng mở rộng, sản lượng tăng ổn định so với cùng kỳ.

- Bên cạnh đó, có một số ngành giảm hoặc tăng nhưng thấp hơn mức tăng chung của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo so với cùng kỳ như: Sản xuất chế biến thực phẩm (giảm 0,50% so với cùng kỳ); sản xuất đồ uống (giảm 14,80% so với cùng kỳ); sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (tăng 6,72% so với cùng kỳ); sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (tăng 6,72% so với cùng kỳ)… Nguyên nhân chủ yếu là do sự quản lý yếu kém của một số doanh nghiệp trong các ngành kể trên, nên hàng tồn kho tăng nhiều, thiếu lao động có tay nghề, thị trường tiêu thụ không ổn định, giá điện, xăng dầu có biến động tăng liên tục trong những tháng vừa qua, đã làm chi phí đầu vào tăng và giá thành sản phẩm tăng theo, nên một số doanh nghiệp đã thua lỗ khi hoàn thành các hợp đồng dày hạn đã ký trước đó… Vì vậy, các doanh nghiệp giảm sản lượng sản xuất để khắc phục các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp, nên làm chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng nhưng không cao so với cùng kỳ năm trước.

 Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: Tăng 9,66% so với cùng kỳ năm trước.

-  Chỉ số sản xuất, truyền tải và phân phối điện tăng 9,98% so với cùng kỳ. Ngành điện đã cung cấp đủ điện, an toàn phục vụ phát triển kinh tế xã hội, đã hạn chế tối đa không để mất điện, đảm bảo nhu cầu sử dụng cho người dân và các doanh nghiệp được hoạt động liên tục. Hiện nay, giá điện tăng nên người tiêu dùng cũng hạn chế sử dụng các đồ dùng, trang thiết bị gia đình bằng điện trong sinh hoạt, nhất là đã hết mùa nắng nóng nên người tiêu dùng cũng hạn chế sử dạng máy điều hoà để làm mát, do đó sản lượng điện truyền tải có xu hướng giảm trong những tháng tiếp theo.

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: Tăng 9,42% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do công ty Cổ Phần Cấp Thoát Nước- CTĐT Hậu Giang nắm được nhu cầu sử dụng nước sạch trong sinh hoạt của người dân nông thôn ngày càng cao nên công ty đã hoàn thiện và khởi công mới các tuyến đường ống, dẫn nước đến các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh, để phục vụ tốt hơn cho người dân, doanh nghiệp, cơ quan xí nghiệp được hoạt động liên tục. Sản lượng sản xuất nước sạch sinh hoạt 6 tháng năm 2019 được 5.527,55 ngàn M3 tăng 10,92% so với cùng kỳ năm trước

  1. 6. Thương mại, dịch vụ

6.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Trong tháng 5, lượng hàng hóa được tiêu thụ giảm đáng kể so với tháng trước, tình hình dịch bệnh trên heo tiếp tục diễn biến phức tạp, thời tiết bất lợi ảnh hưởng trực tiếp đến kinh doanh mua bán của người dân. Ngành lưu trú, ăn uống và các ngành dịch vụ khác cũng có cùng xu hướng giảm, nhất là đối với nhóm dịch vụ vui chơi, giải trí và một số nhóm dịch vụ khác, do chi phí sinh hoạt trong tháng tăng cao, dịch bệnh trong thời gian qua, cùng với nắng nóng đã gây khó khăn cho trồng trọt, chăn nuôi, sản lượng hàng hóa cung cấp ra thị trường giảm ảnh hưởng đến thu nhập nên người dân hạn chế tiêu dùng. Vì vậy, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch trong tháng giảm hơn so với tháng trước.

Thực hiện tháng 5, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.040,246 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 93,03% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,58%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.260,903 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 93.33% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,58%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 267,508 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 84,27% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,53%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 511,835 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 96,90% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,07%.

Ước thực hiện tháng 6, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.051,392 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 100,37% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,93%. Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.227,510 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 98,52% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,84%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 295,520 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 110,47% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,31%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 528,362 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 103,23% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,07%.

Bước qua tháng 6, do tình hình dịch bệnh chưa được khống chế và có chiều hướng lây lan trên diện rộng nên sản lượng thịt heo cung cấp cho thị trường giảm, người dân e ngại nên chuyển đổi sang các loại thực phẩm khác như: Thủy hải sản, thịt gà, thịt vịt, rau xanh và các loại hoa quả khác. Nguồn cung hàng thực phẩm trên thị trường trong tháng cũng sẽ giảm do điều kiện thời tiết bất lợi trong thu hoạch mùa vụ và trong chăn nuôi đã làm cho thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh tiếp tục giảm so với tháng trước.

Ngược lại, các ngành dịch vụ lại có xu hướng tăng hơn so với tháng trước là do đây là tháng bước vào mùa hè, là dịp để tăng doanh thu các ngành vui chơi, giải trí và một số dịch vụ khác. Ngoài ra, vào cuối tháng 6 diễn ra kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2019 nên các ngành dịch vụ có liên quan sẽ tăng, nhất là ngành lưu trú, ăn uống.

