Tháng 9
20:23 30/09/2019

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang

tháng 8, ước tháng 9, ước quý III và 9 tháng năm 2019

 

1. Tài chính - Tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu ngân sách nhà nước tháng 9, được 569,720 tỷ đồng, lũy kế được 7.331,622 tỷ đồng, đạt 104,60% dự toán Trung ương giao, đạt 79,78% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, thu nội địa được 263,765 tỷ đồng, lũy kế được 2.455 tỷ đồng, đạt 71,93% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Thu Trung ương trợ cấp được 269,719 tỷ đồng, lũy kế được 2.631,120 tỷ đồng, đạt 77,70% dự toán Trung ương giao, đạt 76,79% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi ngân sách nhà nước tháng 9, được 581,312 tỷ đồng, luỹ kế được 5.354,824 tỷ đồng, đạt 88,57% dự toán Trung ương giao, đạt 64,53% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, chi xây dựng cơ bản được 253,696 tỷ đồng, luỹ kế được 2.283,266 tỷ đồng, đạt 112,15% dự toán Trung ương giao, đạt 64,10% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chi thường xuyên được 327,616 tỷ đồng, lũy kế được 2.948,543 tỷ đồng, đạt 75,48% dự toán Trung ương giao, đạt 64,65% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 31 tháng 8, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 14.102 tỷ đồng, tăng 16,63% so với cuối năm 2018. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối ngân hàng thương mại nhà nước huy động được 9.315 tỷ đồng (chiếm 66,06% trên tổng huy động), khối ngân hàng thương mại cổ phần huy động được 4.348 tỷ đồng (chiếm 30,83% trên tổng huy động), phần còn lại là của ngân hàng chính sách xã hội và quỹ tín dụng nhân dân. Vốn huy động đáp ứng được 62,92% cho hoạt động tín dụng. Dự báo đến ngày 30 tháng 9, tổng vốn huy động trên địa bàn được 14.321 tỷ đồng, tăng 18,43% so với cuối năm 2018.

Đến ngày 31 tháng 8, tổng dư nợ cho vay trên địa bàn được 22.413 tỷ đồng, tăng 2,27% so với cuối năm 2018. Trong tổng dư nợ trên địa bàn thì khối ngân hàng thương mại nhà nước được 15.842 tỷ đồng (chiếm 70,68% trên tổng dư nợ), khối ngân hàng thương mại cổ phần được 4.185 tỷ đồng (chiếm 18,67% trên tổng dư nợ), phần còn lại là của ngân hàng chính sách xã hội và quỹ tín dụng nhân dân. Ước thực hiện đến ngày 30 tháng 9, tổng dư nợ cho vay trên toàn địa bàn được 22.642 tỷ đồng, tăng 3,32% so với cuối năm 2018.

Nợ xấu đến ngày 31 tháng 8, toàn tỉnh là 731 tỷ đồng, chiếm 3,26% trên tổng dư nợ. Ước đến ngày 30 tháng 9, nợ xấu toàn địa bàn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.

2. Vốn đầu tư và xây dựng

2.1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 17 tháng 9 , kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang sau khi điều chỉnh và bổ sung năm 2019 là 18.851,224 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.145,224 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.865 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 14.841 tỷ đồng.

Vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 8 là 1.720,905 tỷ đồng, bằng 101,87% so với tháng trước và bằng 119,88% so với cùng kỳ năm trước. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 210,015 tỷ đồng, bằng 108,62% so với tháng tr­ước và bằng 156,45% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 190,350 tỷ đồng, bằng 102,50% so với tháng tr­ước và bằng 235,90% so với cùng kỳ năm tr­ước.

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 1.320,540 tỷ đồng, bằng 100,78% so với tháng tr­ước và bằng 108,19% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính tháng 9, vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện được 1.694,195 tỷ đồng, bằng 123,16% so với cùng kỳ năm trước và bằng 98,45% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư giảm so với tháng trước là do: Một số đơn vị chủ đầu tư chưa chủ động triển khai ngay lập thủ tục các dự án khi giao kế hoạch vốn; vào mùa mưa nên ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các công trình trọng điểm; các dự án của nhà đầu tư thực hiện còn chưa đúng kế hoạch đã đăng ký ở các Khu, cụm Công nghiệp.

Ước tính 9 tháng, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 14.580,370 tỷ đồng, bằng 108,29% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 77,34% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.530,880 tỷ đồng, bằng 99,51% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 71,36% so với kế hoạch năm.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 1.334,613 tỷ đồng, bằng 144,79% so với cùng kỳ năm trước và đạt 71,56% so với kế hoạch năm.                        

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 11.714,877 tỷ đồng, bằng 106,46% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 78,94% so với kế hoạch năm

2.2. Xây dựng

Giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành quý II thực hiện được 1.847,554 tỷ đồng, so với quý trước (1.471,214 tỷ đồng) bằng 125,58% và so với cùng kỳ năm trước bằng 122,81%. Trong đó, loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 827,693 tỷ đồng; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 1.019,861 tỷ đồng. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện quý II như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 1.091,903 tỷ đồng, so với quý trước (940,274 tỷ đồng) bằng 116,13% và so với cùng kỳ năm trước bằng 161,72%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 454,914 tỷ đồng, so với quý trước (201,636 tỷ đồng) bằng 225,61% và so với cùng kỳ năm trước bằng 185,41%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 248,983 tỷ đồng, so với quý trước (279,646 tỷ đồng) bằng 89,04% và so với cùng kỳ năm trước bằng 50,96%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 51,754 tỷ đồng, so với quý trước (49,658 tỷ đồng) bằng 104,22% và so với cùng kỳ năm trước bằng 54,33%.

Tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành 6 tháng đầu năm trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 3.318,768 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (2.940,300 tỷ đồng) bằng 112,87%. Trong đó, loại hình Doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 1.651,931 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 88,64%; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 1.288,369 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 143,94%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện 6 tháng như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 2.032,177 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (1.328,870 tỷ đồng) bằng 152,93%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 656,550 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (515,920 tỷ đồng) bằng 127,26%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 528,629 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (874,575 tỷ đồng) bằng 60,44%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 101,412 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (220,935 tỷ đồng) bằng 45,90%.

Ước tính quý III, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 1.727,148 tỷ đồng, so với quý trước bằng 93,48% và so với cùng kỳ năm trước (1.640,776 tỷ đồng) bằng 105,26%. Trong đó, loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 790,376 tỷ đồng, so với quý trước bằng 95,49% và so với cùng kỳ năm trước bằng 114,62%; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 936,772 tỷ đồng, so với quý trước bằng 91,85% và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,48%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình ước thực hiện trong quý III như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 941,018 tỷ đồng, so với quý trước bằng 86,18% và so với cùng kỳ năm trước bằng 91,58%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 476,275 tỷ đồng, so với quý trước bằng 104,70% và so với cùng kỳ năm bằng 276,10%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 246,795 tỷ đồng, so với quý trước bằng 99,12% và so với cùng kỳ năm trước bằng 70,14%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 63,060 tỷ đồng, so với quý trước bằng 121,85% và so với cùng kỳ năm trước bằng 70,97%.

Tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành 9 tháng trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 5.045,916 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (4.581,076 tỷ đồng) bằng 110,15%. Trong đó, loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 2.254,700 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 96,29%; loại hình khác gồm Xã, Phường, Thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 2.791,216 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 124,63%. Giá trị ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện 9 tháng như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 2.973,195 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (2.356,430 tỷ đồng) bằng 126,17%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 1.132,825 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (688,420 tỷ đồng) bằng 164,55%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 775,424 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (1.226,441 tỷ đồng) bằng 63,23%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 164,472 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (309,785 tỷ đồng) bằng 53,09%.

Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng thực hiện 9 tháng năm tăng so với cùng kỳ năm trước là do hiện nay giá cả nhóm hàng vật liệu xây dựng, chi phí máy thi công và chi phí nhân công tăng cao; một số công trình cơ bản đã hoàn thành đưa vào sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư và nhà thầu góp phần làm tăng giá trị sản xuất; tiếp tục thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ, thắt chặt tiết kiệm chi tiêu, kiềm chế lạm phát, chống lãng phí.

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Hiện nay, vụ lúa hè thu toàn tỉnh đã xuống giống được 78.081,6 ha, đạt 101,88% so với kế hoạch (kế hoạch của tỉnh là 76.640 ha), so với cùng kỳ năm trước tăng 1,31%, hiện đã thu hoạch dứt điểm, năng suất thu hoạch ước được 59,91 tạ/ha so với cùng kỳ giảm 0,37%, sản lượng lúa toàn vụ được 467.787 tấn, tăng 0,94% (bằng 4.335 tấn) so với cùng kỳ.

Tính đến thời điểm hiện tại, lúa thu đông đã xuống giống được 38.121,3 ha, ước toàn vụ diện tích xuống giống được 39.919 ha, lúa đang ở giai đoạn làm đòng đến trổ chín. Hiện nay, lúa đã thu hoạch được 423,5 ha, các giống lúa được sử dụng chủ yếu như: OM5451 chiếm 82,94%, IR50404 chiếm 6,82%, đài thơm 8 chiếm 1,81%, OM 18 chiếm 5,65%, giống khác chiếm 2,78%.

Bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại lúa thu đông như: Ốc bươu vàng, rầy nâu, sâu cuốn lá đặc biệt bệnh đạo ôn cổ bông và bệnh lem lép hạt đang phát triển gây hại lúa. Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đang được ngăn chặn kịp thời.

Trong 9 tháng, diện tích gieo trồng ngô ước được 2.325,1 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 1,98% (bằng 46,96 ha), năng suất thu hoạch ước được 58,51 tạ/ha, sản lượng thu hoạch ước được 13.603 tấn, tăng 1,21% (bằng 162,15 tấn).

Cây mía niên vụ 2019, đã xuống giống được 8.314 ha, giảm 21,43% so với cùng kỳ (bằng 2.268 ha), diện tích gieo trồng giảm do giá cả thấp chi phí cao, nông dân chuyển sang trồng cây hàng năm và cây lâu năm khác. Mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, Long Mỹ, Thành phố Vị Thanh và Thị xã Ngã Bảy. Diện tích thu hoạch 9, tháng được 1.124 ha, tăng 50,87% (bằng 379 ha) so với cùng kỳ, chủ yếu là bán mía ép lấy nước.

Ngành chức năng đã tiếp tục duy trì công tác giám sát, tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh, đồng thời báo cáo diễn biến tình hình dịch bệnh hàng ngày về cơ quan quản lý. Ước tính thực hiện trong tháng 9, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

Đàn gia cầm: Có 4.240 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 5,37% (bằng 216 ngàn con). Sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm được 7.342,34 tấn, tăng 4,59% (bằng 322,03 tấn).

Đàn trâu ước được 1.485 con, giảm 2,75% (bằng 42 con) so với cùng kỳ, Đàn bò có 3.468 con, tăng 4,55% (bằng 151 con) so với cùng kỳ năm trước, do mới phát sinh một hộ trang trại nuôi bò chiếm tỷ trọng khá trong tổng đàn bò của tỉnh.

Đàn lợn (heo): Có 101.102 con (không tính heo con chưa tách mẹ) so với cùng kỳ năm trước gỉảm 33,02% (bằng 49.848 con). Đàn lợn giảm là do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu phi xảy ra trên địa bàn tỉnh. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 9 tháng đầu năm được 18.885,03 tấn, so với cùng kỳ gỉảm 2,68%  (bằng 519,52 tấn).

Tính đến ngày 19 tháng 9, theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh hậu Giang trên địa bàn tỉnh số lượng heo chết và tiêu hủy tại 2.465 ổ dịch tả lợn Châu phi của 08 huyện/thị xã/thành phố với tổng số heo chết và tiêu hủy là 52.905 con, trọng lượng ước tính khoản 3.238.673 kg. Cụ thể:

- Thành phố Vị Thanh có 253 ổ dịch với 3.974 con chết và tiêu hủy.

- Thị xã Ngã Bảy có 123 ổ dịch với 3.440 con chết và tiêu hủy.

- Thị xã Long Mỹ có 413 ổ dịch với 8.116 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Châu Thành có 199 ổ dịch với 3.791 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Châu Thành A có 171 ổ dịch với 3.705 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Phụng Hiệp có 284 ổ dịch với 5.536 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Vị Thủy có 264 ổ dịch với 5.309 con chết và tiêu hủy.

- Huyện Long Mỹ có 758 ổ dịch với 19.034 con chết và tiêu hủy.

Ngành chức năng đã tiến hành tiêu hủy, tiêu độc khử trùng tại các điểm bị dịch bệnh, lập các chốt kiểm dịch động vật - sản phẩm động vật tại các điểm trên quốc lộ, các tuyến đường chính để kiểm soát việc vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tiêu độc khử trùng các phương tiện đi qua ổ dịch; hiện đang triển khai các biện pháp khẩn cấp khống chế dịch bệnh theo tinh thần Thông tư số 07/2016/TT-BNNPTNT, Kế hoạch số 187/KH-UBND ngày 24/01/2019 của UBND tỉnh về hành động ứng phó khẩn cấp với bệnh dịch tả lợn Châu phi xâm nhiễm trên địa bàn tỉnh Hậu Giang.

Công tác thẩm định, giám sát, kiểm tra, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định, công tác phòng chống cháy rừng đã quán triệt và làm tốt nên diện tích rừng được bảo vệ an toàn.    

Trong 9 tháng, diện tích rừng trồng mới ước được 171,7 ha, so với cùng kỳ tăng 2,39% (bằng 4 ha); về khai thác gỗ, thu nhặt sản phẩm từ rừng, lũy kế từ đầu năm đến nay sản lượng gỗ khai thác được 10.191 m3, so với cùng kỳ tăng 0,64% (bằng 65,2 m3), sản lượng củi khai thác được 77.711 Ster giảm 1,09% (bằng 856,6 Ster) so với cùng kỳ.

Trong 9 tháng đầu năm, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 7.676,75 ha, tăng 2,01% (bằng 151,44 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cá nuôi được 7.521,87 ha, tăng 7,24% (bằng 507,77 ha) so với cùng kỳ năm rước.

Tổng sản lượng thủy sản 9 tháng đầu năm, toàn tỉnh ước được 53.392,24 tấn, tăng 3,35% (bằng 1.733,14 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó, Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 51.097,73 tấn, tăng 3,54% (bằng 1.748,16 tấn). Sản lượng thủy sản khai thác được 2.294,51 tấn, giảm 0,65% (bằng 15,02 tấn).

Diện tích nuôi trồng thuỷ sản 9 tháng so với cùng kỳ tăng do: Cá thả nuôi ruộng sớm hơn cùng kỳ, giá bán cao hơn năm trước, hộ nuôi có lợi nhuận nhiều nên tác động sự tập trung đầu tư của hộ nuôi thủy sản.

Nhìn chung, tình hình sản xuất nông nghiệp trong 9 tháng khó khăn hơn so với năm trước, tình hình sản xuất gieo trồng cây lúa vụ hè thu năm nay năng suất giảm hơn, giá cả giảm, thời tiết không thuận lợi cho giai đoạn thu hoạch lúa hè thu, diện tích cây mía giảm nhưng nông dân chuyển sang trồng cây lúa, cây hoa màu và một số cây lâu năm khác góp phần tăng thu nhập ổn định cho người dân.

