Tháng 8
09:20 27/08/2019

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 7, ước tháng 8 và 8 tháng năm 2019

 

  1. Tài chính - Tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 8 được 601,925 tỷ đồng, lũy kế được 6.851,269 tỷ đồng, đạt 97,74% dự toán Trung ương giao và đạt 74,55% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 289,693 tỷ đồng, lũy kế được 2.270 tỷ đồng, đạt 66,51% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi ngân sách địa phương tháng 8 được 588,685 tỷ đồng, lũy kế được 4.803,647 tỷ đồng, đạt 79,64% dự toán Trung ương và đạt 57,89% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi thường xuyên được 318,456 tỷ đồng, lũy kế được 2.547,650 tỷ đồng, đạt 65,21% dự toán Trung ương và đạt 55,86% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 31 tháng 7, huy động vốn trên địa bàn được 13.903 tỷ đồng, tăng trưởng 2,96% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 14,98% so với cuối năm 2018. Vốn huy động đáp ứng được 62,16% cho hoạt động tín dụng. Ước đến cuối tháng 8 huy động vốn trên địa bàn được 14.102 tỷ đồng, tăng trưởng 1,43% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 16,62% so với cuối năm 2018.

Cho vay trên địa bàn đến ngày 31 tháng 7, được 22.367 tỷ đồng, giảm 0,88% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 2,06% so với cuối năm 2018. Ước đến cuối tháng 8, tổng dư nợ được 22.635 tỷ đồng, tăng trưởng 1,20% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 3,29% so với cuối năm 2018.

Nợ quá hạn đến ngày 31 tháng 7 790 tỷ đồng, chiếm 3,53% trên tổng dư nợ. Nợ xấu là 515 tỷ đồng, chiếm 2,30% trên tổng dư nợ. Ước đến cuối tháng 8, nợ xấu toàn địa bàn vẫn ở mức an toàn.

  1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16 tháng 8, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang sau khi điều chỉnh và bổ sung năm 2019 là 18.163,490 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.957,490 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.365 tỷ đồng.

          - Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.841 tỷ đồng.

Vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 7 là 1.689,370 tỷ đồng, bằng 101,05% so với tháng trước và bằng 111,10% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

           - Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 193,350 tỷ đồng, bằng 105,94% so với tháng tr­ước và bằng 130,42% so với cùng kỳ năm tr­ước.

           - Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 185,700 tỷ đồng, bằng 122,61% so với tháng tr­ước và bằng 207,12% so với cùng kỳ năm tr­ước

           - Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.310,320 tỷ đồng, bằng 97,95% so với tháng tr­ước và bằng 102,15% so với cùng kỳ năm trước.

         Ước tính tháng 8, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện được 1.754,990 tỷ đồng, bằng 122,25% so với cùng kỳ năm trước và bằng 103,88% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư tăng so với tháng trước là do: Các đơn vị thi công tập trung hoàn thành các công trình khánh thành và khởi công theo đúng tiến độ đã đăng ký để chào mừng ngày Quốc khánh 2 tháng 9;  sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo các cấp, các sở, ngành và các chủ đầu tư; các giải pháp kịp thời và hợp lý (phân nguồn, chuyển vốn giữa các công trình) với quyết tâm thực hiện hoàn thành vốn đầu tư theo kế hoạch đã đề ra; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh; triển khai nhanh việc lập hồ sơ, thủ tục các dự án mới đã được bố trí vốn bổ sung.

Ước tính 8 tháng, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 12.920,260 tỷ đồng, bằng 106,88% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 71,13% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.301,055 tỷ đồng, bằng 93,93% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 66,47% so với kế hoạch năm.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 1.124,183 tỷ đồng, bằng 134,60% so với cùng kỳ năm trước và đạt 82,36% so với kế hoạch năm.          

 - Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 10.495,022 tỷ đồng, bằng 106,35% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 70,72% so với kế hoạch năm.

  1. 3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

3.1. Nông nghiệp

Hiện nay, lúa hè thu toàn tỉnh đã xuống giống dứt điểm được 78.081,6 ha, đạt 101,88% so với kế hoạch (kế hoạch của tỉnh là 76.640 ha), so với cùng kỳ năm trước tăng 1,31%. Hiện tại, diện tích lúa đã thu hoạch được 68.365,1 ha, năng suất thu hoạch ước được 58,43 tạ/ha, so với cùng kỳ giảm 0,27%. Năng suất lúa hè thu giảm là do thời tiết mưa nhiều lúa đổ ngã.. Năng suất lúa hè thu giảm nhưng do diện tích thu hoạch tăng so với cùng kỳ năm trước nên sản lượng lúa toàn vụ ước được 464.039 tấn, tăng 0,24% (bằng 587 tấn).

Tính đến thời điểm hiện nay, lúa thu đông toàn tỉnh đã xuống giống được 35.448 ha, đạt 90,89% so với kế hoạch (kế hoạch của tỉnh là 39.000 ha), lúa đang ở giai đoạn mạ đến đẻ nhánh phân bổ chủ yếu ở huyện Châu Thành A, Vị Thủy, Phụng Hiệp và thành phố Vị Thanh.

Bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại trên lúa như: ốc bươu vàng, rầy nâu, sâu cuốn lá, nhện gié, chuột, bệnh cháy bìa lá, đạo ôn cổ bông và lem lép hạt... Ngành chức năng đang tích cực hướng dẫn bà con nông dân có biện pháp phòng trừ kịp thời và hiệu quả.