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 19.440,716 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,95%, so với kế hoạch đạt 52,39%. Cụ thể: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 14.502,651 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,58%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 1.739,660 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 111,10%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 3.198,405 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 109,50%.

Dự tính trong 6 tháng đầu năm, tốc độ tăng trưởng ngành thương mại trên địa bàn tỉnh khá tốt, do ảnh hưởng của giá cả của một số hàng hóa trong những tháng đầu năm đến nay luôn nằm ở mức tăng như: Xăng, dầu, gas, vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu… Lượng hàng hóa phục vụ cho các ngày Tết, ngày lễ trong những tháng đầu năm là rất lớn. Ngoài ra, giá điện bắt đầu tăng trong tháng 3 là một gánh nặng trong sản xuất kinh doanh làm tăng chi phí tiêu dùng của người dân. Hiện nay, thương mại trên địa bàn tỉnh chủ yếu tăng loại hình kinh tế tư nhân (tăng 14,64%) đó là điều phù hợp với xu hướng kinh doanh trong tình hình hội nhập.

Đối với các ngành dịch vụ, ước tính trong 6 tháng đầu năm tốc độ tăng tương đối ổn định. Trong đó, doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 11,10%, lưu trú, ăn uống tăng 9,50%. Trong những tháng đầu năm diễn ra nhiều sự kiện nổi bậc thường niên như: Tết nguyên đán, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, Tết cổ truyền của đồng bào dân tộc Khmer,…. Đặt biệt, để chào mừng kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh, Hậu Giang đã đăng cai tổ chức giải Marathon Quốc tế “Mekong Delta Marathon” thu hút hơn 4.000 vận động viên tham gia đã góp phần không nhỏ làm cho doanh thu các ngành dịch vụ tăng. Ngoài ra, các hình thức vui chơi giải trí ngày càng được chú ý phát triển theo hướng mô hình du lịch vườn sinh thái đang nở rộ tại một số địa phương có vườn trái cây như: Châu Thành A, Châu Thành, Ngã Bảy cũng góp phần làm tăng doanh thu dịch vụ ăn uống, vui chơi, giải trí,…

Nhìn chung, tình hình thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm đã đạt 52,39% kế hoạch đề ra, trong những tháng cuối năm sẽ gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của bệnh dịch trên heo và giá cả hàng nông sản, chủ yếu là lúa, gạo rất bấp bênh. Vì vậy, để thực hiện tốt kế hoạch đã đề ra trong năm 2019 các cấp, các ngành cần có giải pháp khắc phục những khó khăn trên.

6.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện tháng 5 được 71,715 triệu USD, so với tháng trước bằng 102,85% và so với cùng kỳ năm trước bằng 94,70%. Chia ra: Xuất khẩu được 41,844 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 103,65% và so với cùng kỳ năm trước bằng 70,80%. Nhập khẩu được 29,871 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 101,75% và so với cùng kỳ năm trước bằng 179,64%.

Nguyên nhân giá trị xuất khẩu hàng hóa trực tiếp tăng so với tháng trước là do giá trị xuất khẩu mặt hàng tôm chế biến các loại của các doanh nghiệp chế biến thủy sản trên địa bàn tăng. Các doanh nghiệp xuất khẩu của các nhóm hàng khác còn lại vẫn có giá trị ổn định không có tăng giảm đột biến. Vì vậy, giá trị xuất khẩu tăng.

Ước thực hiện tháng 6, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 72,287 triệu USD, so với tháng trước bằng 100,80% và so với cùng kỳ năm trước bằng 82,61%. Chia ra: Xuất khẩu ước thực hiện được 45,490 triệu USD so với tháng trước bằng 108,71% và so với cùng kỳ năm trước bằng 75,86%. Nhập khẩu ước thực hiện được 26,797 triệu USD so với tháng trước bằng 89,71% và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,30%.

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 417,564 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 85,06% và so với kế hoạch năm đạt 40,15%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 240,260 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 75,39% và so với kế hoạch năm đạt 32,96%. Nguyên nhân giảm nhiều so với cùng kỳ là do trong những tháng đầu năm giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp thủy sản trên địa bàn giảm, đặc biệt là doanh nghiệp Minh Phú chiếm khoảng 40% tổng giá trị xuất khẩu chung có giá trị xuất đi chỉ bằng khoảng 60% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm chủ yếu của doanh nghiệp này là do thiếu nguồn nguyên liệu để sản xuất nên hoạt động của các nhà máy bị giảm, công suất không thể đạt được tối đa như kỳ vọng. Mặt khác, doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc xuất khẩu sang thị trường các nước và chưa thật sự tìm được các thị trường tiềm năng mới để thay thế các thị trường xuất khẩu bị sụt giảm, một số thị trường xuất khẩu lớn trong năm 2018 có giá trị sụt giảm trong năm 2019 điển hình là thị trường Mỹ (giảm hơn 90% so với cùng kỳ), các nước EU (giảm khoảng 10%), thị trường Nhật (giảm 38,35%)…. và còn một số thị trường nhỏ khác.