4. Tình hình sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá so sánh 2010, thực hiện tháng 8 được 2.183,656 tỷ đồng, tăng 2,74% so với cùng kỳ năm trước. Theo giá thực tế, được 3.122,617 tỷ đồng, tăng 2,70% so với cùng kỳ năm trước. Những tháng gần đây do Công ty cổ phần thủy sản Minh Phú Hậu Giang thiếu nguồn nguyên liệu để hoạt động, nhiều nhất là sản lượng sản xuất tháng 8 giảm 518 tấn so với tháng trước và giảm 372 tấn so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù các ngành còn lại đều tăng, nhưng do giá trị của doanh nghiệp này chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Vì vậy, đã làm giá trị sản xuất tăng không cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 9, tính theo giá so sánh 2010, được 2.271,820 tỷ đồng, tăng 4,04% so với tháng trước và tăng 3,56% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 3.279,925 tỷ đồng, tăng 5,04% so với tháng trước và tăng 4,36% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, ngành chế biến thủy sản đang gặp một số khó khăn như: Việc kiểm soát nguồn nguyên liệu chưa thật sự tốt, dư lượng hóa chất, khiến cho các nhà máy chế biến không đủ khả năng kiểm soát đồng bộ quá trình sản xuất. Bên cạnh đó, vấn đề “thẻ vàng” IUU làm gia tăng khó khăn trong việc xuất khẩu hải sản vào thị trường EU. Với thị trường lớn nhất là Mỹ, các vấn đề về thuế chống bán phá giá mặt hàng tôm và cá tra, chương trình thanh tra cá da trơn và mới nhất là chương trình giám sát thủy sản nhập khẩu (SIMP) đang trở thành sức ép lớn cho hoạt động xuất khẩu thủy sản của Hậu Giang, nên các doanh nghiệp chế biến thủy sản gặp rất nhiều thách thức trong quá trình sản xuất, dẫn đến giảm sản lượng sản xuất do thiếu nguyên liệu sạch đạt tiêu chuẩn để sản xuất. Vì vậy, giá trị sản xuất ước tháng 9 tăng không cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 9 tháng, tính theo giá so sánh 2010, được 19.265,182 tỷ đồng, tăng 6,75% so với cùng kỳ năm trước và đạt 68,63% so với kế hoạch năm. Tính theo giá thực tế, được 27.050,862 tỷ đồng, tăng 8,14% so với cùng kỳ năm trước và đạt 67,95% so với kế hoạch năm. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có trên 178 doanh nghiệp và hơn 4.644 cơ sở cá thể hoạt động sản xuất công nghiệp, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là ngành chủ lực của tỉnh trong những năm vừa qua và chiếm tỷ trọng trên 98,95% trong toàn ngành. Trong đó, một số ngành hoạt động có hiệu quả, tăng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành như: Sản xuất da và sản phẩm có liên quan (tăng 7,81%);  sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (tăng 9,79%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (tăng 30,82%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (tăng 5,77%)… nên làm giá trị sản xuất công nghiệp tăng so với cùng kỳ năm trước.

Ngoài ra, từ đầu năm đến nay không có dự án lớn đi vào hoạt động theo dự kiến của doanh nghiệp đã đề ra. Bên cạnh đó. trong những tháng đầu năm giá xăng, dầu tăng mạnh, cộng thêm giá điện tăng, tác động rất lớn đến chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm giá thành sản xuất tăng. Một số doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, bị thua lỗ và phải tạm ngưng hoạt động hoặc giảm sản lượng sản xuất như: Công ty cổ phần mía đường Cần Thơ; công ty cổ phần dầu khí Bình Minh; công ty cổ phần Minh Phú Hậu Giang… Tổng giá trị của các doanh nghiệp trên đã làm giảm trên 1.179 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước. Vì vậy, giá trị sản xuất công nghiệp chung của toàn tỉnh tăng không cao so với cùng kỳ.

Nhìn chung 9 tháng, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối thấp so với các năm trước. Nếu với đà tăng trưởng như hiện nay thì giá trị sản xuất công nghiệp có khả năng không đạt kế hoạch năm đã đề ra. Do vậy, các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp đang đầu tư sớm đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới

Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

- Chỉ số (IIP) dự tính tháng 9, tăng 4,19% so với tháng trước và tăng 5,49% so với cùng kỳ. Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 20,66% so với cùng kỳ. Trong đó, tăng chủ yếu ở các nhóm hàng: Xay xát và sản xuất bột thô tăng 93,97%, sản xuất đồ uống tăng 57,32%; sản xuất da và sản phẩm có liên quan tăng 38,97%; sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic tăng 65,12%; sản xuất các sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 88,85%... Còn lại một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm so với cùng kỳ, nhưng do các ngành trên có tỷ trọng thấp, nên không ảnh hưởng nhiều đến chỉ số tiêu thụ chung của toàn ngành. Chỉ số tồn kho của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 9,14% so với cùng thời điểm năm 2018. Trong đó, chỉ số tồn kho ngành chế biến thực phẩm giảm 19,01%; chỉ số tồn kho ngành sản xuất đồ uống giảm 93,63%; chỉ số tồn kho ngành sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic giảm 93,25 %...

- Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng, tăng 7,60% so với cùng kỳ, đây là mức tăng trưởng thấp nhất từ năm 2017 đến nay (cùng kỳ năm 2017 tăng 14,74 %; năm 2018 tăng 12,84 %). Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,59%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,21%, cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,56%.

Qua các số liệu trên cho thấy các doanh nghiệp hoat động công nghiệp đã có kế hoạch trong việc sản xuất và tiêu thụ, hạn chế, không để tình trạng hàng hóa tồn kho nhiều, ảnh hưởng đến doanh thu của doanh nghiệp.

5. Thương mại và dịch vụ

5.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Trong tháng 8, doanh thu các ngành dịch vụ và nhu cầu tiêu dùng trong dân tăng, do đây là thời điểm sắp bước vào năm học mới. Các nhóm hàng phục vụ cho năm học mới tăng cao trong tháng là may mặc, giày dép, vật phẩm văn hóa, giáo dục, phương tiện đi lại… Lượng hàng hóa trong tháng còn được tiêu thụ mạnh trong hội chợ mua sắm và ẩm thực hàng Việt Nam - Thái Lan diễn ra tại thành phố Vị Thanh (từ ngày 08/8 đến 18/8) đã thu hút một lượng lớn khách hàng trong tỉnh và các vùng lân cận đến tham quan, mua sắm.  Ngoài ra, hàng hóa phục vụ cho Tết Trung thu  gồm các mặt hàng bánh, kẹo, lồng đèn trung thu được bày bán khá đa dạng, các ngành dịch vụ nhờ đó cũng tăng hơn so với tháng trước.

Thực hiện tháng 8, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.015,530 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 103,89% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,51%. Chia ra:

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.223,016 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 103,16% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,11%.

- Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 289,100 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 103,65% và so với cùng kỳ năm trước bằng 116,32%.

- Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 503,414 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 107,34% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,62%.

Ước thực hiện tháng 9, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.122,913 tỷ đồng, so với thực hiện tháng trước bằng 103,56% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,46%. Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.293,872 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 103,19% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,03%. Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 530,988 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 105,48% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,09%.

Bước qua tháng 9, các nhóm hàng hóa phục vụ cho năm học mới tiếp tục có xu hướng tăng nhưng thấp hơn so với mức tăng của tháng trước, vì thời điểm này học sinh đã bước vào năm học nên nhu cầu mua sắm đồ dùng, dụng cụ học tập đã bão hòa. Một số nhóm hàng hóa khác có mức tăng trung bình do thời tiết trong tháng không thuận lợi cho kinh doanh, mua bán, lại không phải là mùa vụ thu hoạch trong năm nên nhu cầu tiêu dùng và sản lượng hàng hóa cung cấp ra thị trường không có nhiều biến động.

