Tháng 7
09:52 24/07/2019

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 6, ước tháng 7 và 7 tháng năm 2019

 

1.Tài chính - Tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 7 được 679,975 tỷ đồng, lũy kế được 6.273,056 tỷ đồng, đạt 89,50% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 359 tỷ đồng, lũy kế được 1.999,880 tỷ đồng, đạt 58,60% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi ngân sách địa phương tháng 7 được 617,290 tỷ đồng, lũy kế được 4.380,086 tỷ đồng, đạt 72,45% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi thường xuyên được 321,744 tỷ đồng, lũy kế được 2.252,206 tỷ đồng, đạt 57,65% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 30 tháng 6, huy động vốn trên địa bàn được 13.503 tỷ đồng, tăng trưởng 3,25% so với tháng trước, tương ứng tăng trưởng 11,67% so với cuối năm 2018. Vốn huy động đáp ứng được 59,84% cho hoạt động tín dụng. Ước đến ngày 31 tháng 7, huy động vốn trên địa bàn được 13.664 tỷ đồng, tăng trưởng 1,19% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 13% so với cuối năm 2018.

Cho vay trên địa bàn đến ngày 30 tháng 6, được 22.565 tỷ đồng, tăng trưởng 1,15% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 2,97% so với cuối năm 2018. Ước đến ngày 31 tháng 7, tổng dư nợ được 22.836 tỷ đồng, tăng trưởng 4,20% so với cuối năm 2018.

Nợ quá hạn đến ngày 30 tháng 6 là 804 tỷ đồng, chiếm 3,56% trên tổng dư nợ. Nợ xấu là 399 tỷ đồng, chiếm 1,77% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 31 tháng 7, nợ xấu toàn địa bàn vẫn ở mức an toàn.

2. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16 tháng 7, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2019 là 17.955,761 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.749,761 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.365 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.841 tỷ đồng.

Vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 6 là 1.671,737 tỷ đồng, bằng 97,67% so với tháng trước và bằng 105,29% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 182,505 tỷ đồng, bằng 103,97% so với tháng tr­ước và bằng 97,98% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 151,450 tỷ đồng, bằng 104,09% so với tháng tr­ước và bằng 136,47% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.337,782 tỷ đồng, bằng 96,20% so với tháng tr­ước và bằng 103,66% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính tháng 7, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện được 1.757,300 tỷ đồng, bằng 115,57% so với cùng kỳ năm trước và bằng 105,12% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư tăng so với tháng trước là do: Được sự quan tâm của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo giải quyết nhanh, kịp thời các khó khăn vướng mắc và đảm bảo đúng tiến độ, sớm đưa các công trình hoàn thành vào khai thác, sử dụng đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh; triển khai nhanh việc lập hồ sơ, thủ tục các dự án mới đã được bố trí vốn bổ sung.

Ước tính 7 tháng đầu năm, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 11.233,200 tỷ đồng, bằng 105,44% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 62,56% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.101,365 tỷ đồng, bằng 88,04% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 62,94% so với kế hoạch năm.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 903,443 tỷ đồng, bằng 119,73% so với cùng kỳ năm trước và đạt 66,19% so với kế hoạch năm.      

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 9.228,392 tỷ đồng, bằng 106,71% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 66,18% so với kế hoạch năm

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

3.1. Nông nghiệp

Hiện nay, lúa hè thu toàn tỉnh đã xuống giống dứt điểm được 78.081,6 ha, đạt 101,88% so với kế hoạch (kế hoạch của tỉnh là 76.640 ha), so với cùng kỳ năm trước tăng 1,31%. Hiện tại, diện tích lúa đã thu hoạch được 48.293 ha, năng suất thu hoạch ước được 58,24 tạ/ha. Sản lượng lúa toàn vụ ước được 454.747 tấn, giảm 1,88% so với cùng kỳ năm trước (bằng 8.705 tấn). Sản lượng lúa hè thu giảm là do thời tiết mưa nhiều lúa đổ ngã.

Tính đến thời điểm hiện nay, lúa thu đông toàn tỉnh đã xuống giống được 23.384 ha, đạt 63,20% so với kế hoạch (kế hoạch của tỉnh là 37.000 ha), lúa đang ở giai đoạn mạ đến đẻ nhánh.

Bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại trên lúa như: Sâu cuốn lá, nhện gié, chuột, bệnh cháy bìa lá, đạo ôn cổ bông và lem lép hạt... Ngành chức năng đang tích cực hướng dẫn bà con nông dân có biện pháp phòng trừ kịp thời và hiệu quả.