Bên cạnh đó, sự sụt giảm giá trị xuất khẩu của nhà máy sản xuất giấy trên địa bàn huyện Châu Thành cũng góp phần làm giảm đáng kể giá trị xuất khẩu chung trong 6 tháng đầu năm. Giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp này chỉ bằng khoảng 50% so với cùng kỳ năm 2018. Các doanh nghiệp xuất khẩu khác còn lại trên địa bàn vẫn có giá trị xuất khẩu ổn định, không có doanh nghiệp nào có giá trị tăng đột biến để đủ bù đắp giá trị đã sụt giảm của các doanh nghiệp trên. Vì vậy, giá trị xuất hàng hóa trực tiếp giảm mạnh so với cùng kỳ.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 148,183 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 104,59% và so với kế hoạch năm đạt 59,27%. Giá trị nhập khẩu trong 6 tháng đầu năm có mức tăng nhẹ so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp có giá trị nhập lớn vẫn có giá trị nhập khẩu ổn định, riêng chỉ có doanh nghiệp minh phú giảm mạnh do ảnh hưởng có tình hình xuất khẩu nên doanh nghiệp hạn chế nhập khẩu nguyên liệu để chế biến. Nhóm hàng có giá trị nhập khẩu lớn chủ yếu là xăng dầu các loại và giấy phế phẩm của các doanh nghiệp nằm trong khu công nghiệp trên địa bàn huyện Châu Thành nhập để phục vụ sản xuất.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 0,688 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 190,06% và so với kế hoạch năm đạt 68,80%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 28,433 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 94,26% và so với kế hoạch năm đạt 47,39%.

Hiện nay, tình hình xuất khẩu trên địa bàn trong 6 tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là nhóm hàng thủy sản. Các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường mặt khác lại phải chịu áp lực từ những rào cản thương mại do các nước nhập khẩu dựng lên, trong đó đáng chú ý nhất là thị trường Mỹ, các nước EU và một số thị trường khác đã có sản lượng nhập khẩu từ các doanh nghiệp Việt Nam giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước.

Vì vậy, để giá trị xuất khẩu có thể tăng trưởng trở lại trong 6 tháng cuối năm và đạt được mục tiêu đề ra. Các doanh nghiệp cần tranh thủ sự hỗ trợ của các ngành chức năng hữu quan để tháo gỡ những khó khăn đang phải đối mặt, đồng thời tận dụng triệt để cơ hội từ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mang lại để tìm kiếm các thị trường xuất khẩu tiềm năng mới thay thế dần các thị trường truyền thống, loại bỏ tránh phụ thuộc vào một thị trường nhất định nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh, từng bước nâng cao giá trị xuất khẩu một cách ổn định, bền vững.

6.3. Tình hình giao thông vận tải

Tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện trong tháng 5 được 89,515 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 105,55%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 49,169 tỷ đồng bằng 105,88% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 40,346 tỷ đồng bằng 105,16% so với cùng kỳ năm trước.

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi trên địa bàn được 532,028 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 95,27%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 291,268 tỷ đồng bằng 97,13% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 240,760 tỷ đồng bằng 93,12% so với cùng kỳ năm trước.

Nguyên nhân 6 tháng giảm so với cùng kỳ là do hiện nay nhiều cơ sở hoạt động vận tải trên địa bàn giảm quy mô hoạt động, nhiều cơ sở đã bán phương tiện do kinh doanh không hiệu quả, không còn thực hiện vận chuyển, luân chuyển hàng hóa, hành khách và dần chuyển sang hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực khác, chỉ có một số ít những cơ sở hoạt động lâu năm mở rộng được quy mô nên cũng đã phần nào hạn chế được mức sụt giảm so với cùng kỳ. Bên cạnh đó, hiện nay một số doanh nghiệp hoạt động vận tải trên địa bàn không chịu nỗi sự cạnh tranh nên một số đã xin giải thể, thực hiện thủ tục đóng mã số thuế, một số khác chuyển hoạt động kinh doanh. Mặc dù, một số doanh nghiệp có mức tăng trưởng cao đặc biệt là nhóm ngành dịch vụ, kho bãi và chuyển phát nhưng cũng không đủ để bù đắp được giá trị sụt giảm trước đó do nhóm ngành này chỉ chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng doanh thu ngành vận tải. Vì vậy, đã làm giảm đáng kể giá trị doanh thu vận tải so với cùng kỳ năm trước.

Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Thực hiện tháng 5, hàng hoá vận chuyển được 620.819 tấn (39.219.326 Tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 105,63% (114,50%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,09% (112,22%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 135.352 tấn (6.628.754 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 105,09% (102,43%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 95,37% (98,04%). Đường sông thực hiện được 458.467 tấn (32.590.572 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 105,78% (117,32%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,46% (115,62%).

Ước thực hiện tháng 6, toàn tỉnh vận chuyển được 611.596 tấn hàng hóa các loại (41.251.808 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 98,51% (105,18%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,30% (123,73%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 136.389 tấn (6.704.827 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 100,77% (101,15%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,70% (100,77%). Đường sông thực hiện được 475.207 tấn (34.546.981 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 97,89% (106,00%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,03% (129,46%).