Đối với ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống và các ngành dịch vụ khác trên địa bàn tỉnh trong tháng cũng có mức tăng trung bình so với tháng trước. Tuy trong tháng diễn ra các hoạt động kỷ niệm ngày Quốc khánh 2/9 và tết Trung thu nhưng do tác động của thời tiết không thuận lợi và nhu cầu tiêu dùng trong dân không cao nên doanh thu của các ngành dịch vụ tăng không cao so với tháng trước.

Ước thực hiện 9 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 28.364,721 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 109,20%, so với kế hoạch đạt 76,44%. Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa thực hiện được 21.141,721 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 109,09%. Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 2.546,325 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 110,69%.

Hoạt động thương mại, dịch vụ 9 tháng có tốc độ tăng trưởng khá tốt. Xu hướng tăng là do hoạt động của loại hình kinh tế tư nhân, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xăng, dầu, vật liệu xây dựng và vật tư nông nghiệp. Trong đó, hình thức bán buôn ngày càng chiếm vị trí quan trọng và chiếm tỷ trọng cao trong toàn ngành thương mại nói chung (chiếm 39,97%). Hiện nay, các doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu, vật liệu xâu dựng có tỷ trọng bán buôn cao và có nhiều chi nhánh hoạt động trên các tỉnh khác. Ngoài ra, các doanh nghiệp kinh doanh bán lẻ cũng có xu hướng tăng đầu tư vào thị trường trong tỉnh, chiếm vị trí quan trọng là các nhà cung cấp bán lẻ trong các siêu thị, doanh nghiệp kinh doanh xe máy và phụ tùng xe máy, nhờ đó giá trị ngành thương mại trong tỉnh ngày càng tăng lên.

Đối với các ngành dịch vụ thì tỷ trọng doanh thu thấp hơn, số lượng doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực này còn hạn chế, nhất là ngành lưu trú, ăn uống. Ngành dịch vụ chủ yếu là hoạt động của các cơ sở kinh doanh cá thể có quy mô nhỏ và vừa nên hiệu quả chưa cao, đem lại nguồn thu chưa lớn. Bên cạnh đó, Hậu Giang là tỉnh xuất phát từ nông nghiệp, du lịch chưa phát triển, chưa có nhiều địa điểm kinh doanh vui chơi giải trí nổi bậc đem lại nguồn lợi lớn nên còn hạn chế số lượng khách từ nơi khác đến.

Nhìn chung, trước khó khăn của tình hình dịch bệnh trên heo và thời tiết không thuận lợi để sản xuất, kinh doanh, giá cả hàng hóa bấp bênh. Do đó, những tháng cuối năm cần thực hiện tốt hơn nữa công tác tổ chức hoạt động hội chợ; xúc tiến thương mại; chương trình đưa hàng Việt về nông thôn; chương trình người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam và một số công tác trọng tâm khác nhằm đáp ứng tốt nhu cầu mua sắm của người dân để thực hiện tốt kế hoạch đề ra trong năm 2019.

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện tháng 8 được 87,927 triệu USD, so với tháng trước bằng 101,31% và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,02%. Chia ra: Xuất khẩu được 63,829 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 140,39% và so với cùng kỳ năm trước bằng 90,73%. Nguyên nhân giá trị xuất khẩu hàng hóa trực tiếp tăng so với tháng trước là do kim ngạch xuất khẩu mặt hàng tôm chế biến các loại tăng cao so với tháng trước, tăng 124,30%, thị trường xuất đi có giá trị tăng nhiều nhất là Mỹ, tăng rất cao so với tháng trước (khoảng hơn 14 triệu USD). Các nhóm hàng xuất khẩu khác còn lại trong tháng vẫn có giá trị ổn định. Vì vậy, giá trị xuất khẩu tăng. Nhập khẩu được 24,098 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 58,41% và so với cùng kỳ năm trước bằng 124,50%.

Ước thực hiện tháng 9, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 94,350 triệu USD, so với tháng trước bằng 107,30% và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,91%. Chia ra: Xuất khẩu ước thực hiện được 67,437 triệu USD so với tháng trước bằng 105,65% và so với cùng kỳ năm trước bằng 113,32%. Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu tăng so với tháng trước là do trong thời gian tới có những điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp có thể tăng giá trị xuất khẩu. Hiệp định Thương mại Tự do mà Việt Nam ký kết với Khối các nước Châu Âu (EU) và Hiệp định đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã bắt đầu chính thức có hiệu lực. Thêm vào đó, sau đợt rà soát hành chính thuế chống bán phá giá của Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) áp dụng đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản của Việt Nam ở mức 0% đã tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp có thể tận dụng lợi thế để tăng xuất khẩu trong những tháng tới. Vì vậy, dự báo giá trị xuất khẩu trực tiếp hàng hóa có thể sẽ tăng. Nhập khẩu ước thực hiện được 26,913 triệu USD so với tháng trước bằng 111,68% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,91%.

Ước thực hiện 9 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 703,942 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 92,40% và so với kế hoạch năm đạt 67,69%. Trong đó, xuất khẩu ước thực hiện được 411,574 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 79,82% và so với kế hoạch năm đạt 56,46%.

Nhìn chung, tình hình xuất khẩu trong 9 tháng có sự sụt giảm đáng kể so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm hàng giảm nhiều nhất là các loại thủy hải sản chế biến và sản phẩm giấy. Mức giảm của từng nhóm hàng so với cùng kỳ lần lượt là 29,33% và 55,58%. Có nhiều nguyên nhân gây ra sự sụt giảm nhưng chủ yếu nhất vẫn là thị trường và nguồn nguyên liệu. Cụ thể, đối với nhóm hàng thủy sản đây là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu chủ yếu trên địa bàn tỉnh, chiếm gần 50% tổng giá trị chung. Thị trường xuất khẩu chính chủ yếu là Mỹ và các nước EU trong những tháng đầu năm, các lô hàng xuất đi do không đáp ứng được các yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm, dư lượng chất kháng sinh trong sản phẩm vượt quá mức quy định nên nhiều lô hàng đã bị phía nhà nhập khẩu trả lại, kết quả làm ảnh hưởng trực tiếp khiến giá trị xuất khẩu chung giảm mạnh so với cùng kỳ. Ngoài ra, vấn đề thiếu hụt nguồn nguyên liệu trong sản xuất và chế biến cũng làm cho các doanh nghiệp không chủ động để ký kết các hợp đồng sản xuất xuất khẩu với quy mô lớn. Do đó, không thể góp phần làm tăng giá trị để bù đắp lượng kim ngạch đã sụt giảm trước đó. Vì vậy, giá trị xuất khẩu 9 tháng năm 2019 sụt giảm nhiều so với cùng kỳ. Nhập khẩu ước thực hiện được 249,009 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 123,10% và so với kế hoạch năm đạt 99,60%. Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 42,624 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 98,48% và so với kế hoạch năm đạt 71,04%.

Dự báo tình hình xuất nhập khẩu trong những tháng cuối năm sẽ có mức tăng trưởng cao hơn so với những tháng trước. Công ty cổ phần Thủy sản Minh Phú Hậu Giang chiếm tỷ trọng xuất khẩu khoảng 50% trên địa bàn đã có giá trị tăng trở lại trong tháng 9, cụ thể đã tăng 145,84% về giá trị xuất khẩu so với tháng trước. Tuy nhiên, tính về tổng giá trị xuất khẩu chung ước cả năm 2019 vẫn giảm so với cùng kỳ, nguyên nhân là do trong những tháng đầu năm giá trị xuất khẩu của doanh nghiệp này giảm rất nhiều và dự tính tổng giá trị xuất khẩu từ đây đến cuối năm của doanh nghiệp này rất có thể sẽ không đủ để bù lại giá trị sụt giảm trước đó.

