Tháng 10
09:14 27/10/2020

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang tháng 10 năm 2020


       Trong tháng 10/2020, nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã dần dần phục hồi trở lại sau đại dịch, mặc dù trong tháng tình hình mưa, bão diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng đến sinh hoạt của người dân, nhưng đa số hoạt động của các ngành, các lĩnh vực đều tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Cụ thể, kết quả hoạt động từng ngành, từng lĩnh vực như sau:

1 Tài chính, tín dụng

1.1. Tài chính

 Ước tổng thu Ngân sách nhà nước tháng 10/2020 được 645,94 tỷ đồng, luỹ kế được 8.386,45 tỷ đồng, đạt 108,94% dự toán Trung ương, đạt 83,81% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Trung ương trợ cấp được 311,13 tỷ đồng, luỹ kế được 3.410,60 tỷ đồng, đạt 84,07% dự toán Trung ương, đạt 82,87% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; thu nội địa được 300 tỷ đồng, luỹ kế được 2.737,06 tỷ đồng, đạt 84,45% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi Ngân sách địa phương tháng 10/2020 được 632,29 tỷ đồng, luỹ kế được 6.509,26 tỷ đồng, đạt 94,98% dự toán Trung ương giao, đạt 70,93% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Chi xây dựng cơ bản được 237,89 tỷ đồng, luỹ kế được 2.936,90 tỷ đồng, đạt 114,47% dự toán Trung ương giao, đạt 69% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; chi thường xuyên được 394,39 tỷ đồng, luỹ kế được 3.506,40 tỷ đồng, đạt 83,99% dự toán Trung ương, đạt 72,94% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 30/9/2020, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 15.727 tỷ đồng, tăng trưởng 2,09% so với cuối tháng 8/2020, tương ứng tăng trưởng 9,32% so với cuối năm 2019. Vốn huy động đáp ứng được 63,67% cho hoạt động tín dụng. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước huy động được 10.248 tỷ đồng (chiếm 65,16%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 4.874 tỷ đồng (chiếm 30,99%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 564 tỷ đồng (chiếm 3,59%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 41 tỷ đồng (chiếm 0,26%). Hiện, lãi suất không kỳ hạn đến dưới 1 tháng phổ biến từ 0,1-0,2%/năm; lãi suất từ 01 tháng đến dưới 06 tháng ở mức 3,5-4,0%/năm; lãi suất từ 06 tháng đến dưới 12 tháng ở mức 4,9-5,1%/năm; lãi suất từ 12 tháng trở lên ở mức 6,0-6,5%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 10/2020, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn được 15.906 tỷ đồng, tăng trưởng 1,39% so với cuối tháng 9/2020, tương ứng tăng trưởng 10,57% so với cuối năm 2019.

Đến ngày 30/9/2020, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn được 24.700 tỷ đồng, tăng trưởng 2,95% so với cuối tháng 8/2020, tương ứng tăng trưởng 5,59% so với cuối năm 2019. Trong tổng dư nợ thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước được 17.264 tỷ đồng (chiếm 69,90%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 4.795 tỷ đồng (chiếm 19,41%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 2.597 tỷ đồng (chiếm 10,51%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 44 tỷ đồng (chiếm 0,18%). Hiện, lãi suất cho vay luôn được giữ ở mức ổn định, đối với các lĩnh vực ưu tiên lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam phổ biến là 5,0%/năm; cho vay trung, dài hạn ở mức 10-11%/năm; các lĩnh vực khác lãi suất cho vay ngắn hạn từ 9,0- 9,5%/năm; trung, dài hạn ở mức 10,5-13%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 10/2020 dư nợ được 25.059 tỷ đồng, tăng trưởng 1,45% so với cuối tháng 9/2020, tương ứng tăng trưởng 7,13% so với cuối năm 2019.

Nợ quá hạn đến ngày 30/9/2020 là 633 tỷ đồng, chiếm 2,56% trên tổng dư nợ; nợ xấu là 406 tỷ đồng, chiếm 1,65% trên tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 227 tỷ đồng, chiếm 35,86% trên tổng nợ quá hạn. Dự báo đến cuối tháng 10/2020, nợ xấu toàn địa bàn vẫn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.

Ngành ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, hộ kinh doanh và nông dân trong tỉnh tiếp cận nguồn vốn tín dụng với lãi suất và thời hạn hợp lý. Một số Đề án, Chương trình, Chính sách tín dụng trọng điểm theo Chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và địa phương đạt được kết quả sau:

- Cho vay thu mua lúa, gạo xuất khẩu và tiêu dùng dư nợ được 1.731 tỷ đồng, giảm 15,73% so với cuối năm 2019.

- Cho vay nuôi trồng, chế biến thủy sản dư nợ được 3.355 tỷ đồng, tăng trưởng 15,05% so với năm 2019, với 1.019 hộ dân và 10 doanh nghiệp còn dư nợ; nợ xấu 19 tỷ đồng, chiếm 0,57%.