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh vận chuyển được 3.598.698 tấn hàng hóa các loại (214.109.300 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 96,24% (102,93%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 820.973 tấn (41.055.737 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 89,08% (92,81%). Đường sông vận chuyển được 2.777.725 tấn (173.053.563 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 98,58% (105,66%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Thực hiện tháng 5, toàn tỉnh được 9.190.842 lượt hành khách (49.000.727 HK.Km), so với thực hiện tháng trước bằng 101,68% (102,82%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,06% (93,40%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.151.069 lượt hành khách (36.552.625 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 102,02% (105,82%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 90,96% (91,79%). Đường sông vận chuyển được 2.039.773 lượt hành khách (12.448.102 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,51% (94,92%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,17% (98,49%).

Ước thực hiện tháng 6, toàn tỉnh thực hiện được 9.476.427 lượt hành khách (49.674.806 HK.km), so với tháng trước bằng 103,11% (101,38%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 95,96% (93,26%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.479.685 lượt hành khách (37.460.234 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 104,60% (102,48%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,34% (96,41%). Đường sông vận chuyển được 1.996.742 lượt hành khách (12.214.572 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 97,89% (98,12%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 91,09% (84,76%).

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh vận chuyển được 57.006.793 lượt hành khách (302.377.458 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 92,51% (91,98%). Cụ thể: Đường bộ vận chuyển được 43.970.120 lượt hành khách (221.299.217 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 91,62% (89,75%). Đường sông vận chuyển được 13.036.673 lượt hành khách (81.078.241 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 95,64% (98,65%).

  1. Các vấn đề văn hóa, xã hội

7.1. Văn hóa

Trong tháng 6, toàn ngành văn hóa thể thao và du lịch, thực hiện được 1.860m2 panô các loại, 90 băng rol, treo và tháo gỡ hơn 3.700 cờ các loại, 90 lượt phóng thanh cổ động, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành. Trang trí cổ động trực quan tuyên truyền phục vụ đại hội Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Hậu Giang năm 2019; hội thi nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh Hậu Giang năm 2019. Tổ chức hội thi nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ tỉnh Hậu Giang năm 2019 và lễ vinh danh cho 10 nghệ nhân ưu tú tỉnh Hậu Giang năm 2019. Kết quả: Thị xã Long Mỹ đạt giải nhất; huyện Châu Thành A đạt giải nhì; thị xã Ngã Bảy và huyện Vị Thủy đạt giải ba; thành phố Vị Thanh, huyện Châu Thành và huyện Phụng Hiệp đạt giải khuyến khích. Ngoài ra, ban tổ chức còn trao 12 giải tiết mục và cá nhân xuất sắc trong hội thi. Xây dựng và tập dợt chương trình tham gia hội thi tìm hiểu về chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam tại thành phố Cần Thơ (từ ngày 18 - 22/6/2019).

Trong tháng, đoàn ca múa nhạc dân tộc xây dựng và biểu diễn 05 suất diễn phục vụ trên 3.000 lượt người xem, phục vụ nông thôn và các sở, ban ngành trong tỉnh như: Chương trình kỷ niệm 129 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2019); hỗ trợ hội văn học nghệ thuật tỉnh Hậu Giang tham gia liên hoan âm nhạc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long năm 2019 tại Cà Mau... Đội chiếu phim lưu động tổ chức chiếu phim tuyên truyền kỷ niệm 108 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911-5/6/2019); tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình; ngày Gia đình Việt Nam 28/6.

Thực hiện 02 video clip: Kết quả nổi bật trong công tác gia đình trên địa bàn tỉnh Hậu Giang; điển hình trong xây dựng gia đình, cộng đồng hạnh phúc. Phục vụ tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình và ngày Gia đình Việt Nam28/6/2019.

Trưng bày sách tại chỗ 4 lần trên 155 quyển, bao gồm: Sách chuyên đề “Chăm sóc và nuôi dạy trẻ” nhân ngày Quốc tế thiếu nhi 1/6; sách kỷ niệm ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam 21/6; sách chuyên đề “Gia đình Việt Nam”; sách mới các lĩnh vực kinh tế, văn hóa - xã hội, pháp luật...; trưng bày thường xuyên sách chuyên đề “Cải cách hành chính”. Hệ thống thư viện tỉnh và huyện đã phục vụ 53.719 lượt người với 95.557 lượt sách báo, truy cập máy tính; cấp 607 thẻ bạn đọc.

7.2. Giải quyết việc làm

Trong nền kinh tế thị trường, tốc độ phát triển kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó lao động – việc làm được xem là một trong các yếu tố quyết định chính và trực tiếp nhất. Lao động dồi dào và có tay nghề cao, trẻ tuổi... thường thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có việc làm tốt, ổn định và có thu nhập. Tỉnh Hậu Giang là một tỉnh nông nghiệp, nguồn lao động trẻ, dồi dào nhưng chưa được đào tạo đúng mức, tay nghề thấp chiếm tỷ lệ lớn nên chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội, người lao động gặp không ít khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi vẫn còn tương đối cao (Nguồn niên giám Thống kê tỉnh Hậu Giang năm 2018 là 2,71%).