Nhìn chung hiện nay, tình hình xuất nhập khẩu trên địa bàn của các doanh nghiệp vẫn còn nhiều khó khăn. Việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm minh bạch để được giảm thuế, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm và việc gia tăng các biện pháp bảo hộ sản phẩm trong nước, thông qua các tiêu chuẩn về quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm của các nước nhập khẩu vẫn là những thách thức lớn nhất mà các doanh nghiệp còn đang mắc phải. Vì vậy, trong thời gian tới, các doanh nghiệp cần chủ động hơn trong việc xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, cần tận dụng tối đa những lợi thế và cơ hội từ thị trường mang lại giữa bối cảnh cuộc thương chiến Mỹ - Trung đang ngày càng quyết liệt. Để thực hiện tốt điều đó, ngay từ bây giờ doanh nghiệp cần mạnh dạn đầu tư ứng dụng các công nghệ, kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất để gia tăng nâng cao chất lượng sản phẩm. Đổi mới, tăng cường công tác quảng bá, phối hợp xúc tiến thương mại để thu hút đầu tư, tìm kiếm thị trường xuất khẩu tiềm năng mới nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh, từng bước đáp ứng được yêu cầu của các thị trường khó tín, giúp hàng hóa có thể xuất đi dễ dàng hơn và góp phần làm tăng giá trị xuất khẩu chung.

5.3. Tình hình giao thông vận tải

Tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện trong tháng 8 được 108,868 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 120,64%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 36,815 tỷ đồng bằng 96,24% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 43,181 tỷ đồng bằng 111,12% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 28,872 tỷ đồng bằng 219,96% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện trong tháng 9 được 112,387 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 119,47%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 37,536 tỷ đồng bằng 94,65% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 45,133 tỷ đồng bằng 116,15% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 29,718 tỷ đồng bằng 191,09% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do trong năm 2019 đánh dấu sự đầu tư phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ cho thuê kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bốc xếp hàng hóa. Nhiều doanh nghiệp lớn tại hai khu công nghiệp trên địa bàn huyện Châu Thành và Châu Thành A không ngừng mở rộng quy mô đầu tư, đến thời điểm hiện tại đã hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng. Vì vậy, đã làm giá trị doanh thu chung của ngành vận tải tăng so với cùng kỳ.

Ước thực hiện 9 tháng, tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi trên địa bàn được 863,121 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 101,90%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 326,810 tỷ đồng, bằng 92,04% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 371,403 tỷ đồng, bằng 99,35% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 164,909 tỷ đồng, bằng 139,59% so với cùng kỳ năm trước. Đến thời điểm hiện tại, ngành vận tải trên địa bàn đã có sự tăng trưởng trở lại so với cùng kỳ năm trước, mặc dù mức tăng không cao. Nguyên nhân chủ yếu là do sự gia tăng giá trị của các doanh nghiệp hoạt động vận tải hàng hóa (cả về đường bộ lẫn đường sông) và giá trị của các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ vận tải trên địa bàn. Dự báo những tháng cuối năm doanh thu của các doanh nghiệp này sẽ tăng lên do tận dụng được lợi thế gần cảng biển và các khu công nghiệp nên nhận được nhiều hợp đồng thuê kho và thuê vận chuyển đến từ các doanh nghiệp lớn trong khu công nghiệp và các doanh nghiệp có dự án đầu tư trong khu. Vì vậy, đã góp phần làm tăng giá trị của ngành vận tải so với cùng kỳ.

Dự báo về tình hình chung của ngành vận tải trên địa bàn trong năm 2019 sẽ có sự tăng trưởng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù, hiện nay tình hình thời tiết xấu thường xuyên có mưa bão gây khó khăn và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động vận chuyển, luân chuyển của các cơ sở cá thể vận tải và doanh nghiệp. Hiện nay, ngành vận tải trên địa bàn đang có xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành mạnh mẽ, thay vì trước đây chủ yếu phụ thuộc vào giá trị vận chuyển hàng hóa và hành khách thì ở thời điểm hiện tại ngành vận tải chủ yếu phát triển thiên về hướng dịch vụ cho thuê kho bãi và hỗ trợ vận tải cùng với bưu chính và chuyển phát. Từ năm 2017 cho đến nay, tỷ trọng hoạt động của khu vực này không ngừng tăng lên năm sau luôn cao hơn năm trước lần lượt là 10,06% năm 2017, 13,58% năm 2018 và dự tính năm 2019 có thể ở mức 19,87%. Các doanh nghiệp vẫn đang tiếp tục đầu tư mở rộng kho, bến bãi để phục vụ cho các doanh nghiệp lớn đang có nhiều hạng mục đầu tư tại các khu công nghiệp trên địa bàn huyện Châu Thành và Châu Thành A. Vì vậy, dự đoán từ đây đến cuối năm giá trị của khu vực dịch vụ vận tải sẽ còn tăng nhiều hơn nữa và sẽ góp phần vào sự tăng trưởng chung của ngành vận tải.

Thực hiện tháng 8, hàng hoá vận chuyển được 770.504 tấn (68.970.298 Tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 106,56% (110,92%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 124,26% (205,39%). Chia ra: Đường bộ thực hiện được 205.481 tấn (10.175.575 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 115,81% (114,20%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 117,96% (113,99%). Đường sông thực hiện được 565.022 tấn (58.794.724 tấn.km), so với thực hiện tháng trước bằng 103,56% (110,37%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 126,72% (238,49%).

Ước thực hiện tháng 9, toàn tỉnh vận chuyển được 777.259 tấn hàng hóa các loại (71.273.025 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 100,88% (103,34%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 106,68% (211,75%). Trong đó, đường bộ thực hiện được 208.919 tấn (10.203.910 tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,67% (100,28%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,94% (93,87%).

Ước thực hiện 9 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 5.924.597 tấn hàng hóa các loại (425.440.292 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 103,37% (135,72%). Trong đó, đường bộ thực hiện được 1.437.240 tấn (70.212.985 tấn.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 100,14% (100,37%).

Hành khách vận chuyển thực hiện tháng 8, được 9.428.411 lượt hành khách (54.389.700 HK.Km), so với thực hiện tháng trước bằng 98,51% (105,25%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,09% (101,13%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 7.254.412 lượt hành khách (41.258.318  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 96,22% (104,23%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 94,53% (100,38%). Đường sông vận chuyển được 2.173.999 lượt hành khách (13.131.382 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 106,98% (108,60%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,73% (103,56%).

Ước thực hiện tháng 9, được 9.565.727 lượt hành khách (55.645.100 HK.km), so với tháng trước bằng 101,46% (102,31%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,23% (95,81%). Trong đó, đường bộ vận chuyển được 7.317.250 lượt hành khách (42.203.871  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,87% (102,29%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,61% (94,78%). Đường sông vận chuyển được 2.248.477 lượt hành khách (13.441.229 HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 103,43% (102,36%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,03% (99,18%).

Ước thực hiện 9 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 85.472.377 lượt hành khách (463.808.794 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 94,23% (93,83%). Chia ra: Đường bộ vận chuyển được 66.008.812 lượt hành khách (344.471.510 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 93,50% (92,23%). Đường sông vận chuyển được 19.463.565 lượt hành khách (119.337.284 HK.km), so với cùng kỳ năm trước bằng 96,81 % (98,77 %).

6. Các vấn đề văn hóa và xã hội, y tế và giáo dục

6.1. Tình hình thực hiện văn hóa

Trong 9 tháng năm 2019 là thời gian có tết nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019 và các ngày kỷ niệm quan trọng của đất nước. Tỉnh Hậu Giang đã tổ chức kịp thời và hiệu quả các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí mừng Đảng quang vinh – mừng Xuân Kỷ Hợi năm 2019. Lễ hội giao thừa, bắn pháo hoa thu hút nhiều người đến xem; đồng thời tuyên truyền phục vụ kịp thời các ngày lễ, sự kiện lớn của tỉnh Hậu Giang nói riêng và cả nước nói chung.