Mía niên vụ 2019, toàn tỉnh đã xuống giống được 8.357 ha, giảm 21,43% (bằng 2.268 ha) so với cùng kỳ. Diện tích mía giảm nhiều là do giá mía thấp, hộ trồng mía không có lãi. Vì vậy, nhiều hộ chuyển sang trồng cây hoa màu và cây lâu năm. Mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, huyện Long Mỹ, thành phố Vị Thanh và thị xã Ngã Bảy, các giống mía chủ yếu là giống ngắn ngày như: ROC16, K88-92, ROC22, R570, K95-289, ,…Mía hiện đang trong giai đoạn phát triển tốt.

Diện tích gieo trồng ngô toàn tỉnh đến nay được 1.947 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 2,87% (bằng 54 ha). năng suất thu hoạch được 54,88 tạ/ha, tăng 4,53% (bằng 2 tạ/ha) so với cùng kỳ.

Cây rau các loại, diện tích gieo trồng được 15.526 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 13,16% (bằng 1.806 ha).

Từ đầu năm đến nay, dịch bệnh trên gia cầm ít xảy ra trên địa bàn tỉnh nên số lượng gia cầm tăng lên so với cùng kỳ. Đàn gia cầm: Có 3.740,19 ngàn con, tăng 4,66% (bằng 166,62 ngàn con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn gia cầm tăng do giá thịt gia cầm ổn định, dịch bệnh ít, thị trường đầu ra tốt. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng ước 7 tháng đầu năm được 5.266 tấn, tăng 2,45% (bằng 126 tấn) so với cùng kỳ.

Ước tính trong tháng 7, đàn lợn (heo): Có 145.143 con (không tính heo con chưa tách mẹ) so với cùng kỳ năm trước giảm 3,85% (bằng 5.807 con). Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 7 tháng đầu năm ước được 14.556 tấn, giảm 0,38% (bằng 55 tấn) so với cùng kỳ.

Dịch bệnh trên gia súc có chiều hướng tăng rất nhanh nhất là dịch tả lợn Châu phi. Theo báo cáo của sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tính đến ngày 21/7/2019,  trên địa bàn tỉnh, số lượng heo chết và tiêu hủy tại 463 ổ dịch của 08 huyện/thị xã/thành phố với tổng số 12.417 con, sản lượng ước tính 814.755 kg. Cụ thể:

- Thành phố Vị Thanh có 60 ổ dịch với 1.548 con chết và tiêu hủy.

- Thị xã Ngã Bảy có 52 ổ dịch với 2.252 con chết và tiêu hủy.

- Thị xã Long Mỹ có 12 ổ dịch với 125 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Châu Thành có 148 ổ dịch với 3.070 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Châu Thành A có 60 ổ dịch với 1.446 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Phụng Hiệp có 72 ổ dịch với 2.109 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Vị Thủy có 57 ổ dịch với 1.359 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Long Mỹ có 12 ổ dịch với 472 con chết và tiêu hủy.

Ngành chức năng đã tiến hành tiêu hủy, tiêu độc khử trùng tại các điểm bị dịch bệnh, lập các chốt kiểm dịch động vật tại các điểm trên quốc lộ, các tuyến đường chính để kiểm soát việc vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn; hiện đang triển khai các biện pháp khẩn cấp khống chế dịch bệnh theo tinh thần Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT, Kế hoạch số 187/KH-UBND ngày 24/01/2019 của UBND tỉnh về hành động ứng phó khẩn cấp với bệnh dịch tả lợn Châu phi xâm nhiễm trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.

Tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh.

3.2. Thủy sản

Diện tích nuôi thủy sản 7 tháng, toàn tỉnh ước tính được 6.626 ha, tăng 11% so cùng kỳ năm trước (bằng 644 ha). Trong đó, cá nuôi được 6.488 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 11% (bằng 643 ha).

Tổng sản lượng thủy sản 7 tháng, toàn tỉnh ước được 38.212 tấn, tăng 2,75% (bằng 1.022 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá được 37.259 tấn, so với cùng kỳ tăng 2,77% (bằng 1.004 tấn).

Nhìn chung, trong 7 tháng đầu năm, ngành nông nghiệp đã thu hoạch xong lúa đông xuân, xuống giống dứt điểm lúa vụ hè thu và đang xuống giống vụ lúa thu đông. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát, phòng dịch trên gia súc, gia cầm, đặc biệt thực hiện tốt công tác phòng chống dịch tả lợn Châu phi xảy ra trên địa bàn tỉnh theo Chỉ thị số 47-CT/TU ngày 23/5/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hậu Giang về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống dịch bệnh gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh”.