- Dư nợ bị ảnh hưởng do hạn hán, xâm nhập mặn là 2.161 triệu đồng. Các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã thực hiện hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bằng các giải pháp như: cơ cấu lại thời hạn trả nợ số tiền 258 triệu đồng, 25 khách hàng; cho vay mới để ổn định sản xuất 1.440 triệu đồng, 110 khách hàng.

- Các chương trình tín dụng chính sách dư nợ được 2.597 tỷ đồng, tăng trưởng 7,99% với cuối năm 2019, với 126.385 món vay còn dư nợ.

- Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp dư nợ được 5.989 tỷ đồng với 323 doanh nghiệp được tiếp cận vốn.

- Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn dư nợ được 17.177 tỷ đồng, tăng trưởng 7,51% so với cuối năm 2019, chiếm 69,54% trên tổng dư nợ.

- Dư nợ cho vay xây dựng nông thôn mới toàn địa bàn đạt 9.086 tỷ đồng, tương ứng với 124.993 hộ dân, 115 doanh nghiệp và 22 hợp tác xã còn dư nợ.

2. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16/10/2020, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2020 là 20.964,55 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.795,55 tỷ đồng.

- Vốn Vay: 37 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 2.150 tỷ đồng.             

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước: 15.982 tỷ đồng.

Đến đầu tháng 10/2020, các Khu công nghiệp và Cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh đã thu hút được 56 dự án đầu tư, gồm 54 nhà đầu tư sản xuất kinh doanh và 02 nhà đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng, với tổng số vốn đăng ký đầu tư là 73.277,40 tỷ đồng và 448,4 triệu USD, với quy mô diện tích đăng ký khoảng 771,8 ha, trong đó đã giao mặt bằng được 499,7 ha.

Ước tính tháng 10/2020, vốn đầu tư thực hiện được 1.820,35 tỷ đồng, bằng 112,33% so với cùng kỳ năm trước và bằng 97,83%[[1]] so với tháng trước.

        Ước tính 10 tháng, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh thực hiện được 17.650,24 tỷ đồng, bằng 109,16% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 84,19% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 2.195,06 tỷ đồng, bằng 123,84% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 78,52% so với kế hoạch năm. 

- Vốn vay thực hiện được 23 tỷ đồng, đạt 62,16% so với kế hoạch năm.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 1.847,51 tỷ đồng, bằng 118,45% so với cùng kỳ năm trước và đạt 85,93% so với kế hoạch năm.            

 - Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 13.584,67 tỷ đồng, bằng 105,83% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 85,01% so với kế hoạch năm.

        Để thực hiện hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2020, các sở, ngành cần kiểm tra, đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình xây dựng cơ bản, mà đặc biệt là các công trình trọng điểm trên địa bàn; đồng thời gắn với việc giám sát, kiểm tra chất lượng công trình, nhanh chóng hoàn thành các công trình xây dựng cơ bản đang tồn đọng nhất là các công trình dự án trọng điểm đã bố trí vốn (giao thông, nông nghiệp, y tế, giáo dục, v.v…). Bên cạnh đó, cần phải tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành cấp tỉnh và các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề vướng mắc trong đầu tư xây dựng cơ bản.

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong tháng, ngành Nông nghiệp tập trung chỉ đạo sản xuất lúa vụ thu đông 2020. Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật và kiểm tra vệ sinh thú y, phối hợp thực hiện tốt công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm trong nông nghiệp. Ngoài ra còn không ngừng tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân về phòng chống cháy rừng. Tăng cường chỉ đạo công tác khắc phục thiệt hại do dịch bệnh. Hướng dẫn các địa phương áp dụng các biện pháp chăn nuôi heo an toàn sinh học, để bảo vệ và phát triển tổng đàn hiện có. Kết quả cụ thể từng lĩnh vực như sau:

3.1. Nông nghiệp

Lúa hè thu, chính thức toàn tỉnh đã gieo trồng và thu hoạch dứt điểm được 77.340 ha, đạt 100,83% so với kế hoạch (kế hoạch tỉnh 76.700 ha), so với cùng kỳ giảm 0,95% (bằng 742 ha). Năng suất thu hoạch chính thức được 60,76 tạ/ha, tăng 1,2% (bằng 0,72 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng chính thức được 469.915 tấn, tăng 0,24% (bằng 1.113 tấn).

Lúa thu đông, đến nay, toàn tỉnh gieo trồng được 43.076 ha, vượt 11,89% so với kế hoạch (kế hoạch tỉnh 38.500 ha), so với cùng kỳ tăng 8,71% (bằng 3.451 ha). Các giống lúa được gieo trồng chủ yếu như: OM5451, OM 18, Đài Thơm 8, IR50404, RVT,… Hiện đã thu hoạch được 21.631 ha, tăng 2,33% (bằng 492 ha). Ước năng suất trung bình được 53,31 tạ/ha.