Vì vậy, giải quyết việc làm là một trong những vấn đề bức xúc của tỉnh nói riêng cũng như của cả nước nói chung. Thời gian qua, Tỉnh uỷ, Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang đã ban hành các chủ trương, chính sách cụ thể, thiết thực, phù hợp nhằm khuyến khích, kêu gọi sự đầu tư của doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, kể cả doanh nghiệp nước ngoài xây dựng các cơ sở mới, quy mô hiện đại hơn, việc quy hoạch các khu, cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp được tỉnh rất chú trọng, đến nay các khu, cụm công nghiệp như: Khu công nghiệp tập trung Nam sông Hậu (huyện Châu Thành), cụm công nghiệp tập trung Tân Phú Thạnh (huyện Châu Thành A), cụm công nghiệp tập trung Vị Thanh (thành phố Vị Thanh), các khu, cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ở các huyện thị đã và đang tiếp tục được xây dựng. Do đó, phần nào giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động trong thời gian qua, đồng thời làm tăng thu nhập ổn định cuộc sống của người dân.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trưởng, chính sách giải quyết việc làm cho người lao động, ngành Lao động thương binh và xã hội phối hợp với các ngành có liên quan, thông qua các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tư vấn giới thiệu việc làm, tạo việc làm trong và ngoài tỉnh. Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2019 như sau:

- Giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho khoảng 10.996 lao động, đạt 73,3% kế hoạch năm. Trong đó, đã đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 52 lao động, đạt 57,8% kế hoạch năm.

- Đào tạo nghề cho khoảng 3.900 lao động, đạt 60% kế hoạch năm. Trong đó: đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1.905 lao động, đào tạo nghề thường xuyên, từ các chương trình, dự án khác 1.995 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 49,99%.

- Tư vấn việc làm cho 9.350 lao động; có 1.678 lao động đăng ký tìm việc làm; giới thiệu việc làm cho 1.001 lao động.

- Tổ chức 04 cuộc giao dịch việc làm tại thành phố Vị Thanh, thị xã Ngã Bảy, huyện Phụng Hiệp và huyện Long Mỹ. Kết quả, có 25 lượt doanh nghiệp tham gia tuyển dụng lao động, 765 lao động được tư vấn việc làm, 80 lao động đăng ký việc làm. Tham dự Hội chợ việc làm tại trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long. Qua đó, đã tư vấn việc làm cho hơn 300 sinh viên của Trường.

Về công tác hỗ trợ tuyển dụng lao động cho doanh nghiệp: Tổ chức “Hội nghị triển khai Kế hoạch hỗ trợ tuyển dụng và đào tạo lao động cho doanh nghiệp năm 2019” với hơn 150 đại biểu tham dự. Qua Hội nghị, sở Lao động Thương binh và Xã hội đã ký thỏa thuận hỗ trợ tuyển dụng, đào tạo lao động đối với 10 doanh nghiệp với nhu cầu tuyển dụng 6.712 lao động, đào tạo nghề 1.930 lao động. Bằng nhiều hình thức hỗ trợ tuyển dụng, đến nay đã hỗ trợ tuyển dụng được 1.822 lao động. Thỏa thuận và ký kết hợp đồng hỗ trợ tuyển dụng lao động với 433 doanh nghiệp, với số lao động đề nghị cung ứng là 6.081 lao động. Đó dà dấu hiệu đáng mừng cho người lao động chưa có việc làm.

7.3. An sinh xã hội

Công tác giảm nghèo

Triển khai thực hiện kịp thời các chính sách, chương trình giảm nghèo với tổng số tiền 184,926 tỷ đồng. Cụ thể:

Chi nhánh ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Hậu Giang đã phối hợp với các đơn vị có liên quan đã triển khai cung cấp tín dụng ưu đãi cho 3.337 hộ nghèo, hộ cận nghèo, với số tiền cho vay 113,951 tỷ đồng. Trong 6 tháng đầu năm, có 153.265 người nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội khó khăn và người sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được cấp thẻ Bảo hiểm y tế (BHYT), với kinh phí thực hiện 57,939 tỷ đồng; hỗ trợ tiền điện cho 11.641 hộ nghèo về thu nhập, kinh phí thực hiện trên 3,42 tỷ đồng; hỗ trợ cho 19.228 hộ nghèo có điều kiện ăn tết, tổng kinh phí hỗ trợ trên 9,61 tỷ đồng. Ngoài ra, toàn tỉnh còn có 4.324 hộ nghèo đăng ký thoát nghèo năm 2019.