Mía niên vụ 2019, toàn tỉnh đã xuống giống được 8.314 ha, giảm 21,43% (bằng 2.268 ha) so với cùng kỳ. Diện tích mía giảm nhiều là do giá mía thấp, hộ trồng mía không có lãi. Vì vậy, nhiều hộ chuyển sang trồng cây hoa màu và cây lâu năm. Mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, huyện Long Mỹ, thành phố Vị Thanh và thị xã Ngã Bảy, các giống mía chủ yếu là giống ngắn ngày như: ROC16, K88-92, ROC22, R570, K95-289,… Mía hiện đang trong giai đoạn phát triển tốt.

Diện tích gieo trồng ngô toàn tỉnh đến nay được 2.425 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 2,24% (bằng 53 ha), năng suất thu hoạch được 54,79 tạ/ha, tăng 4,50% so với cùng kỳ.

Khoai lang có diện tích gieo trồng đến nay được 60,15 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 3,30% (bằng 2,05 ha).

Cây rau các loại, diện tích gieo trồng được 16.405 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 13,53% (bằng 1.956 ha). Đậu các loại có diện tích gieo trồng được 702 ha, so với cùng kỳ năm trước giảm 6,81% (bằng 51,3 ha).

Từ đầu năm đến nay, dịch bệnh trên gia cầm ít xảy ra trên địa bàn tỉnh nên số lượng gia cầm tăng lên so với cùng kỳ. Đàn gia cầm: Có 3.985 ngàn con, tăng 2,88% (bằng 111,6 ngàn con) so với cùng kỳ năm trước. Đàn gia cầm tăng do giá thịt gia cầm ổn định, dịch bệnh ít, thị trường đầu ra tốt. Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 8 tháng đầu năm được 5.266 tấn, tăng 2,45% (bằng 126 tấn) so với cùng kỳ.

 Ước tính trong tháng 8, Đàn trâu được 1.487 con, giảm 2,62% (bằng 40 con) so với cùng kỳ, đàn bò có 3.452 con, tăng 4,07% (bằng 135 con) so với cùng kỳ năm trước do mới phát sinh một hộ trang trại nuôi bò chiếm tỷ trọng khá trong tổng đàn bò của tỉnh.

Đàn lợn (heo): Có 124.345 con (không tính heo con chưa tách mẹ) so với cùng kỳ năm trước giảm 17,63% (bằng 26.605 con). Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng 8 tháng đầu năm ước được 16.833 tấn, giảm 1,62% (bằng 276 tấn) so với cùng kỳ.

Tình hình dịch bệnh dịch tả lợn Châu phi: Theo báo cáo của sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, tính đến ngày 20/8/2019,  trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 1.918/421 ấp, khu vực/74 xã, phường, thị trấn/08 huyện, thị xã, thành phố. Tổng số heo chết và tiêu hủy do dịch bệnh là 44.931 con/2.766.028,7 kg. Cụ thể:

- Thành phố Vị Thanh: Tổng số heo chết và tiêu hủy tại 210 ổ dịch là 3.674 con/210.479 kg.

- Thị xã Ngã Bảy: Tổng số heo chết và tiêu hủy tại 93 ổ dịch là 2.967 con/245.263,5 kg.

- Thị xã Long Mỹ: Tổng số heo chết và tiêu hủy tại 346 ổ dịch là 6.487 con/348.611,4 kg.

- Huyện Châu Thành: Tổng số heo chết và tiêu hủy tại 182 ổ dịch là 3.503 con/224.237 kg.

- Huyện Châu Thành A: Tổng số heo chết và tiêu hủy tại 130 ổ dịch là 3.152 con/206.658 kg.

- Huyện Phụng Hiệp: Tổng số heo chết và tiêu hủy tại 221 ổ dịch là 4.834 con/287.825 kg.

- Huyện Vị Thủy: Tổng số heo chết và tiêu hủy tại 225 ổ dịch là 4.989 con/276.820 kg.

- Huyện Long Mỹ: Tổng số heo chết và tiêu hủy tại 511 ổ dịch là 15.325 con/957.134,8 kg.

Ngành chức năng đã tiến hành tiêu hủy, tiêu độc khử trùng tại các điểm bị dịch bệnh, lập các chốt kiểm dịch động vật - sản phẩm động vật tại các điểm trên quốc lộ, các tuyến đường chính để kiểm soát việc vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tiêu độc khử trùng các phương tiện đi qua ổ dịch; hiện đang triển khai các biện pháp khẩn cấp khống chế dịch bệnh theo tinh thần Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT, Kế hoạch số 187/KH-UBND ngày 24/01/2019 của UBND tỉnh về hành động ứng phó khẩn cấp với bệnh dịch tả lợn Châu phi xâm nhiễm trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Tiếp tục duy trì công tác giám sát, tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh, đồng thời báo cáo diễn biến tình hình dịch bệnh hàng ngày về cơ quan quản lý.

3.2. Thủy sản

Diện tích nuôi thủy sản 8 tháng, toàn tỉnh ước tính được 7.525 ha, tăng 9,91% so cùng kỳ năm trước (bằng 678 ha). Trong đó, cá nuôi được 7.384 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 10,10% (bằng 678 ha). Diện tích tăng chủ yếu là do năm nay diện tích nuôi ở ruộng tăng và thả nuôi sớm hơn cùng kỳ.