Mía niên vụ 2020, toàn tỉnh đã xuống giống được 5.909 ha, giảm 28,94% (giảm 2.406 ha) so với cùng kỳ, mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, thành phố Vị Thanh và thành phố Ngã Bảy. Hiện nay, mía đã thu hoạch được 1.404 ha, chủ yếu sản lượng thu hoạch được chỉ để ép lấy nước mía, phục vụ tiêu dùng là chính.

Diện tích gieo trồng ngô, ước tính 10 tháng được 2.150 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 3,07% (bằng 68 ha). Năng suất sơ bộ được 58,01 tạ/ha, giảm 1,3% (bằng 0,8 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng được 11.340 tấn, tăng 5,43% (bằng 584 tấn) so với cùng kỳ.

Diện tích gieo trồng khoai lang 10 tháng, ước tính được 28 ha, so với cùng kỳ năm trước giảm 53,21% (bằng 32 ha). Nguyên nhân diện tích gieo trồng giảm sâu so với cùng kỳ là do hiệu quả kinh tế thấp nên người dân chuyển đổi diện tích sang trồng các loại cây khác mang hiệu quả kinh tế cao hơn.

Diện tích gieo trồng cây rau, đậu các loại 10 tháng, ước tính được 21.097 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 12,43% (bằng 2.332 ha). Trong đó, diện tích gieo trồng tăng chủ yếu là cây rau các loại do chuyển đổi diện tích từ cây trồng mía sang, riêng cây đậu các loại diện tích gieo trồng giảm do hiệu quả kinh tế thấp.

Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đã và đang được ngăn chặn kịp thời. Hiện bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại trên lúa như: Sâu cuốn lá, rầy nâu, chuột, nhện gié, bệnh cháy bìa lá, đạo ôn cổ bông và lem lép hạt,... Ngành chức năng đang tích cực hướng dẫn bà con nông dân có biện pháp phòng trừ hiệu quả, xử lý theo nguyên tắc 4 đúng để đạt hiệu quả cao.

Tình hình gieo trồng và thu hoạch một số loại cây lâu năm chủ yếu của tỉnh ước tính đến tháng 10/2020 như sau:

- Cây mít: Diện tích được 6.562 ha, tăng 87,38% so với cùng kỳ năm trước (bằng 3.060 ha). Sản lượng thu hoạch được 30.166 tấn, tăng 79,49% (bằng 13.360 tấn). Diện tích cây mít tăng chủ yếu tập trung ở huyện Châu Thành, thành phố Ngã Bảy và huyện Phụng Hiệp, do chuyển đổi diện tích từ cây trồng khác sang.

- Cây xoài: Diện tích được 3.736,5 ha, tăng 0,74% so với cùng kỳ năm trước (bằng 27,6 ha). Sản lượng thu hoạch được 19.317 tấn, tăng 4,74% so với cùng kỳ (bằng 874 tấn).

- Cây chuối: Diện tích được 3.023 ha, tăng 0,52% (bằng 15,5 ha) so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch được 25.720 tấn, tăng 4,34% so với cùng kỳ năm trước (bằng 1.070 tấn).

- Cây dứa (khóm): Diện tích được 2.744 ha, tăng 16,54% so với cùng kỳ (bằng 389,4 ha). Sản lượng thu hoạch được 23.603 tấn, tăng 4,65% so với cùng kỳ năm trước (bằng 1.050 tấn).

- Cây cam: Diện tích được 10.415 ha, giảm 3,05% so với cùng kỳ (bằng 328 ha). Sản lượng thu hoạch được 88.889 tấn, tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước (bằng 3.888 tấn).

- Cây bưởi: Diện tích được 1.651 ha, tăng 4,51% so với cùng kỳ (bằng 71 ha). Sản lượng thu hoạch được 9.989 tấn, tăng 4,10% so với cùng kỳ năm trước (bằng 393 tấn).

- Cây nhãn: Diện tích được 900,4 ha, tăng 2,77% so với cùng kỳ (bằng 24,3 ha). Sản lượng thu hoạch được 5.375 tấn, tăng 7,34% so với cùng kỳ năm trước (bằng 367,5 tấn).

3.2. Chăn nuôi

Ngành chức năng tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh. Ước tính đến tháng 10/2020, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

- Đàn trâu: Hiện có 1.455 con, giảm 1,02% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 142 tấn, tăng 2,30% so với cùng kỳ năm trước.

- Đàn bò: Hiện có 3.681 con, tăng 3,69% (bằng 131 con) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 202 tấn, tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước.

- Đàn lợn (heo): Hiện có 118.656 con (không tính lợn con chưa tách mẹ) tăng 14,05% (tăng 14.620 con) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, heo thịt được 85.954 con, tăng 14,07% (bằng 10.604 con). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 16.382 tấn, giảm 18,56% (bằng 3.734 tấn). Sản lượng giảm do ảnh hưởng dịch tả lợn Châu phi.