Song song đó, ngành Văn hóa Thể Thao và Du Lịch tỉnh tuyên truyền ý nghĩa các ngày lễ lớn, nhiệm vụ chính trị, công tác trọng tâm của địa phương như:

Chuỗi hoạt động chào mừng kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh như: Chương trình Vầng trăng cổ nhạc; họp mặt kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh Hậu Giang (01/01/2004 - 01/01/2019) và chào đón năm mới 2019; tổ chức đêm văn nghệ chào mừng Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4; tổ chức Hội trại Tuổi trẻ quân Khu 9 làm theo lời Bác tại căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ, xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang; họp mặt kỷ niệm 89 năm Ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam và 51 năm cuộc tổng tiến công và nổi dậy tết Mậu thân năm 1968; chương trình phục vụ nông thôn đợt 1 và đọt 2 năm 2019; phục vụ 44 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2019) và 133 năm Ngày Quốc tế lao động (01/5/1986 - 1/5/2019) và kỷ niệm 129 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1980 - 19/5/2019); tiếp tục tuyên truyền về “Đẩy mạnh Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; tuyên truyền kỷ niệm 72 năm ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947-27/7/2019); kỷ niệm 74 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 -02/9/2019) và kỷ niệm 50 năm thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh,…

Công tác thông tin, tuyên truyền được tăng cường, thông tin kịp thời hiệu quả các hoạt động như: Thông tin tuyên truyền về các sự kiện chính trị lớn; về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các biện pháp chỉ đạo, điều hành của cấp ủy và chính quyền địa phương; tuyên truyền thực hiện các cuộc vận động chính trị lớn của đất nước; tuyên truyền bảo vệ chủ quyền biển đảo; đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch về các vấn đề tôn giáo, dân tộc; tuyên truyền phòng chống thiên tai, dịch bệnh; phản ánh và đề xuất các biện pháp giải quyết các vấn đề bức xúc về an sinh xã hội, v.v...

Ngành Văn hóa - Thể thao và Du lịch đã thực hiện được 13.320m2 panô các loại, 438 băng rôn và hơn 16.900 cờ các loại, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành. Thực hiện maket, in và phát hành tới các ban ngành đoàn thể cấp tỉnh và tới các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh 1.000 tờ tin ảnh, phản ánh các hoạt động “Mừng Đảng quang vinh - Mừng Xuân Kỷ Hợi 2019”.

Tham gia Liên hoan Tuyên truyền lưu động toàn quốc kỷ niệm 60 năm ngày mở đường Trường Sơn và truyền thống Bộ đội Trường Sơn (19/5/1959 - 19/5/2019) tại các tỉnh Miền Trung và Tây Nguyên.

Tham gia Hội thi tìm hiểu về chủ quyền và phát triển bền vững biển, đảo Việt Nam (từ ngày 18 - 22/6/2019), tại thành phố Cần Thơ. Kết quả: Đạt 01 giải ba xe tuyên truyền và 03 giải khuyến khích.

Tổ chức thành công: Cuộc thi Văn nghệ quần chúng tỉnh Hậu Giang năm 2019, diễn ra từ ngày 25 đến ngày 28 tháng 01 năm 2019 tại Khu văn hóa Hồ Sen, phường I, thành phố Vị Thanh. Với sự tham gia của 08 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Kết quả, Ban Tổ chức đã trao 05 giải sáng tác, dàn dựng, biên đạo múa; 07 giải diễn viên xuất sắc và 08 giải toàn đoàn. Hoạt động liên tịch và công tác hỗ trợ thực hiện được 30 cuộc phục vụ: Chuỗi hoạt động chào mừng kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh như: Chương trình Vầng Trăng cổ nhạc; họp mặt kỷ niệm 15 năm thành lập tỉnh Hậu Giang (01/01/2004 - 01/01/2019) và chào đón năm mới 2019; tổ chức đêm văn nghệ chào mừng ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4; tổ chức Hội trại Tuổi trẻ quân Khu 9 làm theo lời Bác tại căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ, xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang.

Phối hợp tổ chức phục vụ tốt Lễ dâng hương viếng Bác chào mừng kỷ niệm 74 năm Ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2019) và Quốc khánh Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(02/9/1945 - 02/9/2019) và kỷ niệm 50 năm thực hiện di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Những tháng đầu năm, hệ thống Thư viện tỉnh và huyện, thị xã, thành phố đã phục vụ 586.394 lượt người với 1.172.788 lượt sách báo, truy cập máy tính; cấp 3.154 thẻ bạn đọc. Bổ sung 2.829 bản sách mới, nhận tài trợ 1.169 bản tên do 8 đơn vị tài trợ nhân ngày Sách Việt Nam tỉnh Hậu Giang lần IV năm 2019, từ vốn sách trên Thư viện tỉnh đã tiến hành xử lý và trao tặng cho 10 thư viện cấp xã trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, tiếp nhận 4.490 bản sách từ Dự án “Xe ô tô thư viện lưu động”.

6.2. Tình hình thực hiện giải quyết việc làm và đào tạo nghề

Trong nền kinh tế thị trường, tốc độ phát triển kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó lao động – việc làm được xem là một trong các yếu tố quyết định chính và trực tiếp nhất. Lao động dồi dào và có tay nghề cao, trẻ tuổi... thường thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư trong và ngoài nước, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có việc làm tốt, ổn định và có thu nhập. Tỉnh Hậu Giang là một tỉnh nông nghiệp, nguồn lao động trẻ, dồi dào nhưng chưa được đào tạo đúng mức, tay nghề thấp chiếm tỷ lệ lớn nên chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội, người lao động gặp không ít khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi vẫn còn tương đối cao (Nguồn niên giám Thống kê tỉnh Hậu Giang năm 2018 là 2,71%).

Vì vậy, giải quyết việc làm là một trong những vấn đề bức xúc của tỉnh nói riêng cũng như của cả nước nói chung. Thời gian qua, Tỉnh Uỷ, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Hậu Giang đã ban hành các chủ trương, chính sách cụ thể, thiết thực, phù hợp nhằm khuyến khích, kêu gọi sự đầu tư của doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh, kể cả doanh nghiệp nước ngoài xây dựng các cơ sở mới, quy mô hiện đại hơn, việc quy hoạch các khu, cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp được tỉnh rất chú trọng, đến nay các khu, cụm công nghiệp như: Khu công nghiệp tập trung Nam sông Hậu (huyện Châu Thành), cụm công nghiệp tập trung Tân Phú Thạnh (huyện Châu Thành A), cụm công nghiệp tập trung Vị Thanh (thành phố Vị Thanh), các khu, cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ở các huyện thị đã và đang tiếp tục được xây dựng. Do đó, phần nào giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động trong thời gian qua, đồng thời làm tăng thu nhập ổn định cuộc sống của người dân.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trưởng, chính sách giải quyết việc làm cho người lao động, ngành Lao động thương binh và xã hội phối hợp với các ngành có liên quan, thông qua các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tư vấn giới thiệu việc làm, tạo việc làm trong và ngoài tỉnh. Ước thực hiện 9 tháng đầu năm 2019 như sau:

- Giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 13.219/15.000 lao động, đạt 88,12% kế hoạch năm. Trong đó, đã đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 86/90 lao động, đạt 95,6% kế hoạch năm.

- Đào tạo nghề cho khoảng 8.914/6.500 lao động, đạt 137,14% kế hoạch năm. Trong đó: đào tạo nghề cho lao động nông thôn 3.725 lao động, đào tạo nghề thường xuyên, từ các chương trình, dự án khác 4.653 lao động. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 51,43%.