Tổng sản lượng thủy sản 8 tháng, toàn tỉnh ước được 46.147 tấn, tăng 3,01% (bằng 1.349 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng so với cùng kỳ là do hộ nuôi cá rô đồng đã tập trung đầu tư hơn nên cho năng suất tăng khá. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng 43.964 tấn, tăng 3,20% (bằng 1.362 tấn). Sản lượng thủy sản khai thác 2.182 tấn, giảm 0,61% (bằng 13 tấn).

Tình hình sản xuất nông nghiệp trong 8 tháng đầu năm, nhìn chung khó khăn hơn so với năm trước, do tình hình sản xuất gieo trồng cây lúa vụ hè thu năm nay năng suất giảm hơn, giá cả giảm, thời tiết không thuận lợi cho giai đoạn thu hoạch lúa hè thu; tình hình chăn nuôi gặp khó khăn, đặc biệt là dịch bệnh xảy ra ở đàn lợn (dịch tả lợn Châu phi) xảy ra rộng khắp các huyện trong tỉnh nói riêng và cả nước nói chung. Tỉnh đang chỉ đạo sản xuất lúa vụ thu đông 2019 vượt kế hoạch đề ra ban đầu của tỉnh.

  1. Tình hình sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá so sánh 2010, thực hiện tháng 7 được 2.278,966 tỷ đồng, tăng 5,53% so với cùng kỳ năm trước. Theo giá thực tế, được 3.234,837 tỷ đồng, tăng 7,37% so với cùng kỳ năm trước.

Mặc dù giá trị sản xuất công nghiệp có tăng trưởng, tuy nhiên vẫn còn thấp chưa tương xứng so với tiềm năng, thế mạnh và yêu cầu phát triển của tỉnh. Phần lớn do các doanh nghiệp hoạt động trong ngành dệt may, xay xát đa số là gia công nên mang lại giá trị thấp. Bên cạnh đó, ngành chế biến thủy sản xuất khẩu rơi vào thế bị động, do các rào cản kinh tế và các tiêu chuẩn chất lượng khắc khe của các thị trường Châu Âu và Mỹ, nên giá trị sản xuất ngành chế biến thực phẩm nói riêng và giá trị sản xuất chung của toàn tỉnh tăng không cao so với cùng kỳ.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 8, tính theo giá so sánh 2010, được 2.331,704 tỷ đồng, tăng 2,31% so với tháng trước và tăng 6,50% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 3.334,047 tỷ đồng, tăng 3,07% so với tháng trước và tăng 9,66% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty CP dầu khí Bình Minh với sản phẩm chủ yếu là dung môi, đóng góp vào giá trị sản xuất chung của toàn tỉnh trên 100 tỷ đồng tháng, chiếm tỷ trọng trên 50% ngành sản xuất hóa chất và trên 4,19% giá trị sản xuất của toàn ngành công nghiệp, nhưng đang gặp khó khăn trong quá trình kinh doanh, nên doanh nghiệp tạm ngưng hoạt động. Vì vậy, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng nhưng không cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 8 tháng, tính theo giá so sánh 2010, được 17.141,410 tỷ đồng, tăng 8,13% so với cùng kỳ năm trước và đạt 61,06% so với kế hoạch năm. Tính theo giá thực tế, được 23.982,367 tỷ đồng, tăng 9,65% so với cùng kỳ năm trước và đạt 60,24% so với kế hoạch năm.

Nguyên nhân là do được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban tỉnh và các sở, ban ngành tỉnh, với nhiều chính sách ưu đãi, thu hút các doanh nghiệp đầu tư mới trên địa bàn tỉnh, đến nay đã phát huy được hiệu quả, những ngành chiếm tỷ trọng lớn và có tốc độ tăng cao so với mức tăng chung của tỉnh như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (chiếm tỷ trọng 9,72% và tăng 15,82% so với cùng kỳ); sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy (chiếm tỷ trọng 17,05% và tăng 10,33% so với cùng kỳ); sản xuất thuốc, hóa dược liệu (chiếm tỷ trọng 8,12% và tăng 14,59% so với cùng kỳ)… Các doanh nghiệp có giá trị sản xuất lớn, sau thời gian đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định như: Công ty TNHH Lạc Tỷ II; công ty TNHH giấy Lee & Man Việt Nam; công ty TNHH MTV bê tông HAMACO Hậu Giang; Công ty TNHH Hóa Nông Lúa Vàng Hậu Giang; Công ty TNHH Number One Hậu Giang… nên đã làm tăng đột biến các ngành này so với cùng kỳ năm trước.

Bên cạnh đó, trong những tháng đầu năm giá xăng dầu tăng mạnh, công thêm giá điện tăng, tác động rất lớn đến chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm giá thành sản xuất tăng. Một số doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, bị thua lỗ và phải tạm ngưng hoạt động hoặc giảm sản lượng sản xuất, để tìm biện pháp khắc phục các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận như: Công ty cổ phần mía đường Cần Thơ; công ty cổ phần dầu khí Bình Minh… Vì vậy, đã làm giá trị sản xuất của các ngành này giảm so với cùng kỳ, nên ảnh hưởng giá trị sản xuất công nghiệp chung của toàn tỉnh tăng nhưng không cao so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng trên 15,01% theo giá thực tế).