- Đàn gia cầm: Hiện có 4.525 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 2,06%[[2]] (bằng 91 ngàn con). Trong đó, đàn gà có 1.444 ngàn con, tăng 4,29% (bằng 59 ngàn con). Sản lượng trứng gia cầm được 126.999 ngàn quả, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước (bằng 5.180 ngàn quả).

3.3. Lâm nghiệp

Tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung vào công tác chăm sóc và bảo vệ rừng. Công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định.

Tính từ đầu năm đến nay, diện tích rừng trồng mới ước được 304 ha, tăng 0,76% (bằng 2,3 ha) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác ước được 14.028 m3, tăng 1,94% (bằng 268 m3) so với cùng kỳ. Sản lượng củi khai thác ước được 62.068 ste, giảm 0,59% (bằng 367 ste) so với cùng kỳ.    

3.4. Thủy sản

Diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh 10 tháng, ước tính được 8.077 ha, tăng 4,24%[[3]] (bằng 328 ha) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Diện tích nuôi đã thu hoạch được 6.284 ha, tăng 2,05% (bằng 126 ha).

Tổng sản lượng thủy sản 10 tháng, ước tính được 67.035 tấn, tăng 2,97%[[4]] (bằng 1.935 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 64.619 tấn, tăng 3,12% (bằng 1.953 tấn); sản lượng thủy sản khai thác được 2.416 tấn, giảm 0,72% (bằng 18 tấn).

4. Tình hình sản xuất công nghiệp

Trong thời gian qua, các doanh nghiệp đã mở rộng quy mô sản xuất, đầu tư thêm máy móc, trang thiết bị nhằm nâng cao năng suất, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm, tăng tính cạnh tranh trên thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Vì vậy, ước tính tháng 10/2020, giá trị sản xuất công nghiệp: Tính theo giá so sánh 2010, được 2.770,13 tỷ đồng, tăng 1,80% so với tháng trước và tăng 16,40% so với cùng kỳ; tính theo giá thực tế, được 4.462,51 tỷ đồng, tăng 2,18% so với tháng trước và tăng 34,64%[[5]] so với cùng kỳ.

Ước tính 10 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp: Tính theo giá so sánh 2010, được 23.743,31 tỷ đồng, tăng 7,32% so với cùng kỳ và đạt 72,74% so với kế hoạch năm; tính theo giá thực tế, được 36.143,77 tỷ đồng, tăng 16,02% so với cùng kỳ và đạt 77,40% so với kế hoạch năm. Nguyên nhân là do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng 99,09% trong tổng giá trị toàn tỉnh, tăng 16,08% so với cùng kỳ, nên ước tính giá trị sản xuất công nghiệp sẽ tăng.

Dự báo năm 2020, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối ổn định. Tuy nhiên, để hoàn thành kế hoạch năm 2020, các doanh nghiệp cần tập trung khắc phục tồn tại, hạn chế, nỗ lực triển khai nhiều giải pháp phát triển bền vững, mang lại hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Hiện nay, các ngành chức năng đang tập trung định hướng cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh lựa chọn những sản phẩm mang tính đột phá trong thời gian tới, nhằm thu hút đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, tỉnh cũng đang đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài để đạt vượt mức kế hoạch đã đặt ra trong những tháng cuối năm 2020.

Dự tính tháng 10/2020, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 9,41% so với tháng trước và tăng 21,02% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 21,11%; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,96%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,92% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 10 tháng, IIP ước tính tăng 8,24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,24%; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,77%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,87% so với cùng kỳ. Do các doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất để chuẩn bị hàng hóa phục vụ cho thị trường dịp Lễ Giáng sinh, Tết Dương lịch sắp đến nên chỉ số sản xuất 10 tháng tăng cao so với cùng kỳ như: Sản xuất đồ uống tăng 269,42%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 26,94%; sản xuất giấy tăng 9,90%. Bên cạnh các ngành có chỉ số tăng cao so với cùng kỳ, vẫn còn một số ngành có chỉ số sản xuất giảm do bị tác động bởi dịch Covid-19 làm cho sản xuất không tăng trưởng liên tục và thị trường tiêu thụ bị thu hẹp. Cụ thể, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 36,38%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 16,88%;…

5 Hoạt động thương mại, dịch vụ

5.1. Bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Ước tính tháng 10/2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 3.955,80 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh là 363,84 tỷ đồng), so với thực hiện tháng trước bằng 104,11% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,77%. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa được 2.995,90 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 103,08% và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,71%[[6]]; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 628,66 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 108,80% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,73%[[7]]; doanh thu dịch vụ khác được 331,24 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 104,95% và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,44%[[8]].

Ước tính10 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 31.930,78 triệu đồng (Trong đó, chi nhánh của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh là 3.635,58 tỷ đồng), so với cùng kỳ năm trước bằng 98,59% và so với kế hoạch năm đạt 80,44%. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa thực hiện được 24.527,71 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 100,53%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 4.679,05 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 90,26%; doanh thu dịch vụ khác thực hiện được 2.724,02 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 97,10%.