Bằng nhiều biện pháp hỗ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất như: Hỗ trợ vốn và các chương trình lồng ghép khác của dự án xóa đói giảm nghèo và sự nỗ lực vươn lên từ các hộ nghèo, đến nay số hộ nghèo đã giảm đáng kể. Tổng hợp sơ bộ kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2018 theo chuẩn tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, toàn tỉnh có 14.695 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 7,28%, giảm 2,35%, hộ cận nghèo là 10.098 hộ chiếm tỷ lệ 5% giảm 0,94% so với năm 2017. Kết quả này, là cơ sở để nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách hỗ trợ giảm nghèo bền vững. Đồng thời, xúc tiến xây dựng kế hoạch về các dự án, chính sách giảm nghèo giai đoạn 2016-2020.

Bảo trợ xã hội

Đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức họp mặt, thăm, tặng quà và trợ cấp thường xuyên cho 176.982 lượt đối tượng với số tiền 66,1 tỷ đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 724 trường hợp với số tiền hơn 3,9 tỷ đồng; hỗ trợ đột xuất cho 34 trường hợp với số tiền 361,8 triệu đồng; cấp mới 23.019 thẻ BHYT cho đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 8,6 tỷ đồng.

- Tổ chức Tọa đàm “Công tác xã hội Việt Nam - đổi mới, hội nhập và phát triển” với 109 đại biểu tham dự. Tại buổi tọa đàm, ban tổ chức đã trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 05 tập thể và 02 cá nhân có đóng góp tích cực trong hoạt động xã hội – từ thiện trên địa bàn tỉnh.

Tổ chức các hoạt động chăm lo cho người khuyết tật trên địa bàn tỉnh nhân ngày người khuyết tật Việt Nam (18/4). Đặc biệt là tổ chức hội nghị biểu dương người khuyết tật tiêu biểu tỉnh Hậu Giang năm 2019, tại Hội nghị biểu dương, Ban Tổ chức đã trao 30 Bằng khen của UBND tỉnh và 100 phần quà cho người khuyết tật tiêu biểu của tỉnh với tổng số tiền 90 triệu đồng.

- Trung tâm Công tác xã hội tỉnh: tiếp nhận mới 26 học viên, ngừng nuôi dưỡng 14 học viên, tổng số học viên đang quản lý tại trung tâm là 200 học viên. Bên cạnh việc chăm sóc, nuôi dưỡng các học viên được trung tâm đảm bảo thực hiện tốt, đơn vị còn tổ chức cho 09 học viên đan các sản phẩm bằng dây nhựa, duy trì dạy văn hóa cho 09 học viên, tuyên truyền các quy định của pháp luật về trợ giúp người khuyết tật thần kinh, tâm thần cho 73 hộ gia đình.

- Hội Bảo trợ Người khuyết tật – Trẻ mồ côi – Bệnh nhân nghèo: tiếp nhận tài trợ từ Hội Assorv (Pháp) và các nhà hảo tâm số tiền 936 triệu đồng để chăm sóc, nuôi dưỡng 68 trẻ em mồ côi tại hai nhà trẻ mồ côi Hoa Mai Vị Thanh và Hoa Mai Châu Thành A.

- Hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin: các cấp hội đã vận được số tiền gần 1,2 tỷ đồng để chăm lo cho các hội viên nhân dịp Tết.

- Ban đại diện Hội người cao tuổi: hiện tại có 71.383 hội viên, trong quý đã vận động các nhà hảo tâm được 3 tỷ đồng để chăm lo cho các hội viên.

- Hội người mù tỉnh: hiện tại có 1.651 hội viên, trong quý đã vận động được gần 1,2 tỷ đồng để hỗ trợ cho các hội viên nhân dịp Tết.

Tóm lại, bằng nhiều biện pháp hỗ trợ cho người có hoàn cảnh khó khăn của các cấp, các ngành phần nào đã giúp họ giảm bớt gánh nặng lo âu cuộc sống hàng ngày.

Thực hiện chính sách đối với người có công

Trong 6 tháng đầu năm, công tác thực hiện chính sách người có công luôn được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo sâu sát, uốn nắn kịp thời, nhất là việc triển khai tổ chức thực hiện các quy định mới về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, công tác rà soát thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công. Kết quả thực hiện cụ thể như sau:

Tỉnh đã tổ chức 8 đoàn đi thăm, chúc tết và tặng 1.880 phần quà cho các gia đình chính sách, người có công tiêu biểu với số tiền 940 triệu đồng. Sở Lao động – Thương binh & Xã hội phối hợp với các ngành, đoàn thể thành lập đoàn đến thăm và tặng 363 phần quà cho các thương bệnh binh, người có công với cách mạng đang nằm điều trị tại các bệnh viện, trung tâm Y tế trong tỉnh với số tiền 181,5 triệu đồng.

- Tiếp nhận mới 1.058 hồ sơ các loại. Đã xét giải quyết 931 hồ sơ. Trong đó, đạt 728 hồ sơ; không đạt 203 hồ sơ. Còn lại 127 hồ sơ đang tiếp tục xem xét, giải quyết.

- Tổ chức thực hiện việc lấy 2.762 mẫu sinh phẩm hài cốt liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Hậu Giang. Tham mưu UBND tỉnh đề nghị Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội trình Thủ tướng Chính phủ cấp mới bằng Tổ quốc ghi công cho 06 trường hợp thân nhân liệt sĩ đã được giải quyết chế độ ưu đãi trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 nhưng chưa được cấp Bằng Tổ quốc ghi công.