Nhìn chung, ước 8 tháng, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang dù đã có sự tăng trưởng, nhưng vẫn còn một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về giá, nguyên liệu đầu vào và thị trường tiêu thụ,... Do vậy, để hoàn thành kế hoạch năm 2019, các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững, để giá trị sản xuất công nghiệp tăng cao trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính tháng 8, chỉ số (IIP) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, tăng 0,98% so với tháng trước và tăng 6,35% so với cùng kỳ.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tăng 0,97% so với tháng trước và tăng 6,33% so với cùng kỳ. Cụ thể:

- Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,92% so với tháng trước và tăng 4,31% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ là do một số ngành tăng đột biến như: Chế biến và bảo quản rau quả tăng 28,57%; xay xát và sản xuất bột thô tăng 187,59%. Bên cạnh đó, có một số ngành giảm hoặc tăng thấp hơn mức tăng chung của ngành chế biến thực phẩm như: Ngành chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản (chiếm tỷ trọng 22,65% trong ngành chế biến thực phẩm và chiếm 4,93% trong toàn ngành), tăng 1,14% so với cùng kỳ; ngành sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản giảm 2,42% so với cùng kỳ. Vì vậy, đã làm ngành chế biến thực phẩm tăng không cao so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất trang phục, sản lượng sản xuất được 178,66 ngàn cái, tăng 2,09% so với tháng trước và tăng 13,82% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp hoạt động trong ngành này nhận được nhiều đơn đặt hàng từ nước ngoài, nên chỉ số sản xuất ngành này tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành này chủ yếu là gia công nên đóng góp không nhiều vào giá trị sản xuất chung của tỉnh. Vì vậy, các doanh nghiệp cần chủ động hơn nữa trong việc tham gia sản xuất thành phẩm, đa dạng nguồn cung hàng hóa ra thị trường, nhằm tận dụng được nhiều ưu đãi từ Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), đồng thời cần có chiến lược nghiên cứu, nắm bắt thị hiếu của người tiêu dùng, nâng cao hơn nữa về chất lượng cho sản phẩm xuất khẩu và tiêu thụ nội địa, để giá trị ngành này tăng cao hơn nữa trong thời gian tới.

- Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan, sản lượng sản xuất được 17.617,69 ngàn đôi,  tăng 3,64% so với tháng trước và tăng 67,75% so với cùng kỳ năm trước.

- Ngành sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy, tăng 2,69% so với tháng trước và tăng 23,93% so với cùng kỳ năm trước.

- Bên cạnh đó, có một số ngành giảm hoặc tăng nhưng thấp hơn mức tăng chung của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như: Sản xuất đồ uống (giảm 60,84% so với cùng kỳ); sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất (giảm 25,34% so với cùng kỳ).

Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: Tăng 4,05% so với tháng trước và tăng 10,15% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty Điện Lực Hậu Giang đã hoạt động ổn định, cung cấp đủ điện một cách an toàn, hiệu quả cho người dân, các hộ sản xuất kinh doanh và các doanh nghiệp được hoạt động liên tục, đảm bảo hạn chế không để xảy ra tình trạng thiếu điện sử dụng và mất điện đột ngột, sản lượng truyền tải điện năng tăng 4,39% so với tháng trước và tăng 10,13% so với cùng kỳ năm trước.Vì vậy, Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước.

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: Giảm 0,26% so với tháng trước và tăng 8,07% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do hiện nay đang bước vào đầu mùa mưa, nên người dân dự trữ nước mưa để sử dụng trong sinh hoạt. Vì vậy, Sản lượng sản xuất nước sạch sinh hoạt dự tính tháng 8 năm 2019 được 954,09 ngàn M3, giảm 11,10 ngàn M3 so với tháng trước và tăng 147,56 ngàn M3 so với cùng kỳ năm trước.

  1. 5. Thương mại, dịch vụ

5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Trong tháng 7, thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh vẫn chưa có chuyển biến tích cực, sản lượng mặt hàng thịt heo giảm do ảnh hưởng xấu của dịch tả heo Châu Phi, nguồn cung hàng hóa giảm do thời tiết bất lợi, vụ thu hoạch lúa hè thu tại một số địa phương thời tiết không thuận lợi mưa kéo dài, giá lúa giảm đã ảnh hưởng đến nguồn thu nhập của người dân, làm cho nhu cầu tiêu dùng trong dân giảm. Vì vậy, tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng tiếp tục giảm hơn so với tháng trước.

Đối với các ngành dịch vụ trong tháng, nhìn chung có xu hướng giảm, nhiều nhất là dịch vụ xổ số. Các hoạt động vui chơi giải trí khác có tăng nhưng tỷ trọng doanh thu thấp hơn (chiếm 14,80%) nên không làm tăng giá trị chung của nhóm ngành này. Do đây là tháng nghỉ hè, các địa phương có nhiều vườn cây ăn trái kết hợp với loại hình du lịch sinh thái đang bước vào mùa thu hoạch cao điểm, thu hút một lượng lớn khách du lịch trong tháng. Tuy nhiên, loại hình này tại Hậu Giang vẫn còn rất hạn chế nên không thể kéo doanh thu nhóm ngành vui chơi tăng hơn so với tháng trước. Vì vậy, các ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong tháng giảm hơn so với tháng trước.

Thực hiện tháng 7, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 2.902,752 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 96,80% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,83%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.154,841 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 98,18% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,07%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 278,925 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 95,49% và so với cùng kỳ năm trước bằng 114,71%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 468,986 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 91,62% và so với cùng kỳ năm trước bằng 106,09%.

Ước thực hiện tháng 8, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.041,588 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 104,78% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,03%. Chia ra: Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.256,619 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 104,72% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,51%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 283,198 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 101,53% và so với cùng kỳ năm trước bằng 113,94%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 501,771 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 106,99% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,26%.