Hoạt động thương mại, dịch vụ dự tính cả năm 2020 có tốc độ tăng trưởng thấp do ảnh hưởng của dịch Covid-19 ở những tháng đầu năm; hạn mặn và nắng nóng kéo dài. Bên cạnh đó, Hậu Giang là tỉnh có cơ cấu kinh tế với ngành nông, lâm, thủy sản chiếm tỷ trọng cao, du lịch chưa phát triển, chưa có nhiều địa điểm kinh doanh vui chơi, giải trí thu hút khách từ nơi khác đến. Vì vậy, trong những tháng cuối năm cần thực hiện tốt hơn nữa công tác tổ chức hoạt động hội chợ, sự kiện, xúc tiến thương mại và một số công tác cần thiết khác nhằm kích cầu, phát triển tiềm năng thế mạnh của địa phương, thực hiện hoàn thành kế hoạch đề ra trong năm 2020.

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Ước tính tháng 10/2020, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp được 85,407 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 110,48% và so với cùng kỳ năm trước bằng 93,44%. Chia ra:

- Xuất khẩu được 56,437 triệu USD, so với tháng trước bằng 102,88% và so với cùng kỳ năm trước bằng 83,95%. Nguyên nhân giá trị giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước là do giá trị xuất khẩu của các nhóm hàng thủy sản, giày thể thao, giấy thành phẩm các loại chịu sự ảnh hưởng của dịch Covid-19 chưa thật sự phục hồi ở các thị trường xuất khẩu truyền thống. Do đó, kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng này đều có sự sụt giảm mạnh, chỉ bằng 79,16% so với cùng kỳ (giảm 20,84%). Nhưng dự báo trong những tháng tới giá trị xuất khẩu sẽ tăng do Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA) chính thức có hiệu lực sẽ là một cú hích tác động mạnh mẽ đến hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn, hứa hẹn sẽ mở ra nhiều cơ hội lớn cho các sản phẩm hàng nông sản, thủy sản chế biến, giày da, may mặc,... có thể xuất đi được thuận lợi và ổn định hơn.

- Nhập khẩu được 28,970 triệu USD, so với tháng trước bằng 129,05% và so với cùng kỳ năm trước bằng 119,85%. Nguyên nhân là do trong tháng trước các doanh nghiệp có quy mô lớn ngưng nhập khẩu các nguyên liệu, máy móc, sản phẩm khác phục vụ kinh doanh nên dự báo trong tháng này các doanh nghiệp có thể sẽ nhập khẩu thêm một lượng lớn các nguyên liệu và những mặt hàng cần thiết phục vụ sản xuất kinh doanh. Vì vậy, giá trị nhập khẩu có thể sẽ tăng.

Ước tính 10 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 825,036 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 102,83% và so với kế hoạch năm đạt 79,03%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 488,457 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 103,64% và so với kế hoạch năm đạt 69,19%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 287,345 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 101,87% và so với kế hoạch năm đạt 104,87%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 2,070 triệu USD, tăng cao so với cùng kỳ năm trước bằng 194,73% và so với kế hoạch năm vượt 107,01%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 47,164 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 98,45% và so với kế hoạch năm đạt 74,86%.

Tình hình dịch bệnh trong nước được kiểm soát tốt và Hiệp định Thương mại tự do EVFTA có hiệu lực đã mở ra nhiều cơ hội lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Do đó, để có thể tận dụng tối đa các cơ hội đang có được các doanh nghiệp cần xây dựng cho mình hướng đi bền vững trong kinh doanh, thực hiện cải tiến từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, đồng thời tận dụng thời cơ đầu tư nguồn nhân lực, máy móc, thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo mỗi sản phẩm xuất đi đều là những sản phẩm có chất lượng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng đang cần. Từng bước xây dựng hình ảnh sản phẩm Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế là sản phẩm có uy tín, chất lượng, tạo bước đà tiến tới hội nhập ngày càng sâu rộng hơn trên thị trường quốc tế, đưa sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam vươn xa ra nhiều thị trường hơn nữa trong tương lai.

5.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Ước tính tháng 10/2020, tổng doanh thu vận tải, kho bãi được 94,87 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 90,67%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 31,90 tỷ đồng bằng 85,38% so với cùng kỳ năm trước; đường thủy thực hiện được 34,21 tỷ đồng bằng 88,09% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 28,76 tỷ đồng, bằng 101,16% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính 10 tháng, tổng doanh thu vận tải, kho bãi được 877,24 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 93,02%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 303,75 tỷ đồng bằng 85,16% so với cùng kỳ năm trước; đường thủy thực hiện được 326,44 tỷ đồng bằng 84,24% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 247,05 tỷ đồng, bằng 124,23% so với cùng kỳ năm trước.

5.3.1. Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Ước tính tháng 10/2020, toàn tỉnh vận chuyển được 641,39 nghìn tấn hàng hóa các loại (47.364,24 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 104,45% (104,21%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 94,87% (87,68%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 135,92 nghìn tấn (8.853,57 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 104,52% (101,04%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,67% (94,60%).