4. Tình hình sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp thực hiện tháng 6, tính theo giá so sánh 2010, được 2.199,320 tỷ đồng, tăng 13,14% so với cùng kỳ năm trước.  Tính theo giá thực tế được 3.071,769 tỷ đồng, tăng 12,32% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do ngành chế biến thủy sản là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngành chế biến thực phẩm nhưng lại đang gặp một số khó khăn như: Việc kiểm soát nguồn nguyên liệu chưa thật sự tốt, dư lượng hóa chất, khiến cho các nhà máy chế biến không đủ khả năng kiểm soát đồng bộ quá trình sản xuất. Bên cạnh đó, vấn đề “thẻ vàng” IUU làm gia tăng khó khăn trong việc xuất khẩu hải sản vào thị trường EU. Với thị trường lớn nhất là Mỹ, các vấn đề về thuế chống bán phá giá mặt hàng tôm và cá tra, chương trình thanh tra cá da trơn và mới nhất là chương trình giám sát thủy sản nhập khẩu (SIMP) đang trở thành sức ép lớn cho hoạt động xuất khẩu thủy sản của Hậu Giang nên các doanh nghiệp chế biến thủy sản gập rất nhiều thách thức trong quá trình sản xuất, dẫn đến giảm sản lượng sản xuất do thiếu nguyên liệu sạch đạt tiêu chuẩn để xuất khẩu. Vì vậy, giá trị sản xuất của các doanh nghiệp chế biến thủy sản tăng không cao so với cùng kỳ.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 7, tính theo giá so sánh 2010, được 2.275,272 tỷ đồng, tăng 3,45% so với tháng trước và tăng 5,36% so với cùng kỳ năm trước.Tính theo giá thực tế, được 3.241,659 tỷ đồng, tăng 5,53% so với tháng trước và tăng 7,60% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 99,01% trong tổng giá trị toàn ngành và đa số các doanh nghiệp đang hoạt động trong ngành này đều phát triển bền vững trong thời gian vừa qua, là do các nhà máy chế biến chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh. Đặc biệt, tỉnh đang ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông- thuỷ sản có lợi thế cạnh tranh và sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, có khả năng xuất khẩu và giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội. Riêng, Công ty cổ phần dầu khí Bình Minh tạm ngưng hoạt động để đại tu, sửa chữa máy móc thiết bị, nên giá trị sản xuất của doanh nghiệp này giảm rất nhiều so với cùng kỳ. Vì vậy, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng nhưng không cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 7 tháng, tính theo giá so sánh 2010, được 14.806,012 tỷ đồng, tăng 8,36% so với cùng kỳ năm trước và đạt 52,74% so với kế hoạch năm.Tính theo giá thực tế, được 20.655,142 tỷ đồng, tăng 9,68% so với cùng kỳ năm trước và đạt 51,88% so với kế hoạch năm. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Lạc Tỷ II, nhận được nhiều đơn đặt hàng nhưng do không tuyển đủ số lượng lao động theo yêu cầu. Do đó, doanh nghiệp chủ động đầu tư nhập khẩu robót để hoàn thiện một số công đoạn của giày da và đầu tư xây dựng mới thêm một phân xưởng, hiện đã hoàn thành đưa vào hoạt động và Công ty TNHH Number One Hậu Giang mới đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định trong những tháng gần đây, nên làm tăng giá trị sản xuất của các ngành này nói riêng và góp phần làm tăng giá trị sản xuất của toàn tỉnh nói chung so với cùng kỳ năm trước.

Nhìn chung, 7 tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối đồng đều và ổn định. Tuy nhiên, dù đã có sự tăng trưởng, nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về giá, thị trường xuất khẩu và một số yếu tố khác như: Điện, xăng dầu đều tăng. Do vậy, để hoàn thành kế hoạch năm 2019, các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp đang đầu tư sớm đi vào hoạt động như: Công ty Sunpro Capital Group Limited (sản xuất thép); dự án đầu tư xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1… đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính tháng 7, chỉ số (IIP) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang tăng 3,96% so với tháng trước và tăng 10,91% so với cùng kỳ.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tăng 4% so với tháng trước và tăng 10,93% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp có giá trị sản xuất lớn, đầu tư robot thay thế cho một số công đoạn trong quá trình sản xuất nên làm tăng sản lượng sản xuất so với cùng kỳ. Trong đó:

- Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 8,52% so với tháng trước và giảm 0,69% so với cùng kỳ năm trước. Ngành chế biến thủy sản là ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngành chế biến thực phẩm nhưng lại đang gặp một số khó khăn như: Việc kiểm soát nguồn nguyên liệu chưa thật sự tốt, dư lượng hóa chất, khiến cho các nhà máy chế biến không đủ khả năng kiểm soát đồng bộ quá trình sản xuất.

- Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 2,76% so với tháng trước và tăng 55,97% so với cùng kỳ năm trước.

- Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 11,12% so với tháng trước và tăng 15,15% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do Công ty TNHH Giấy Lee & Man Việt Nam với sản phẩm chính là giấy cuộn và bìa giấy, sau thời gian hơn một năm đi vào hoạt động, doanh nghiệp đã chủ động được nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ ổn định nên tăng sản lượng sản xuất. Do đó, làm tăng chỉ số ngành này nói riêng và chỉ số của toàn tỉnh nói chung.

- Ngành sản xuất sản phâm bằng cao su và plastic tăng 3,30% so với tháng trước và tăng 39,55% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Tân Huy Hoàng sản xuất các sản phẩm gia dụng bằng plastic có thị trường tiêu thụ lớn và ổn định nên chỉ số sản xuất công nghiệp ngành này tăng đều so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất sản phẩm từ khoán phi kim loại khác tăng 3,05% so với tháng trước và tăng 13,22% cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng là do Công ty TNHH MTV bê tông HAMACO Hậu Giang với sản phẩm chính là cấu kiện xây dựng bằng bê tông và bê tông tươi; công ty CP khoán sản và xi măng Cần Thơ với sản phẩm chính là xi măng.Do đây là sản phẩm mới trên địa bàn tỉnh và có giá thành hết sức cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác trong khu vực. Vì vây, đến nay thị phần của doanh nghiệp này ngày càng mở rộng, sản lường tăng ổn định so với cùng kỳ.

Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: Giảm 1,84% so với tháng trước và tăng 11,17% so với cùng kỳ năm trước. Ngành điện đã hoạt động ổn định, cung cấp đủ điện một cách an toàn, hiệu quả cho người dân, các hộ sản xuất kinh doanh và các doanh nghiệp được hoạt động liên tục, đảm bảo hạn chế không để xảy ra tình trạng thiếu điện sử dụng và mất điện đột ngột. Hiện nay, giá điện tăng và qua đợt cao điểm nắng nóng nên người dân cũng hạn chế sử dụng các đồ dùng, trang thiết bị gia đình bằng điện trong sinh hoạt, nhất là sử dụng máy điều hoà để làm mát, do đó sản lượng điện truyền tải có xu hướng giảm so với tháng trước.

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: Giảm 1,38% so với tháng trước và tăng 5,99% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm so với tháng trước là do hiện nay đang vào mùa mưa nên người dân dùng nước mưa thay cho nước sạch sinh hoạt. Sản lượng sản xuất nước sạch sinh hoạt tháng 7 được 903,49 ngàn M3, giảm 90,79 ngàn M3 so với tháng trước và tăng 36,52 ngàn M3 so với cùng kỳ năm trước.

5. Thương mại, dịch vụ

5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Trong tháng 6, do sản lượng thịt heo cung cấp cho thị trường giảm, và một bộ phận người dân còn e ngại sử dụng các sản phẩm từ thịt heo nên chuyển đổi sang các loại thực phẩm khác như: Thủy hải sản, thịt gà, thịt vịt, rau xanh, …. Nguồn cung hàng thực phẩm trên thị trường trong tháng cũng giảm do điều kiện thời tiết bất lợi trong thu hoạch mùa vụ và trong chăn nuôi đã làm cho thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh tiếp tục giảm so với tháng trước.

Ngược lại, các ngành dịch vụ lại có xu hướng tăng hơn so với tháng trước là do đây là tháng bước vào mùa hè, là dịp để tăng doanh thu các ngành vui chơi, giải trí và một số dịch vụ khác. Ngoài ra, vào cuối tháng 6 diễn ra kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2019 nên ngành dịch vụ lưu trú tăng mạnh.

Thực hiện tháng 6, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 2.998,844 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 99,01% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109.63%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.194,852 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 97,08% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,20%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 292,113 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 113,15% và so với cùng kỳ năm trước bằng 113,88%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 511,879 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 100,35% và so với cùng kỳ năm trước bằng 105,06%.

Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng ngành thương mại trên địa bàn tỉnh khá tốt, do ảnh hưởng của giá cả của một số hàng hóa trong những tháng đầu năm đến nay luôn nằm ở mức tăng như: Xăng, dầu, gas, vật liệu xây dựng, phân bón, thuốc trừ sâu,…. Lượng hàng hóa phục vụ cho các ngày tết, ngày lễ trong những tháng đầu năm là rất lớn. Ngoài ra, giá điện bắt đầu tăng trong tháng 3 là một gánh nặng trong sản xuất kinh doanh làm tăng chi phí tiêu dùng của người dân. Hiện nay, thương mại trên địa bàn tỉnh chủ yếu tăng loại hình kinh tế tư nhân (tăng 14,78%) đó là điều phù hợp với xu hướng kinh doanh trong tình hình hội nhập.

Ước thực hiện tháng 7, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 2.910,742 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 97,06% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,14%.