- Tư vấn việc làm cho 18.928 lao động; có 3.724 lao động đăng ký tìm việc làm; giới thiệu việc làm cho 2.428 lao động.

- Về công tác hỗ trợ tuyển dụng lao động cho doanh nghiệp: đã hỗ trợ giới thiệu, tuyển dụng 11.788 lao động cho 86 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.

- Về công tác đào tạo lao động cho daonh nghiệp: Tỉnh đã tổ chức đào tạo nghề cho 2000 lao động đáp ứng nhu cầu cho 12 doanh nghiệp với các nghề như: may công nghiệp, đan dây nhựa, đan lục bình, cắt uốn tóc, kỹ thuật xây dựng, kỹ thuật chế biến món ăn,...

Tóm lại, Với các chính sách và chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, Hậu Giang đã từng bước thực hiện được công tác giải quyết việc làm, định hướng phát triển cho giai đoạn sắp tới như: chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm… Thực hiện tốt các mục tiêu trên sẽ góp phần vào việc phân bố và sử dụng nguồn lao động xã hội càng hợp lý hơn trong tương lai. Song song đó, Nhà nước cần đầu tư và giám sát thực thi các chính sách dạy nghề, tạo việc làm cho người dân thật tốt; một mặt nâng cao dân trí, hướng dẫn hoặc làm cho người dân biết tự hoạch định đời sống, việc làm cho mình để họ cùng song hành với quá trình phát triển của địa phương và của đất nước.

6.3. Tình hình thực hiện an sinh xã hội và chính sách người có công

Trong 9 tháng đầu năm, ngành Lao động – Thương binh & Xã hội (LĐTBXH) đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh năm 2019; ban hành Kế hoạch rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh năm 2019; tổ chức Hội nghị trực tuyến “Triển khai giải pháp giảm nghèo đối với hộ nghèo là người có công trên địa bàn tỉnh”.

Triển khai thực hiện kịp thời các chính sách, chương trình giảm nghèo với tổng số tiền 184.926 triệu đồng. Cụ thể:

Chi nhánh Ngân hàng chính sách xã hội tỉnh Hậu Giang đã phối hợp với các đơn vị có liên quan đã triển khai cung cấp tín dụng ưu đãi cho 3.337 hộ nghèo, hộ cận nghèo, với số tiền cho vay 113,951 tỷ đồng. 6 tháng đầu năm, có 153.265 người nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội khó khăn và người sinh sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được cấp thẻ BHYT, với kinh phí thực hiện 57.939 triệu đồng; hỗ trợ tiền điện cho 11.641 hộ nghèo về thu nhập, kinh phí thực hiện trên 3.422 triệu đồng; hỗ trợ cho 19.228 hộ nghèo có điều kiện ăn tết, tổng kinh phí hỗ trợ trên 9.614 triệu đồng. Ngoài ra, Toàn tỉnh còn có 4.324 hộ nghèo đăng ký thoát nghèo năm 2019.

Bằng nhiều biện pháp hỗ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất như hỗ trợ vốn và các chương trình lồng ghép khác của dự án xóa đói giảm nghèo và sự nỗ lực vươn lên từ các hộ nghèo, đến nay số hộ nghèo đã giảm đáng kể. Tổng hợp sơ bộ kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2018 theo chuẩn tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, toàn tỉnh có 14.695 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 7,28%, giảm 2,35%, hộ cận nghèo là 10.098 hộ chiếm tỷ lệ 5% giảm 0,94% so với năm 2017. Kết quả này, là cơ sở để nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách hỗ trợ giảm nghèo bền vững. Đồng thời, xúc tiến xây dựng kế hoạch về các dự án, chính sách giảm nghèo giai đoạn 2016-2020.

 Đầu năm đến nay, toàn tỉnh đã tổ chức họp mặt, thăm, tặng quà và trợ cấp thường xuyên cho 266.378 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 99.760,85 triệu đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 1.392 trường hợp với số tiền hơn 7.516,8 triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho 129 trường hợp với số tiền 1.109,4 triệu đồng.

Tổ chức Tọa đàm “Công tác xã hội Việt Nam - Đổi mới, hội nhập và phát triển” với 109 đại biểu tham dự. Tại buổi tọa đàm, Ban tổ chức đã trao Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh cho 05 tập thể và 02 cá nhân có đóng góp tích cực trong hoạt động xã hội – từ thiện trên địa bàn tỉnh.

Tổ chức các hoạt động chăm lo cho người khuyết tật trên địa bàn tỉnh nhân Ngày người khuyết tật Việt Nam (18/4). Đặc biệt là tổ chức Hội nghị biểu dương người khuyết tật tiêu biểu tỉnh Hậu Giang năm 2019, tại Hội nghị biểu dương, Ban Tổ chức đã trao 30 Bằng khen của UBND tỉnh và 100 phần quà cho người khuyết tiêu biểu của tỉnh với tổng số tiền 90 triệu đồng.

 Ngành LĐTBXH Phối hợp với Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh và các đơn vị có liên quan tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày vì nạn nhân chất độc da cam Việt Nam (10/8). Kết quả: tổ chức Họp mặt nạn nhân chất độc da cam với 100 đại biểu tham dự; thành lập Đoàn đến nhà thăm hỏi, tặng 233 phần quà cho nạn nhân chất độc da cam với tổng kinh phí thực hiện gần 100 triệu đồng.

Công tác thực hiện chính sách Người có công luôn được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo sâu sát, uốn nắn kịp thời, nhất là việc triển khai tổ chức thực hiện các quy định mới về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, công tác rà soát thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công. Kết quả thực hiện cụ thể như sau:

Tỉnh đã tổ chức 8 đoàn đi thăm, chúc tết và tặng 1.880 phần quà cho các gia đình chính sách, người có công tiêu biểu với số tiền 940 triệu đồng. Sở Lao động – Thương binh & Xã hội phối hợp với các ngành, đoàn thể thành lập Đoàn đến thăm và tặng 363 phần quà cho các thương bệnh binh, người có công với cách mạng đang nằm điều trị tại các Bệnh viện, Trung tâm Y tế trong tỉnh với số tiền 181,5 triệu đồng.

Tiếp nhận mới 1.943 hồ sơ các loại. Đã xét giải quyết 1.806 hồ sơ. Trong đó, đạt 1.353 hồ sơ; không đạt 453 hồ sơ. Còn lại 137 hồ sơ đang tiếp tục xem xét, giải quyết.

Tổ chức thực hiện việc lấy 2.762 mẫu sinh phẩm hài cốt liệt sĩ tại Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Hậu Giang. Tham mưu UBND tỉnh đề nghị Bộ LĐTBXH trình Thủ tướng Chính phủ cấp mới bằng Tổ quốc ghi công cho 06 trường hợp thân nhân liệt sĩ đã được giải quyết chế độ ưu đãi trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 nhưng chưa được cấp Bằng Tổ quốc ghi công.

Tổ chức đưa, đón 101 người có công với cách mạng đi tham quan thủ đô Hà Nội, viếng lăng Bác và gặp mặt các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; 98 người có công đi tham quan, điều dưỡng tập trung tại huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu và thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng; tổ chức đưa, đón 305 người có công với cách mạng đi điều dưỡng tập trung tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.