 - Đường sông thực hiện được 505,47 nghìn tấn (38.510,67 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 104,43% (104,97%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 95,48% (86,23%).

Ước tính 10 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 6.057,85 nghìn tấn hàng hóa các loại (426.342,76 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 94,71% (92,39%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 1.387,45 nghìn tấn (79.757,29 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 96,99% (97,06%).

- Đường sông thực hiện được 4.670,40 nghìn tấn (346.585,47 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 94,06% (91,37%).

5.3.2. Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Ước tính tháng 10/2020, toàn tỉnh thực hiện được 3.276,48 nghìn lượt hành khách (39.838,10 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 103,27% (102,50%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,79% (93,65%). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 905,64 nghìn lượt hành khách (27.515,02 nghìn  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 102,12% (103,10%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 82,73% (87,86%).

- Đường sông vận chuyển được 2.370,84 nghìn lượt hành khách (12.323,08 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 103,71% (101,19%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,32% (109,83%).

Ước tính 10 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 52.975,37 nghìn lượt hành khách (388.705,69 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 81,75% (81,56%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 31.559,17 nghìn lượt hành khách (270.245,04 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 74,89% (78,51%).

- Đường sông thực hiện được 21.416,20 nghìn lượt hành khách (118.460,65 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 94,50% (89,48%).

6. Các vấn đề về xã hội

6.1. Tình hình văn hóa, thể thao

Trong tháng, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục duy trì và triển khai nhiều hoạt động, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của các tầng lớp dân cư. Toàn hệ thống tổ chức thực hiện công tác cổ động trực quan phục vụ tuyên truyền Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2020 - 2025 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng như: In và phát hành 02 mẫu tranh cổ động với số lượng 3.000 tờ chào mừng Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV; lắp đặt 06 cụm panô khẩu hiệu tuyên truyền tại 03 cổng ra vào trụ sở Tỉnh ủy Hậu Giang; lắp mới 02 panô đầu đường Ngô Quyền giao với Trần Hưng Đạo và 02 cụm panô đầu đường Ngô Quyền giao với Hòa Bình, lắp mới 30 pa nô di động; treo 160 băng rôn, treo 5.100 cờ các loại, in và lắp đặt 1.960 m2 pano các loại; các Đội Tuyên truyền lưu động trong tỉnh biểu diễn chương trình nghệ thuật quần chúng với 67 buổi, phục vụ được 19.870 lượt người xem.

Về hoạt động thư viện: Trong tháng, hệ thống Thư viện tỉnh và huyện, thị xã, thành phố đã phục vụ được 71.958 lượt người; cấp 318 thẻ bạn đọc; tổ chức Lễ tổng kết và trao giải cuộc thi “Đại sứ Văn hóa đọc” năm 2020; trao 02 giải tập thể và 18 giải cá nhân; triển lãm 500 bản sách chủ đề về Đảng, Bác Hồ và chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội Hậu Giang phục vụ Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Về hoạt động bảo tồn - bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa: Cung cấp hình ảnh cho Trung tâm Lưu trữ lịch sử tỉnh Hậu Giang thực hiện hình ảnh triển lãm “Hậu Giang xưa và nay qua tài liệu lưu trữ”; khách đến xem triển lãm và tham quan các di tích, nhà truyền thống huyện, phòng truyền thống các xã văn hóa được 18.860 lượt người.

Sự nghiệp thể dục, thể thao: Đăng cai tổ chức giải vô địch trẻ Vovinam toàn quốc lần thứ 18 năm 2020; tham gia các giải: Vô địch Judo toàn quốc năm 2020 tại tỉnh Bình Dương, kết quả đạt 01 Huy chương bạc; vô địch Bắn cung trẻ toàn quốc năm 2020 tại Hà Nội; Đua thuyền Canoeing trẻ vô địch quốc gia năm 2020 tại Hà Nội, kết quả đạt 02 Huy chương đồng; vô địch trẻ Karate quốc gia lần thứ XXVI năm 2020 tại tỉnh Bắc Ninh; vô địch Điền kinh trẻ quốc gia năm 2020 tại tỉnh Tây Ninh; cử đội Judo đi tập huấn tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; đội Karate đi tập huấn tại thành phố Cần Thơ; đội Bóng chuyền đi tập huấn tại thành phố Hồ Chí Minh.

Sự nghiệp du lịch: Chuẩn bị các hoạt động trong chuỗi sự kiện Giải Marathon quốc tế tỉnh Hậu Giang năm 2020: tham gia gian hàng quảng bá, xúc tiến du lịch tỉnh Hậu Giang tại Hội chợ Thương mại Công nghiệp, Hội thi đầu bếp chuyên nghiệp Đồng bằng Sông Cửu Long lần thứ II, khu vực Hậu Giang và Hội thi bánh dân gian tỉnh Hậu Giang lần thứ II năm 2020.