Bước qua tháng 7, thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn chưa có chuyển biến tích cực, giá cả của mặt hàng thịt heo chưa được cải thiện, nguồn cung hàng hóa giảm do thời tiết bất lợi, vụ thu hoạch lúa hè thu tại một số địa phương gặp thời tiết mưa kéo dài, giá cả giảm đã ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của người dân đã làm cho nhu cầu tiêu dùng trong dân giảm. Vì vậy, tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng dự tính sẽ giảm hơn so với tháng trước.

Đối với các ngành dịch vụ trong tháng cũng có chung xu hướng giảm, chỉ riêng nhóm dịch vụ vui chơi giải trí nếu loại trừ tác động của dịch vụ xổ số thì vẫn tạo được nguồn doanh thu tốt so với tháng trước, do đây là tháng nghỉ hè, các địa phương có nhiều vườn cây ăn trái kết hợp với loại hình du lịch sinh thái đang bước vào mùa thu hoạch cao điểm, thu hút một lượng lớn khách du lịch trong tháng.

Ước thực hiện 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 22.234,269 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,76%, so với kế hoạch đạt 59,92%.

Nhìn chung, tình hình thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh tính đến thời điểm hiện tại có tốc độ tăng khá tốt, mặc dù dưới tác động khó khăn của bệnh dịch trên heo và giá cả hàng nông sản, chủ yếu là lúa, gạo rất bấp bênh. Nhưng nếu những khó khăn trên không được khắc phục trong những tháng cuối năm thì khó có thể thực hiện tốt kế hoạch đã đề ra trong năm 2019. Vì vậy, các cấp, các ngành cần có giải pháp khắc phục những khó khăn trên.

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện tháng 6 được 75,362 triệu USD, so với tháng trước bằng 105,09% và so với cùng kỳ năm trước bằng 86,12%. Chia ra: Xuất khẩu được 40,074 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 95,77% và so với cùng kỳ năm trước bằng 66,83%. Nhập khẩu được 35,288 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 118,13% và so với cùng kỳ năm trước bằng 128,12%.

Nguyên nhân giá trị xuất khẩu hàng hóa trực tiếp giảm so với tháng trước là do giá trị xuất khẩu mặt hàng tôm chế biến các loại (chiếm tỷ trọng 44,42% trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung) giảm, chỉ bằng 87% so với tháng trước. Các mặt hàng xuất khẩu khác còn lại vẫn có giá trị xuất khẩu ổng định và không có biến động nhiều so với tháng trước. Vì vậy, giá trị xuất khẩu giảm.

Ước thực hiện tháng 7, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 74,879 triệu USD, so với tháng trước bằng 98,03% và so với cùng kỳ năm trước bằng 87,68%. Trong đó, xuất khẩu ước thực hiện được 43,830 triệu USD so với tháng trước bằng 109,37% và so với cùng kỳ năm trước bằng 65,34%. Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu tăng so với tháng trước là do vừa qua Việt Nam đã chính thức ký Hiệp định Thương mại tự do với Liên minh Châu Âu đã mở ra cơ hội lớn cho các Doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường và có thể xuất hàng hóa vào thị trường có mức tiêu thụ lớn này được dễ dàng hơn. Mặt khác, cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc đã khiến hàng thủy sản của Trung Quốc gặp rất nhiều khó khăn và không có khả năng cạnh tranh cao khi xuất khẩu vào thị trường Mỹ. Điều này cũng góp phần mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam có thể tăng khả năng xuất khẩu vào thị trường này trong những tháng cuối năm. Vì vậy, dự đoán giá trị  xuất khẩu trong tháng tới có thể sẽ tăng.

Ước thực hiện 7 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 500,689 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 86,38% và so với kế hoạch năm đạt 48,14%. Chia ra: Xuất khẩu ước thực hiện được 278,674 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 72,24% và so với kế hoạch năm đạt 38,23%. Nhập khẩu ước thực hiện được 187,723 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 118,16% và so với kế hoạch năm đạt 75,09%. Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 0,622 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 171,82% và so với kế hoạch năm đạt 62,20%. Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 33,670 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 97,28% và so với kế hoạch năm đạt 56,12%.

Trong những tháng đầu năm, tình hình xuất khẩu trên địa bàn có sự sụt giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước (chỉ bằng 85,72%). Nguyên nhân chính được cho là do doanh nghiệp Minh Phú sụt giảm giá trị, thiếu nguồn nguyên liệu và không tuyển được công nhân lao động đã khiến nhà máy không thể hoạt động được hết công suất tối đa, kéo theo sản lượng sản xuất cũng như giá trị xuất đi bị giảm, nhiều nhất là thị trường Mỹ và các nước EU.