- Trong quý III, ngành LĐTBXH đã phối hợp với các đơn vị có liên quan triển khai tổ chức các hoạt động kỷ niệm 72 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2019), cụ thể:  Toàn tỉnh đã tổ chức Họp mặt, thăm, tặng 38.674 phần quà cho người có công với số tiền 10.637,25 triệu đồng (Trong đó: kinh phí Trung ương 2.591,6 triệu đồng; kinh phí địa phương 7.138 triệu đồng; kinh phí vận động 907,65 triệu đồng). Tổ chức “Lễ tuyên dương khen thưởng cấp Nhà nước, họp mặt Người có công với cách mạng kỷ niệm 72 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2019)” với trên 500 đại biểu tham dự. Nhân dịp này, tỉnh đã tổ chức Lễ phong, truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho 08 Mẹ; trao Bằng tổ quốc ghi công cho 02 gia đình liệt sĩ; trao tặng Huân chương Độc lập cho 89 gia đình có nhiều liệt sĩ; trao tặng 440 phần quà cho người có công với số tiền 220 triệu đồng; Thành lập 08 Đoàn công tác của lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng 108 phần quà cho Mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh, bệnh binh có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên, có sức khỏe yếu không đi lại với 108 triệu đồng; Thành lập 04 Đoàn công tác đi thăm, tặng 300 phần quà cho người có công đang nằm điều trị tại các bệnh viện, Trung tâm Y tế trên địa bàn tỉnh với 150 triệu đồng;

- Tổ chức Hội nghị gặp gỡ và trao đổi thông tin đến người có công về các chính sách ưu đãi người có công với cách mạng năm 2019 tại xã Phương Phú, huyện Phụng Hiệp và xã Tân Tiến, thành phố Vị Thanh với 300 đại biểu tham dự; tổ chức đưa, đón 05 người có công của tỉnh tham dự Hội nghị biểu dương người có công tiêu biểu toàn quốc năm 2019 tại Hà Nội; viếng và thắp nến tri ân tại Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh.

Những đóng góp, hỗ trợ tuy không nhiều nhưng đã thể hiện được sự quan tâm của các cấp, các ngành đối với người có công, nhằm xoa dịu nỗi đau, khích lệ tinh thần và ổn định cuộc sống.

6.4. Tình hình thực hiện y tế và giáo dục

Theo báo cáo của Sở y tế trong tháng 9 có 106 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, tăng 03 ca so với tháng trước. Cộng dồn 9 tháng có 387 ca mắc bệnh, tăng 241 ca so với cùng kỳ. Bệnh tay chân miệng có 78 ca mắc mới, tăng 26 ca so với tháng trước. Cộng dồn có 343 ca mắc bệnh , tăng 111 ca so với cùng kỳ. Bệnh viêm gan do virut B có 02 ca mắc mới, tăng 02 ca so với cùng kỳ. Bệnh sởi trong tháng có 09 ca mắc mới, tăng 09 ca so với cùng kỳ. Bệnh dịch lạ chưa phát hiện ra trên địa bàn tỉnh.  Nhờ sự phát hiện sớm và điều trị kịp thời nên không có ca tử vong do các bệnh truyền nhiễm. Chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 1.145 trẻ, cộng dồn được 8.519 trẻ, đạt 73,06% so với kế hoạch.

Xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện công tác cải tiến chất lượng bệnh viện theo quy định của Bộ Y tế. Tổ chức kiểm tra thực hiện bộ tiêu chí cải tiến chất lượng bệnh, bộ tiêu chí xanh-sạch-đẹp; đổi mới phong cách, thái độ phục vụ của cán bộ y tế hướng tới sự hài lòng của người bệnh tại các cơ sở y tế có giường bệnh trực thuộc. hiện tại có 76 trên 76 trạm y tế đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã.

Hiện tại, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục không ngừng phát triển, hoàn thiện về cơ cấu; số lượng và chất lượng ngày càng được nâng cao. Tổng số cán bộ giáo viên, công nhân viên toàn ngành là 10.085 người, trong đó có 803 cán bộ quản lý, 9.282 chuyên viên, giáo viên và nhân viên thuộc các cấp học, có 213 thạc sĩ. Đội ngũ giáo viên ngành Giáo dục và Đào tạo đều đạt chuẩn về trình độ chuyên môn.

Sở Giáo dục và đào tạo tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chuyên môn về  quản lý giáo dục mầm non; ban hành công văn Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Mầm non năm học 2019-2020; Tổ chức tập huấn Hướng dẫn cha mẹ trẻ chăm sóc, giáo dục trẻ em mầm non; kỹ năng sử lý tình huống cho Giáo viên mầm non trong chăm sóc giáo dục trẻ; học trực tuyến qua E-learning, có 50 cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán tham dự; thành lập đoàn kiểm tra giáo dục mầm non ngoài công lập.

Trong tháng 9, phòng giáo dục tiểu học thực hiện một số nhiệm vụ trọng tâm sau: Phối hợp tham gia kiểm định đánh giá ngoài, thẩm định và kiểm tra công nhận trường đạt chuẩn quốc gia các trường tiểu học; phối hợp các phòng chuyên môn hướng dẫn công tác kiểm tra phổ cập giáo dục, xóa mù chữ năm 2019 đối với các đơn vị; hoàn chỉnh các tiêu chí thi đua năm học 2019 - 2020 của cấp học; phối hợp Ban An toàn giao thông tỉnh triển khai chương trình tặng mũ bảo hiểm cho học sinh lớp 1 năm học 2019-2020 do Honda tài trợ trong dịp lễ khai giảng giảng học mới; triển khai phát động và tuyên truyền về cuộc thi “Ý tưởng trẻ thơ” năm 2019 với chủ đề “Ý tưởng cho một cuộc sống tốt đẹp hơn”.

Được sự quan tâm chỉ đạo của Lãnh đạo tỉnh, sự chỉ đạo trực tiếp của Lãnh đạo ngành giáo dục và đào tạo đã tổ chức thành công buổi Lễ khai giảng năm học mới 2019-2020 tại các điểm trường trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Sự chung tay góp sức của toàn xã hội đã góp phần giúp các em có hoàn cảnh khó khăn được tiếp bước đến trường trong năm học mới.

6.5. Tình hình thiên tai

 Sạt lở xảy ra ở 46 điểm với chiều dài sạt lở khoản 1.113 m; diện tích mất đất bờ kênh khoản 5.641 m2, ước tính thiệt hại tài sản khoản 2.318 triệu đồng.

Trong 9 tháng  đầu năm, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra nhiều đợt dông lốc làm 36 căn nhà bị sập và 187 căn nhà bị tốc mái, hư hỏng 12 phòng học, 01 nhà giữ xe của trường, ước giá trị thiệt hại khoảng 2.617 triệu đồng.

UBND tỉnh đã chỉ đạo các địa phương hỗ trợ kịp thời, đồng thời đã chỉ đạo các bộ phận chuyên môn theo dõi thời tiết bất thường để khuyến cáo người dân khi có thiên tai xuất hiện.

6.6. Tình hình thực hiện an toàn giao thông, cháy nổ

Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 9, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 04 vụ tai nạn giao thông, làm chết 03 người và làm bị thương 01 người. So với tháng trước giảm 05 vụ, số người chết giảm 07 người và số người bị thương giảm 01 người, đều tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước số vụ giảm 01 vụ, số người chết giảm 02 người và số người bị thương là tương đương cũng đều tập trung ở đường bộ.

Trong 9 tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 70 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 68 vụ, đường thủy 02 vụ), làm chết tổng cộng 66 người (đường bộ chết 64 người, đường thủy chết 02 người) và làm bị thương 15 người (tập trung ở đường bộ). So với cùng kỳ năm trước giảm 04 vụ (tập trung ở đường bộ), số người chết tăng 02 người (tập trung ở đường thủy) và số người bị thương giảm 14 người (tập trung ở đường bộ) .

Tình hình thực hiện an toàn cháy nổ

Trong 9 tháng đầu, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 03 vụ cháy, làm thiệt  tài sản ước tính khoản 780 triệu đồng, không có thiệt hại về người. Nguyên nhân do thời tiết nắng hạn nhiều đầu năm nên dễ sảy ra cháy nổ đặt biệt là ở những khu đông dân cư và ở chợ, vì vậy cần tăng cường những biện pháp phòng chống cháy nổ./.