- Tổ chức đưa, đón 35 người có công với cách mạng đi tham quan thủ đô Hà Nội, viếng lăng Bác và gặp mặt các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; 98 người có công đi tham quan, điều dưỡng tập trung tại huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Những đóng góp, hỗ trợ tuy không nhiều nhưng đã thể hiện được sự quan tâm của các cấp, các ngành đối với người có công, nhằm xoa dịu nỗi đau, khích lệ tinh thần và ổn định cuộc sống.

7.4. Tình hình thực hiện an toàn giao thông, an toàn cháy nổ, thiên tai

Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 6, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông, làm chết 06 người và làm bị thương 02 người. So với tháng trước giảm 03 vụ, số người chết giảm 03 người và tương đương về số người bị thương, đều tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước số vụ giảm 05 vụ, số người chết giảm 05 người và số người bị thương giảm 02 người, cũng tập trung ở đường bộ.

Trong 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 48 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 47 vụ, đường thủy 01 vụ), làm chết tổng cộng 44 người (đường bộ chết 43 người, đường thủy chết 01 người) và làm bị thương 12 người, tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước giảm 15 vụ (đường bộ giảm 14 vụ, đường thủy giảm 01 vụ), tập trung ở đường bộ, số người chết giảm 11 người (đường bộ giảm 10 người, đường thủy tăng 01 người) và số người bị thương giảm 16 người, tập trung ở đường bộ.

Tình hình thực hiện an toàn cháy nổ

Trong 6 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ cháy. Làm  thiệt hại tài sản khoản 780 triệu đồng không có thiệt hại về người. Nguyên nhân do thời tiết nắng nóng vào đầu năm dẫn đến khô hạn dễ sảy ra cháy nổ đặt biệt là ở những khu dân cư và ở chợ vì vậy cần tăng cường phòng chống cháy nổ.

Tình hình thiên tai

Từ đầu năm đến nay sạt lở sảy ra ở 24 điểm với chiều dài sạt lở là 564,7 m; diện tích mất đất bờ kênh là 2.888,70 m2, ước thiệt hại khoản 1,37 tỷ đồng.

Trong quý I không có tình hình giông lốc xảy ra trên địa bàn tỉnh; trong quý II, xảy ra 04 đợt dông lốc làm 06 căn nhà bị sập và 09 căn nhà bị tốc mái, ước giá trị thiệt hại khoảng 235 triệu đồng .

Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo các địa phương hỗ trợ kịp thời, đồng thời đã chỉ đạo các bộ phận chuyên môn theo dõi thời tiết bất thường để khuyến cáo người dân khi có thiên tai xuất hiện.

  1. Đề xuất một số giải pháp

- Tập trung cải cách hành chính, nâng cao chất lượng các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp

Tiếp tục đơn giản hóa, giảm thủ tục hành chính, cải thiện chỉ số cải cách hành chính (PARINDEX), chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), chỉ số hài lòng của người dân (SIPAS); tập trung giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo; tổ chức tốt công tác đối.

Tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp, rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục hành chính.

Tăng cường sự công khai, minh mạch trong giải quyết các công việc cho các nhà đầu tư và nâng cao trách nhiệm người đứng đầu các sở, ngành về thực hiện nhiệm vụ của đơn vị trong thực hiện các thủ tục hành chính cho doanh nghiệp.

- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế

Nhân rộng các mô hình, dự án khoa học - công nghệ có giá trị thực tiễn vào lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và xã hội nhân văn. Nghiên cứu ban hành cơ chế hỗ trợ ý tưởng khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.

Rà soát bổ sung những giải pháp thực hiện các chương trình, đề án lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, đầu tư công, kế hoạch khởi nghiệp, hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế hợp tác, cổ phần hóa các đơn vị sự nghiệp công lập.

Tập trung tái cơ cấu nông nghiệp theo chiều sâu, có vùng nguyên liệu đủ lớn để liên kết theo chuỗi sản xuất - chế biến - tiêu thụ. Tiếp tục triển khai hiệu quả Đề án nâng cao chất lượng hoạt động của hợp tác xã; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn tỉnh; phát triển giống cây trồng, vật nuôi và thủy sản chất lượng cao; phát triển trạm bơm điện.

Đẩy mạnh tổ chức xúc tiến thương mại để nhiều sản phẩm chủ lực của tỉnh có thêm thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, chú trọng chỉ dẫn địa lý; chủ động xúc tiến đầu tư đi vào thực chất.

Nâng cao chất lượng tín dụng, tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng của doanh nghiệp và người dân; tiếp tục thực hiện hiệu quả cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng và xử lý nợ xấu, kiểm soát nợ xấu mới phát sinh, giữ tỷ lệ nợ xấu ở mức an toàn.