Dự báo từ nay đến cuối năm giá trị xuất khẩu có thể sẽ tăng trở lại so với 6 tháng đầu năm. Các doanh nghiệp có giá trị xuất khẩu lớn trên địa bàn hiện đang lên kế hoạch và đang đưa ra nhiều giải pháp để khắc phục khó khăn còn tồn tại, một số khác đã xây dựng được thêm nhà xưởng, tuyển dụng thêm nhiều lao động để mở rộng quy mô sản xuất. Vì vậy, giá trị xuất khẩu chung trên địa bàn trong 6 tháng cuối năm có thể sẽ tăng nhiều so với 6 tháng đầu năm 2019 và đóng góp đáng kể vào giá trị kim ngạch xuất khẩu chung trên địa bàn.

5.3. Tình hình giao thông vận tải

Tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện trong tháng 6 được 95,834 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 107,06%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 55,115 tỷ đồng bằng 112,09% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 40,718 tỷ đồng bằng 100,92% so với cùng kỳ năm trước.

Thực hiện tháng 7, tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi trên địa bàn được 92,529 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 109,42%. Chia ra: Đường bộ thực hiện được 50,450 tỷ đồng bằng 107,35% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 42,079tỷ đồng bằng 112% so với cùng kỳ năm trước.

Ước thực hiện 7 tháng, tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi trên địa bàn được 629,948 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 97,97%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 346,554 tỷ đồng bằng 99,91% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 283,395 tỷ đồng bằng 95,71% so với cùng kỳ năm trước.

Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Thực hiện tháng 6, hàng hoá vận chuyển được 666.690 tấn (50.533.300 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 107,39% (128,86%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 116,97% (151,57%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 160.829 tấn (6.572.111 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 118,82% (99,15%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 119,92% (98,77%). Đường sông thực hiện được 505.861 tấn (43.961.189 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 104,21% (134,89%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 116,06% (164,73%).

Ước thực hiện tháng 7, toàn tỉnh vận chuyển được 685.853 tấn hàng hóa các loại (52.392.477 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 102,87% (103,68%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,83% (139,63%). Trong đó, đường bộ thực hiện được 166.874 tấn (6.979.853 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 103,76% (106,20%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 100,28% (103,84%).

Ước thực hiện 7 tháng đầu năm, toàn tỉnh vận chuyển được 4.339.645 tấn hàng hóa các loại (275.783.269 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 98,34% (112,31%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 1.012.287 tấn (47.902.874 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 93,04% (94,00%). Đường sông vận chuyển được 3.327.358 tấn (227.880.395 tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 100,08% (117,11%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Thực hiện tháng 6, toàn tỉnh vận chuyển được 9.376.395 lượt hành khách (49.395.057 HK.Km), so với thực hiện tháng trước bằng 102,02% (100,80%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 94,94% (92,74%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.407.320 lượt hành khách (37.585.636  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 103,58% (102,83%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,40% (96,74%). Đường sông vận chuyển được 1.969.075 lượt hành khách (11.809.421 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 96,53% (94,88%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 89,82% (81,95%).

Ước thực hiện tháng 7, toàn tỉnh thực hiện được 9.493.269 lượt hành khách (51.264.056 HK.km), so với tháng trước bằng 101,25% (103,78%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,61% (95,44%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.444.614 lượt hành khách (38.573.374  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,50% (102,63%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,13% (93,40%). Đường sông vận chuyển được 2.048.655 lượt hành khách (12.690.682 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 104,04% (107,46%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,42% (102,25%).

Ước thực hiện 7 tháng đầu năm, toàn tỉnh vận chuyển được 66.400.030 lượt hành khách (353.361.765 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 93,32% (92,39%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 51.342.369 lượt hành khách (259.997.993 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 92,51% (90,32%). Đường sông vận chuyển được 15.057.661 lượt hành khách (93.363.772 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 96,21% (98,70%).

6. Các vấn đề văn hóa, thể thao, xã hội, khoa học, công nghệ và tai nạn giao thông

6.1. Tình hình văn hóa, thể thao                          

Trong tháng 7, toàn ngành Văn hóa, thể thao và du lịch đã thực hiện được 2.060m2 pano các loại, 60 băng rol, treo và tháo gỡ hơn 2.700 cờ các loại, 89 lượt phóng thanh cổ động, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành. Trang trí xe tuyên truyền cổ động tham gia hội thi tìm hiểu về chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam.

Đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức giao lưu trong và ngoài tỉnh 05 cuộc; xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 95 buổi, thu hút 48.000 lượt người xem. Đội chiếu phim lưu động tổ chức chiếu phim tuyên truyền kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947 -  27/7/2019) với 17 buổi phục vụ nhân dân vùng sâu, vùng xa.