Bước qua tháng 8, doanh thu các ngành dịch vụ và nhu cầu tiêu dùng trong dân tăng, do đây là thời điểm sắp bước vào năm học mới và một lượng lớn hàng hóa phục vụ cho Tết Trung thu, chủ yếu là nhóm hàng thực phẩm và một số hàng hóa khác. Các nhóm hàng phục vụ cho năm học mới tăng cao trong tháng là may mặc, giày dép, vật phẩm văn hóa, giáo dục… Ngoài ra, tính đến thời điểm hiện tại các mặt hàng bánh, kẹo, lồng đèn trung thu đã được bày bán khá nhộn nhịp trên các tuyến đường, chợ, trung tâm thương mại. Lượng hàng hóa trong tháng còn được tiêu thụ mạnh trong hội chợ mua sắm và ẩm thực hàng Việt Nam - Thái Lan diễn ra tại thành phố Vị Thanh (từ ngày 08/8 đến 18/8) đã thu hút một lượng lớn khách hàng trong tỉnh và các vùng lân cận đến tham quan, mua sắm làm cho dịch vụ ăn uống tăng hơn so với tháng trước. 

Ước thực hiện 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 25.267,867 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,87%, so với kế hoạch đạt 68,10%.

Nhìn chung, trước khó khăn của tình hình dịch bệnh trên heo và thời tiết không thuận lợi để sản xuất, kinh doanh, giá cả hàng hóa bấp bênh, nhất là giá hàng nông sản như: Lúa, gạo, hoa màu nhưng nhờ vào các chính sách hỗ trợ nguồn vốn cho các cơ sở kinh doanh và các chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh nên tính đến thời điểm hiện tại thương mại - dịch vụ có tốc độ tăng khá ổn định. Trong những tháng cuối năm cần thực hiện tốt hơn nữa công tác tổ chức hoạt động hội chợ; xúc tiến thương mại; chương trình đưa hàng Việt về nông thôn; chương trình người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam và một số công tác trọng tâm khác nhằm đáp ứng tốt nhu cầu mua sắm của người dân để thực hiện tốt kế hoạch đề ra trong năm 2019.

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện tháng 7 được 86,788 triệu USD, so với tháng trước bằng 115,16% và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,01%. Chia ra: Xuất khẩu được 45,464 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 113,45% và so với cùng kỳ năm trước bằng 67,78%. Nhập khẩu được 41,324 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 117,10% và so với cùng kỳ năm trước bằng 240,48%.

Nguyên nhân giá trị xuất khẩu hàng hóa trực tiếp tăng so với tháng trước là do hầu hết các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của các doanh nghiệp trên địa bàn đều có giá trị tăng so với tháng trước. Trong đó, mặt hàng thủy sản chế biến các loại tăng 6,01%, các mặt hàng dệt may và giày dép xuất khẩu tăng 11,29% và một số mặt hàng khác còn lại cũng có giá trị tăng 55,02% so với tháng trước. Vì vậy, giá trị xuất khẩu trong tháng tăng.

Ước thực hiện tháng 8, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 87,222 triệu USD, so với tháng trước bằng 100,50% và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,23%. Chia ra: Xuất khẩu ước thực hiện được 47,332 triệu USD so với tháng trước bằng 104,11% và so với cùng kỳ năm trước bằng 67,28%. Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu tăng so với tháng trước là do trong thời gian tới sẽ có những điều kiện thuận lợi có thể giúp tăng giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp thủy sản. Hiệp định Thương mại Tự do mà Việt Nam ký kết với Khối các nước Châu Âu (EU) và Hiệp định đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã bắt đầu chính thức có hiệu lực, theo đó một số loại thuế quan được áp đặt trên các sản phẩm thủy sản xuất khẩu có nguồn gốc xuất xứ của Việt Nam sẽ được giảm thuế, doanh nghiệp sẽ giảm bớt được chi phí và mở ra cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trong đầu tư, hợp tác, tìm kiếm thêm nhiều thị trường tìm năng mới để gia tăng kim ngạch trong thời gian tới. Vì vậy, dự đoán trong tháng 8 giá trị xuất khẩu trực tiếp hàng hóa có thể sẽ tăng. Nhập khẩu ước thực hiện được 39,890 triệu USD so với tháng trước bằng 96,53% và so với cùng kỳ năm trước bằng 206,09%.

Ước thực hiện 8 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 603,623 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 89,55% và so với kế hoạch năm đạt 58,04%. Trong đó, xuất khẩu ước thực hiện được 327,640 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 71,83% và so với kế hoạch năm đạt 44,94%. Nguyên nhân giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước là do doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản Minh Phú chưa hồi phục được thị trường, thiếu nhân công trong hoạt động sản xuất. Do đó, nhà máy chế biến không hết công suất tối đa nên giá trị xuất khẩu sụt giảm mạnh so với cùng kỳ, chỉ bằng 57,75%. Vì vậy, đã làm giá trị xuất khẩu chung của toàn tỉnh giảm. Nhập khẩu ước thực hiện được 237,888 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 133,48% và so với kế hoạch năm đạt 95,16%.  Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 37,480 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 95,55% và so với kế hoạch năm đạt 62,47%.