- Phát triển mạnh thủy sản, chăn nuôi, cây ăn trái gắn với xây dựng nông thôn mới

Tập trung chỉ đạo sản xuất vụ lúa hè thu và thu đông. Tăng cường kiểm tra, theo dõi sát tình hình, chủ động dự báo, hướng dẫn nông dân phòng trừ kịp thời, hiệu quả các dịch hại trên cây trồng,... để có chỉ đạo phòng trị kịp thời, hiệu quả. Đồng thời theo dõi, hỗ trợ dân trong việc tìm kiếm thị trường, liên kết tiêu thụ sản phẩm nông, thủy sản.

Đẩy mạnh sản xuất rau màu, cây ăn quả nhất là các cây trồng có lợi thế cạnh tranh cao, sản xuất theo chuỗi giá trị và theo hướng nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch có thị trường tiêu thụ tốt để tăng giá trị sản phẩm nông nghiệp.

Tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương và nông dân tiếp tục đầu tư phát triển thủy sản, nhất là các đối tượng thủy sản tiềm năng, các loài thủy đặc sản có lợi thế cạnh tranh cao.

           Tiếp tục phát triển đàn gia súc, gia cầm theo hướng chăn nuôi tập trung, nông hộ, tăng cường công tác giám sát, phòng trừ dịch bệnh.

Tăng cường công tác phòng, chống thiên tai trong mùa mưa bão năm 2019 nhằm hạn chế rủi ro, thiệt hại đến mức thấp nhất cho Nhân dân trên địa bàn tỉnh.

- Phát triển công nghiệp - xây dựng

Chủ động xúc tiến, kêu gọi đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp và các dự án ưu tiên đầu tư của tỉnh, đặc biệt thu hút đầu tư mới phải trên nguyên tắc có công nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường, giải quyết nhu cầu việc làm và tăng thu cho ngân sách.

Đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả Kế hoạch khuyến công quốc gia và khuyến công tỉnh năm 2019, để hỗ trợ cho các cơ sở công nghiệp nông thôn trên địa bàn tỉnh thiết thực, hiệu quả hơn. Sớm ban hành giá thuê đất cụ thể từng cụm công nghiệp tập trung nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong công tác thu hút đầu tư; đồng thời ban hành quy trình giải phóng mặt bằng, trong đó phân rõ trách nhiệm cụ thể từng cơ quan, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, sớm giao đất cho nhà đầu tư triển khai thực hiện dự án.

Theo dõi, quản lý và đôn đốc triển khai tốt kế hoạch đầu tư lưới điện trên địa bàn tỉnh, nhằm kịp thời đáp ứng nhu cầu sử dụng điện của người dân. Khuyến khích phát triển, sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo.

Thúc đẩy đổi mới công nghệ, cải tiến quy trình sản xuất, chủ động tham gia và tận dụng thành quả của cuộc cách mạng công nghệ lần thứ 4 để nâng cao năng suất lao động, phát triển các ngành công nghiệp của tỉnh.

Tiếp tục kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn các địa phương giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư vượt lũ; tăng cường kiểm tra chất lượng công trình xây dựng, kiểm tra trật tự xây dựng.

- Phát triển dịch vụ và đẩy mạnh xuất khẩu

Tăng cường tuyên truyền, phổ biến thông tin về hội nhập quốc tế, nhất là các cam kết theo các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Chú trọng công tác hỗ trợ doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Cung cấp đến doanh nghiệp những nội dung về rào cản kỹ thuật, rào cản thương mại của các nước đối với hàng hóa xuất khẩu. Kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, nhất là hàng thuỷ sản và nông sản. 

Theo dõi diễn biến giá cả thị trường và công tác bình ổn thị trường. Tăng cường công tác quản lý thị trường, kịp thời phát hiện những trường hợp đầu cơ, gây mất cân bằng cung cầu, xử lý nghiêm những trường hợp kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng; quản lý giá bán theo giá niêm yết, xử lý các vi phạm về giá.

Thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ như: thương mại, ăn uống, nhà hàng, khách sạn, vận tải,...

- Quản lý, sử dụng tài chính có hiệu quả, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng

Tăng cường quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực NSNN gắn với huy động tối đa các nguồn lực ngoài nhà nước để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương.

 Quản lý chặt chẽ chi ngân sách địa phương, thực hiện tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên, chi cho bộ máy quản lý Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công, kiểm soát chặt chẽ các khoản chi ngân sách theo đúng dự toán phân bổ đã được phê duyệt, không bổ sung các đề án, chương trình, ban hành các chính sách mới hoặc nâng định mức làm tăng chi ngân sách Nhà nước khi chưa xác định được nguồn đảm bảo. Hạn chế tối đa việc đề xuất ứng trước dự toán.

Tăng cường công tác huy động vốn, khai thác có hiệu quả các nguồn vốn nhàn rỗi trong dân. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn tập trung nguồn vốn, tích cực ưu tiên nguồn vốn hỗ trợ thực hiện các chương trình, đề án trọng điểm của tỉnh. Duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng, phù hợp với nhu cầu phát triển của địa phương, đồng thời triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh mới, đảm bảo nợ xấu ở mức an toàn./.