Trong tháng, Đoàn ca múa nhạc dân tộc xây dựng và biểu diễn 06 suất diễn phục vụ trên 3.600 lượt người xem, phục vụ nông thôn và các Sở, ban, ngành trong tỉnh như: Tuyên truyền kỷ niệm phục vụ nhân kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh Liệt Sỹ; tham gia “Liên hoan Tiếng hát Đường 9 xanh” 2019 tại tỉnh Quảng Trị...Thực hiện các phim tài liệu, ca nhạc phục vụ công tác tuyên truyền.

Thống kê số sách vận động trong ngày sách năm 2019 đến thời điểm báo cáo là 1.169 bản với 8 đơn vị tài trợ. Hoàn thành biên mục 960 bản sách từ nguồn bổ sung năm 2018 cho các thư viện xã, phường, thị trấn thuộc thị xã Long Mỹ.

Trưng bày sách tại chỗ 3 lần trên 175 quyển, bao gồm: Chuyên đề “Thương binh, liệt sĩ” nhân ngày 27/7; sách kỷ niệm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam 28/7; sách mới các lĩnh vực kinh tế, xã hội…; trưng bày thường xuyên sách chuyên đề “Cải cách hành chính” và “Tủ sách Bác Hồ”.

6.2. Lao động và an sinh xã hội

Đến thời điểm hiện tại, sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã đào tạo nghề cho 6.300 lao động, đạt 96,92% so với kế hoạch. Trong đó, đào tạo nghề lao động nông thôn là 2.850 lao động, đào tạo nghề thường xuyên từ các chương trình, dự án khác là 3.450 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 51,02%. Về công tác đào tạo lao động cho doanh nghiệp (đào tạo nghề lao động nông thôn lĩnh vực phi nông nghiệp): Tổ chức đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu cho 11 doanh nghiệp với 2.000 lao động, với các nghề như: May công nghiệp, đan dây nhựa, đan lục bình, cắt uốn tóc, kỹ thuật xây dựng, kỹ thuật chế biến món ăn. Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật và Trường Trung cấp Kỹ thuật – Công nghệ tỉnh đã tuyển sinh được 106 học sinh cho năm học 2019 – 2020, đạt tỷ lệ 18,3% kế hoạch.

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các đơn vị có liên quan chuẩn bị các điều kiện cần thiết tổ chức các hoạt động kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh – Liệt sĩ). Đặc biệt, là tổ chức hội nghị gặp gỡ và trao đổi thông tin đến người có công về các chính sách ưu đãi người có công với cách mạng năm 2019 tại xã Phương Phú, huyện Phụng Hiệp và xã Tân Tiến, thành phố Vị Thanh với 300 đại biểu tham dự.

Trợ cấp thường xuyên cho 29.678 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 11,166 tỷ đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 245 trường hợp với số tiền trên 1 tỷ đồng; hỗ trợ đột xuất cho 10 trường hợp với số tiền 130 triệu đồng. Phối hợp với các đơn vị có liên quan tiếp nhận Chương trình gắn chân/tay giả, trồng răng giả và khám bệnh, cấp thuốc cho bệnh nhân đau xương khớp, bị mắc một số bệnh mãn tính cho 1.246 người dân trên địa bàn tỉnh do Tổ chức MERCER/Hoa Kỳ viện trợ với kinh phí 2,797 tỷ đồng.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng về tác hại của các chất ma tuý theo chủ đề "Hãy suy nghĩ trước khi bắt đầu”; công tác cai nghiện ma túy, điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone; cổ vũ động viên gương người cai nghiện thành công; các mô hình hỗ trợ người nghiện có hiệu quả tại cộng đồng nhân dịp tháng hành động phòng, chống ma túy năm 2019. Qua đó, đã tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nội bộ và ra dân được 34 cuộc với 3.956 lượt người tham dự. Số người nghiện ma tuý có hồ sơ quản lý tại địa phương là 1.154 đối tượng; số đối tượng mại dâm có hồ sơ quản lý là 100 đối tượng; số người nghiện đang có mặt tại Trung tâm cai nghiện là 126 người; đang quản lý sau cai là 14 người.

Thực hiện Kế hoạch của Ban Chỉ đạo 138 tỉnh về việc kiểm tra xử lý vi phạm về trật tự xã hội, tệ nạn xã hội. Đội, tổ kiểm tra liên ngành các cấp đã kiểm tra được 28 lượt cơ sở; phát hiện 03 cơ sở vi phạm, phạt hành chính 03 cơ sở với số tiền 4,5 triệu đồng.