Hiện nay, tình hình xuất khẩu đã có những dấu hiệu khả quan, giá trị xuất đi trong tháng 7 đã tăng hơn so với tháng trước, bằng 113,45%. Nhưng nhìn chung, tình hình xuất khẩu đặc biệt là nhóm hàng thủy sản đang còn phải đối mặt với nhiều khó khăn từ chính các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết với các thị trường. Trong đó, việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm minh bạch để được giảm thuế và việc gia tăng các biện pháp bảo hộ sản phẩm trong nước, thông qua các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm của các nước nhập khẩu là thách thức lớn nhất mà các doanh nghiệp đang phải đối mặt.

Vì vậy, trong thời gian tới các doanh nghiệp cần chủ động xây dựng kế hoạch thích hợp trong sản xuất kinh doanh, đầu tư ứng dụng nhiều công nghệ, máy móc, thiết bị vào trong sản xuất để gia tăng chất lượng sản phẩm, tạo được thương hiệu uy tín trên thị trường thế giới, giúp nâng cao vị thế sản phẩm thủy sản của Việt Nam. Đổi mới, tăng cường công tác quảng bá, phối hợp xúc tiến thương mại để thu hút đầu tư, tìm kiếm thị trường xuất khẩu tiềm năng mới nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Mặt khác, các doanh nghiệp lớn cần chủ động xây dựng vùng nuôi hiệu quả theo hướng công nghệ cao, tạo riêng cho mình một nguồn nguyên liệu ổn định hoàn toàn có thể kiểm soát được, tiến tới xây dựng một quy trình sản xuất khép kín tạo ra các sản phẩm có chất lượng ổn định đáp ứng được yêu cầu nghiêm ngặt từ các thị trường khó tín, giúp hàng hóa thủy sản có thể xuất đi dễ dàng hơn để đóng góp làm tăng giá trị xuất khẩu chung trên địa bàn.

5.3. Tình hình giao thông vận tải

Tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện trong tháng 7 được 104,444 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 123,51%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 62,672 tỷ đồng bằng 133,36% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 41,772 tỷ đồng bằng 111,19% so với cùng kỳ năm trước.

Thực hiện tháng 8, tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi trên địa bàn được 106,535 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 118,06%. Chia ra: Đường bộ thực hiện được 63,620 tỷ đồng bằng 123,82% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 42,915 tỷ đồng bằng 110,43% so với cùng kỳ năm trước.

Ước thực hiện 8 tháng, tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi trên địa bàn được 748,399 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 99,39%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 422,395 tỷ đồng bằng 101,05% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 326,004 tỷ đồng bằng 97,32% so với cùng kỳ năm trước.

Thực hiện tháng 7, hàng hoá vận chuyển được 723.042 tấn (62.182.563 Tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 108,45% (123,05%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,35% (165,73%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 177.425 tấn (8.910.480 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 110,32% (135,58%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 106,62% (132,57%). Đường sông thực hiện được 545.617 tấn (53.272.083 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 107,86% (121,18%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,59% (172,96%).

Ước thực hiện tháng 8, toàn tỉnh vận chuyển được 734.311 tấn hàng hóa các loại (63.483.851 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,56% (102,09%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 118,42% (189,05%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 179.942 tấn (9.030.700 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,42% (101,35%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,30% (101,17%). Đường sông thực hiện được 554.369 tấn (54.453.151 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,60% (102,22%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 124,33% (220,88%).

Ước thực hiện 8 tháng, toàn Tỉnh vận chuyển được 5.111.145 tấn hàng hóa các loại (349.057.206 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 102,17% (125,41%). Tong đó, đường bộ thực hiện được 1.202.780 tấn (58.864.201 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 97,61% (99,63%).

Vận chuyển, luân chuyển hành khách thực hiện tháng 7, toàn tỉnh được 9.571.478 lượt hành khách (51.676.286 HK.Km), so với thực hiện tháng trước bằng 102,08% (104,62%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,78% (96,21%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.539.395 lượt hành khách (39.584.702 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 101,78% (105,32%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,07% (95,84%). Đường sông vận chuyển được 2.032.083 lượt hành khách (12.091.584 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 103,20% (102,39%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,69% (97,43%).

Ước thực hiện tháng 8, toàn tỉnh thực hiện được 9.684.974 lượt hành khách (52.475.589 HK.km), so với tháng trước bằng 101,19% (101,55%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,71% (97,57%). Trong đó, đường bộ vận chuyển được 7.576.220 lượt hành khách (39.890.218 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,49% (100,77%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,72% (97,05%).

Ước thực hiện 8 tháng, toàn Tỉnh vận chuyển được 76.163.213 lượt hành khách (406.249.584 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 94,07% (93,12%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 59.013.370 lượt hành khách (300.899.539 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 93,41% (91,47%). Đường sông vận chuyển được 17.149.843 lượt hành khách (105.350.045 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 96,41% (98,21%).

  1. Các vấn đề văn hóa, thể thao, xã hội và tai nạn giao thông

6.1. Tình hình văn hóa, thể thao                           

Trong tháng 8, Đài PT &TH tỉnh Hậu Giang thực hiện các Khẩu hiệu và tổ chức các đợt cao điểm tuyên truyền các hoạt động kỷ niệm ngày Thương binh liệt sĩ 27/7; thành lập Công đoàn Việt Nam 28/7; ngày thành lập ngành du lịch Việt Nam; ngày dân số thế giới; ngày liên minh hợp tác xã; 74 năm ngày Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2019) và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2018); ngày vì nạn nhân chất độc da cam 10/8, ngày hội toàn dân bảo vệ An ninh tổ quốc năm 2019,…qua đó tuyên truyền giá trị, ý nghĩa các ngày kỷ niệm đến với người dân qua sóng phát thanh, truyền hình, trang thông tin điện tử và các mạng xã hội của Đài.