6.2. Lao động và an sinh xã hội

Trong tháng, giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 1.720 lao động, đạt 99,7% kế hoạch năm. Phối hợp với các địa phương (thành phố Vị Thanh, các huyện: Long Mỹ, Vị Thủy, Châu Thành A) tổ chức 04 cuộc Hội thảo đánh giá hiệu quả của lao động Hậu Giang đi làm việc tại Nhật Bản với 487 người tham dự. Qua đó có 99 lao động đăng ký tham gia chương trình làm việc tại Nhật Bản.

Thẩm định bổ sung danh sách, kinh phí hỗ trợ 125 người lao động bị ảnh hưởng do đại dịch Covid-19 trên địa bàn thành phố Vị Thanh (đợt 8) với số tiền 125 triệu đồng.

Ban hành Quyết định hưởng trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng cho 740 người, với số tiền 9.769,85 triệu đồng.

Về lĩnh vực Giáo dục nghề nghiệp: Đến thời điểm báo cáo, đã đào tạo được 10.772 lao động, đạt 165% kế hoạch năm. Trong đó:

- Đào tạo Trung cấp, Cao đẳng đã tuyển sinh được 527 học viên cho năm học 2020-2021 (Trường Cao đẳng Luật Miền Nam 67 học viên, Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang 460 học viên).

- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Lĩnh vực phi nông nghiệp (đào tạo nghề cho doanh nghiệp) được 27 lớp, với 675 học viên (trong đó có 07 lớp đào tạo tại doanh nghiệp với 175 học viên); lĩnh vực nông nghiệp đào tạo được 54 lớp, với 1.350 học viên.

- Đào tạo nghề cho thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an được 352 thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an có thẻ học nghề năm 2020.

- Đào tạo nghề từ các chương trình, dự án khác đã đào tạo được 6.248 lao động.

Lĩnh vực người có công với cách mạng: Tiếp nhận mới 197 hồ sơ các loại. Đã xét giải quyết 184 hồ sơ. Trong đó, đạt 137 hồ sơ; không đạt 47 hồ sơ. Còn lại 83 hồ sơ đang tiếp tục xem xét, giải quyết; tổ chức đưa, đón 105 người có công với cách mạng tham quan Thủ đô Hà Nội, viếng Lăng Bác, gặp mặt các đồng chí Lãnh đạo Đảng và Nhà nước và thành phố Hà Tiên, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang; tổ chức lấy 613 mẫu sinh phẩm hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin tại Nghĩa trang liệt sĩ Tầm Vu, huyện Châu Thành A để lưu trữ vào ngân hàng GEN phục vụ việc giám định ADN.

Lĩnh vực bảo trợ xã hội - giảm nghèo: Thực hiện trợ cấp hàng tháng cho 32.275 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 12.127,59 triệu đồng. Hỗ trợ mai táng phí cho 144 trường hợp với số tiền 77,6 triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho 56 trường hợp với số tiền 421,8 triệu đồng; tổ chức thăm, tặng 167 phần quà cho người cao tuổi thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn nhân Tháng hành động Vì người cao tuổi năm 2020 với số tiền 107,5 triệu đồng.

Lĩnh vực trẻ em và bình đẳng giới : Phối hợp với Tỉnh đoàn và các đơn vị có liên quan tổ chức Tết Trung thu cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh với chủ đề “Vầng trăng yêu thương” cho 300 em có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh với số tiền gần 100 triệu đồng; tổ chức 05 lớp tập huấn nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước về Bình đẳng giới năm 2020 và nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào vị trí lãnh đạo, quản lý và nữ đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2020.

Lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội: Tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nội bộ và ra dân được 87 cuộc với 1.850 lượt người tham dự. Tổng số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý trên địa bàn tỉnh tại thời điểm báo cáo là 1.480 người; số người bán dâm có hồ sơ quản lý là 93 người; số người nghiện đang có mặt tại cơ sở cai nghiện là 202 người.

6.3. Y tế

Trong tháng có 14 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, giảm 02 ca so với tháng trước, cộng dồn là 126 ca, giảm 365 ca so với cùng kỳ; bệnh tay chân miệng có 47 ca mắc mới, tăng 29 ca so với tháng trước, cộng dồn là 177 ca, giảm 329 ca so với cùng kỳ; bệnh sởi, bệnh viêm gan do virút, bệnh quai bị trong tháng không có ca mắc; bệnh dịch lạ và các bệnh truyền nhiễm khác chưa ghi nhận ca mắc trên địa bàn tỉnh.

Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 976 trẻ, cộng dồn là 9.561 trẻ, đạt 84,32%; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 931 trẻ, cộng dồn là 9.309 trẻ, đạt 81,78%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 915 thai phụ, cộng dồn là 8.879 thai phụ, đạt 82,4%. Số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng 06 ca, cộng dồn là 71 ca (giảm 50 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.817 ca (người còn sống 1.213 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng 04 ca, cộng dồn là 15 ca (giảm 05 ca với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.043 ca; số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 02 ca, cộng dồn là 19 ca (tăng 05 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 604 ca. Số người hiện đang điều trị Methadone là 60 người, tổng số bệnh nhân điều trị ARV là 528 người.