6.3. Khoa học và công nghệ

Sở Khoa học và công nghệ đã tổ chức Hội đồng khoa học công nghệ xét duyệt 02 đề tài: Một là nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con người của lực lượng Công an tỉnh Hậu Giang; hai là tình hình tội phạm ma túy trên địa bàn tỉnh Hậu Giang - Thực trạng và giải pháp. Phối hợp Sở Tài chính thẩm định kinh phí thực hiện nhiệm vụ cấp quốc gia (kinh phí đối ứng của địa phương): Đề tài “Nghiên cứu sản xuất và ứng dụng một số chế phẩm vi sinh để phòng trừ bệnh vàng lá thối rễ trên cây có múi và bệnh thán thư trên cây Xoài tại Hậu Giang và một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long”. Kiểm tra tiến độ dự án “Xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể “Mãng cầu Hậu Giang” dùng cho sản phẩm mãng cầu trong tỉnh Hậu Giang” và  dự án “Xây dựng mô hình sản xuất cây có múi ứng dụng công nghệ tiên tiến tại tỉnh Hậu Giang” thuộc Chương trình Nông thôn miền núi.

Lũy kế từ đầu năm đến nay, Sở Khoa học và công nghệ đã tổ chức xét duyệt 05 nhiệm vụ (01 nhiệm vụ thông báo và họp hội đồng tuyển chọn lại lần 2), nghiệm thu 03 nhiệm vụ; kiểm tra tiến độ 06 nhiệm vụ; thẩm tra kinh phí quyết toán 02 nhiệm vụ. Thông báo tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh năm 2019 “Nghiên cứu mô hình can thiệp cộng đồng kiểm soát huyết áp ở bệnh nhân tăng huyết áp tại tỉnh Hậu Giang”. Sở đã hướng dẫn 13 tổ chức, cá nhân đăng ký độc quyền sở hữu công nghiệp. Trong tháng 7, Cục Sở hữu trí tuệ chấp nhận 22 đơn và cấp 01 văn bằng (Nhãn hiệu tập thể Mãng cầu Hậu Giang); tính từ đầu năm đến cuối tháng 7, Cục Sở hữu trí tuệ chấp nhận 60 đơn và cấp 11 văn bằng (gồm 10 nhãn hiệu và 01 kiểu dáng công nghiệp).

Cử cán bộ phối hợp thực hiện 03 dự án trong Chương trình 824: Một là xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể “Mãng cầu HG” dùng cho sản phẩm mãng cầu trong tỉnh Hậu Giang; hai là quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể quýt đường Long Trị; ba là xây dựng và quản lý chỉ dẫn địa lý “Khóm cầu đúc Hậu Giang” cho sản phẩm khóm của tỉnh Hậu Giang.

Thực hiện dự án “Xây dựng mô hình trồng cam mật không hạt theo hướng hữu cơ trên địa bàn huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang”;  hỗ trợ kỹ thuật, phân thuốc, chế phẩm sinh học phòng trừ sâu bệnh hại tại các vườn xây dựng thuộc dự án. Dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng khoa học kỹ thuật phát triển vùng chuyên canh Bưởi da xanh (Citrus maxima) đạt tiêu chuẩn VietGAP tại huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang”;tiến hành xây dựng cơ sở vật chất theo tiêu chuẩn VietGAP (hố cát, hố rác, nhà kho, tủ thuốc,…) cho 5 hộ tham gia dự án; tiếp tục theo dõi sự phát triển của cây Bưởi và đôn đốc bà con xây dựng mô hình đúng nội dung dự án; gửi báo cáo định kỳ tình hình thực hiện và kế hoạch tiếp theo của dự án Bưởi tại Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện Long Mỹ.

Trong tháng 7, trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đô lường chất lượng kiểm định 637 lượt phương tiện đo của các đơn vị, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Lũy kế từ đầu năm đến nay kiểm định được 3.403 lượt phương tiện đo các loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh gồm: 1.627 cân đồng hồ lò xo các loại, 80 cân phân tích, 127 cân kỹ thuật, 14 huyết áp kế, 41 bình đong,705 đồng hồ nước lạnh, 385 công tơ điện 1 pha và 424 cột đo xăng dầu.

6.4. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 7, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông, tập trung ở đường bộ, so với tháng trước tăng 01 vụ, làm chết 08 người và không có người bị thương. Số người chết tăng 02 người so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước.

Trong 7 tháng đầu năm, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 57 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 55 vụ, đường thủy 02 vụ), làm chết tổng cộng 53 người (đường bộ chết 51 người, đường thủy chết 02 người) và làm bị thương 12 người, tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước giảm 07 vụ, tập trung ở đường bộ, số người chết giảm 03 người (đường bộ giảm 05 người, đường thủy tăng 02 người) và số người bị thương giảm 13 người, cũng tập trung ở đường bộ./.