Bên cạnh, Đài còn thực hiện 05 cuộc truyền hình trực tiếp, đã sản xuất 350 tin, 203 phóng sự phát trên sóng truyền hình; 225 tin, 56 bài, 4 chương trình Tiếng nói cơ sở trên sóng phát thanh và khoảng trên 1.200 tin khai thác. Hộp thư truyền hình trong tháng nhận được 12 đơn thư, tiếp nhận và hướng dẫn cho 3 trường hợp qua đường dây nóng pháp luật. Nội dung tuyên truyền, phản ánh những ý kiến của cử tri và kết quả kỳ họp Hội đồng nhân dân tỉnh, đợt tiếp xúc cử tri của Đoàn Đại biểu quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh, các chính sách mới trong tháng 7, kỷ niệm 50 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ; công tác điều hành chỉ đạo của Ủy ban nhân dân trong kế hoạch tiêu thụ mía, thực hiện các chỉ tiêu kinh tế xã hội từ nay đến cuối năm.

Đội tuyên truyền lưu động tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố tổ chức giao lưu trong và ngoài tỉnh 05 cuộc; xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng biểu diễn tại các xã, phường, thị trấn với 89 buổi, thu hút 45.100 lượt người xem. Duy trì, nâng cao hoạt động và mở rộng giao lưu của các câu lạc bộ trực thuộc Trung tâm như: Câu lạc bộ Múa, Câu lạc bộ thanh nhạc, Câu lạc bộ Đờn ca tài tử…duy trì lớp khiêu vũ cơ bản, Dance sport thiếu nhi.

Trong tháng, đoàn ca múa nhạc dân tộc Hậu Giang xây dựng và biểu diễn 09 suất diễn phục vụ trên 5.400 lượt người xem, phục vụ nông thôn và các Sở, ban ngành trong tỉnh như: Hội nghị giao ban công tác xây dựng Đảng của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh, thành phố khu vực Nam bộ lần thứ XIII năm 2019); chương trình biểu diễn nhân kỷ niệm 74 năm Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945-19/8/2019); tham gia “Liên hoan Tiếng hát Đường 9 xanh” - 2019 tại tỉnh Quảng Trị,...

Trưng bày sách tại chỗ 2 lần trên 100 quyển, bao gồm: 50 quyển sách Kỷ niệm 74 năm ngày Cách mạng Tháng Tám; 50 quyển sách mới các lĩnh vực kinh tế, xã hội,…trưng bày thường xuyên sách Chuyên đề “Cải cách hành chính” và “Tủ sách Bác Hồ”.

Trong tháng, hệ thống Thư viện tỉnh và huyện, thị xã, thành phố đã phục vụ 99.058 lượt người với 200.116 lượt sách báo, truy cập máy tính; cấp 438 thẻ bạn đọc.

Tổ chức các giải Billard vô địch tỉnh Hậu Giang năm 2019 tại thành phố Vị Thanh (từ ngày 21/8 - 22/8/2019); giải bóng chuyền Nam, Nữ vô địch tỉnh Hậu Giang năm 2019 tại huyện Long Mỹ (từ ngày 25/8- 28/8/2019); giải vô địch Bơi Lội tỉnh Hậu Giang năm 2019 tại huyện Long Mỹ (từ ngày 26/8 -27/8/2019). Tham dự giải vô địch Judo toàn quốc năm 2019 tại Đà Nẵng (từ ngày 11/8- 20/8/2019); vô địch Karate Cúp các CLB mạnh quốc gia tại Đắk Lắk (từ ngày 13/8- 22/8/2019).

          Sở Văn hóa thể thao và du lịch phối hợp đơn vị Công an tỉnh tổ chức Đại hội khỏe “Vì an ninh tổ quốc” lần IV năm 2019 (giai đoạn 02); liên đoàn Xe đạp -Mô tô thể thao Việt Nam tổ chức đón Đoàn đua xe đạp Đồng bằng sông Cửu Long lần thứ 28 Tranh Cúp Hạt Ngọc Trời cùng nông thôn bảo vệ môi trường năm 2019 (từ ngày 13 - 14/8/2019). Tiếp tục phối hợp với sở Tư pháp thẩm định quy chế các danh hiệu phong trào thay thế Quyết định số 40/2013/QĐ-UBND ngày 30 tháng 12 năm 2013 ban hành Quy chế công nhận danh hiệu của Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” trên địa bàn tỉnh Hậu Giang; Sở Giáo dục và Đào tạo kiểm tra, công nhận Trường đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh.Kiểm tra, thẩm định thị trấn văn minh đô thị trên địa bàn huyện Châu Thành A và các tiêu chí 06 và 16 về nông thôn mới.

6.2. Lao động và an sinh xã hội

Đến thời điểm hiện tại, sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 197 lao động, đạt 84,36% kế hoạch năm. Trong đó, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 12 người, đạt 84,4% kế hoạch năm. Tư vấn việc làm cho 2.516 lao động; có 612 lao động đăng ký tìm việc làm; giới thiệu việc làm cho 327 lao động. Làm việc với các đơn vị có liên quan thống nhất nội dung Kế hoạch thực hiện công tác đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng giai đoạn 2019-2020 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Tổ chức đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu cho 11 doanh nghiệp với 2.000 lao động với các nghề như may công nghiệp, đan dây nhựa, đan lục bình, cắt uốn tóc, kỹ thuật xây dựng, kỹ thuật chế biến món ăn.

Toàn tỉnh đã tổ chức họp mặt, thăm, tặng 38.674 phần quà cho người có công với số tiền 10,637 tỷ đồng (Trong đó, kinh phí Trung ương được 2,592 tỷ đồng; kinh phí địa phương được 7,138 tỷ đồng; kinh phí vận động được 908 triệu đồng).

Tổ chức “Lễ tuyên dương khen thưởng cấp Nhà nước, họp mặt người có công với cách mạng kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2019)” với trên 500 đại biểu tham dự. Nhân dịp này, tỉnh đã tổ chức Lễ phong, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho 08 Mẹ; trao Bằng tổ quốc ghi công cho 02 gia đình liệt sĩ; trao tặng Huân chương Độc lập cho 89 gia đình có nhiều liệt sĩ; trao tặng 440 phần quà cho người có công với số tiền 220 triệu đồng;

Thành lập 08 Đoàn công tác của lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng 108 phần quà cho Mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, có sức khỏe yếu không đi lại với 108 triệu đồng; thành lập 04 Đoàn công tác đi thăm, tặng 300 phần quà cho người có công đang nằm điều trị tại các bệnh viện, Trung tâm Y tế trên địa bàn tỉnh với 150 triệu đồng;

Tổ chức đưa, đón 05 người có công của tỉnh tham dự Hội nghị biểu dương người có công tiêu biểu toàn quốc năm 2019 tại Hà Nội; viếng và thắp nến tri ân tại Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh.

Trợ cấp thường xuyên cho 29.745 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 11,126 tỷ đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 234 trường hợp với số tiền 1,264 tỷ đồng; hỗ trợ đột xuất cho 64 trường hợp với số tiền 306 triệu đồng.

Tổ chức tập huấn kỹ năng công tác xã hội cho 288 đại biểu là công chức, viên chức, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội đang làm việc trong ngành Y tế, Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở trợ giúp xã hội, các hội xã hội từ thiện.

Phối hợp với Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh và các đơn vị có liên quan tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày vì nạn nhân chất độc da cam Việt Nam (10/8). Kết quả: Tổ chức Họp mặt nạn nhân chất độc da cam với 100 đại biểu tham dự; thành lập đoàn đến nhà thăm hỏi, tặng 233 phần quà cho nạn nhân chất độc da cam với tổng kinh phí thực hiện gần 100 triệu đồng.

6.3. Y tế

Trong tháng 8, theo báo cáo của Sở Y tế có 105 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, tăng 79 ca so với tháng trước, cộng dồn có 283 ca mắc mới, tăng 172 ca so với cùng kỳ. Bệnh tay chân miệng có 55 ca mắc mới, tăng 26 ca so với tháng trước, cộng dồ có 268 ca mắc mới, tăng 85 ca so với cùng kỳ. Bệnh viêm gan do virut B có 01 ca mắc mới, cộng dồn có 02 ca tăng 02 ca so với cùng kỳ. Bệnh dịch lạ chưa phát hiện ra trên địa bàn tỉnh. Nhờ sự phát hiện sớm và điều trị kịp thời nên không có ca tử vong do các bệnh truyền nhiễm. Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 1.229 trẻ, cộng dồn là 7.374 trẻ, đạt 63,24% so với kế hoạch; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 954 trẻ, cộng dồn là 7.537trẻ, đạt 64,35%; Tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 949 thai phụ, cộng dồn là 6.834, đạt 58,61%. Số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng là 02 ca, cộng dồn là 93 ca (tăng 37 ca so với cùng kỳ); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng là 03 ca, cộng dồn là 15 ca (giảm 16 ca so với cùng kỳ); số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 03 ca, cộng dồn là 07 ca (giảm 06 ca so với cùng kỳ).

Sở Y tế tiếp tục triển khai chiến dịch phòng, chống dịch bệnh; tăng cường chỉ đạo thực hiện tốt kế hoạch phòng, chống dịch bệnh chủ động, hạn chế tối đa số ca mắc mới. Xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện công tác cải tiến chất lượng bệnh viện theo quy định của Bộ Y tế. Tổ chức kiểm tra thực hiện Bộ tiêu chí cải tiến chất lượng bệnh viện, Bộ tiêu chí xanh-sạch-đẹp; Đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh tại các cơ sở y tế có giường bệnh trực thuộc. Hiện có 76/76 Trạm y tế xã phường đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã.

6.4. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 8, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 09 vụ tai nạn giao thông, tập trung ở đường bộ. So với tháng trước tăng 02 vụ và so với cùng kỳ năm trước tăng 05 vụ, chỉ tập trung ở đường bộ. Trong đó, có tổng cộng 10 người chết so với tháng trước tăng 02 người và so với cùng kỳ năm trước tăng 07 người (tập trung ở đường bộ). Tổng số có 02 người bị thương, so với tháng trước tăng 02 người và so với cùng kỳ năm trước là tương đương, tập trung ở đường bộ.

Trong 08 tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 66 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 64 vụ, đường thủy 02 vụ), làm chết tổng cộng 63 người (đường bộ chết 61 người, đường thủy 02 người) và bị thương 14 người (tập trung ở đường bộ). So với cùng kỳ năm trước số vụ giảm 02 vụ (tập trung ở đường bộ), số người chết tăng 04 người (đường bộ tăng 02 người, đường thủy tăng 02 người) và số người bị thương giảm 13 người, tập trung ở đường bộ ./.