Kết quả thực hiện khám chữa bệnh đến tháng 10/2020: Tổng số lần khám là 165.446 lượt, cộng dồn là 1.619.968 lượt, đạt 80,22% kế hoạch, giảm 5,04% so với cùng kỳ. Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú là 9.152 lượt, cộng dồn là 83.838 lượt, đạt 66,25% kế hoạch, giảm 11,89% so với cùng kỳ. Ngày điều trị trung bình là 5,03 ngày, giảm 0,86 ngày so với cùng kỳ. Tổng số tai nạn ngộ độc, chấn thương là 7.693 trường hợp, giảm 1.273 trường hợp so với cùng kỳ.

Chữa bệnh bằng Y học dân tộc: Tổng số khám bệnh là 20.630 lượt, cộng dồn là 219.961 lượt, chiếm tỷ lệ 13,57% tổng số lượt khám chữa bệnh chung, giảm 7,78% so với cùng kỳ.

Trong thời gian tới, Sở Y tế tiếp tục triển khai chiến dịch phòng, chống dịch bệnh; tăng cường chỉ đạo thực hiện tốt kế hoạch phòng, chống dịch bệnh hạn chế tối đa số ca mắc mới. Chủ động phòng chống các bệnh dịch xâm nhập từ bên ngoài, tăng cường công tác giám sát, phát hiện sớm, dập dịch kịp thời, không để dịch bệnh lớn xảy ra; tăng cường quản lý nhà nước về công tác bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh thực phẩm, đẩy mạnh công tác phối hợp liên ngành nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm, không để xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm (trên 30 người mắc) trên địa bàn tỉnh.

6.4. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Trong tháng 10/2020, theo số liệu của Ban An toàn giao thông trên địa bàn tỉnh xảy ra 05 vụ tai nạn giao thông, làm chết 06 người và không có người bị thương, tất cả tập trung ở đường bộ. So với tháng trước, tăng 02 vụ, số người chết tăng 03 người và số người bị thương tương đương. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tăng 02 vụ, số người chết tăng 05 người và số người bị thương giảm 03 người, tất cả tập trung ở đường bộ.

Tính chung 10 tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra tổng cộng 52 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 51 vụ, đường thủy 01 vụ), làm chết 38 người (đường bộ 37 người, đường thủy 01 người) và làm bị thương 20 người (tập trung ở đường bộ). So với cùng kỳ năm trước, giảm 21 vụ (đường bộ giảm 20 vụ, đường thủy giảm 01 vụ), số người chết giảm 29 người (đường bộ giảm 28 người, đường thủy giảm 01 người) và số người bị thương tăng 02 người (tập trung ở đường bộ).

6.5. Tình hình môi trường và phòng, chống cháy, nổ

Ngành chức năng tiếp tục giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các cơ sở có thông tin phản ánh để kịp thời xử lý theo quy định. Tính đến tháng 10/2020, ngành chức năng phát hiện 43 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 42 vụ, với số tiền xử phạt là 445,5 triệu đồng.

Về công tác phòng, chống cháy, nổ luôn được các ngành chức năng quan tâm thực hiện, định kỳ có kiểm tra, hướng dẫn người dân, các cơ sở kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy. Mặc dù được quan tâm thực hiện tốt nhưng tính từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 5 vụ cháy, may mắn không thiệt hại về người, ước tổng tài sản thiệt hại khoảng 854 triệu đồng.

[[1]] Vốn đầu tư thực hiện giảm so với tháng trước là do bước vào mùa mưa nên tiến độ thi công của các công trình trọng điểm bị ảnh hưởng; một số dự án vướng mắc về thủ tục đất đai, công tác bồi thường giải phóng mặt bằng còn gặp nhiều khó khăn; năng lực một số cán bộ quản lý của Chủ đầu tư trong công tác phối hợp để triển khai các dự án chưa đáp ứng yêu cầu nên việc lập thủ tục đầu tư còn chậm.

[[2]] Nguyên nhân đàn gia cầm tăng là do ngành thú y thực hiện tốt công tác tiêm phòng, quản lý, giám sát dịch bệnh, dịch cúm gia cầm không để xảy ra trên địa bàn tỉnh; giá cả biến động theo hướng tăng, người chăn nuôi có lãi nên đầu tư tái đàn, mở rộng quy mô sản xuất.

[[3]] Diện tích tăng là do cá thả nuôi ruộng sớm và nhiều hơn cùng kỳ, nuôi không hao phí nhiều thức ăn do một phần thức ăn có sẵn tự nhiên nên nhiều hộ tranh thủ đất ruộng để nuôi thủy sản, kỹ thuật nuôi cũng được quan tâm nhiều hơn, hộ nuôi có lợi nhuận.

[[4]] Sản lượng tăng chủ yếu là sản lượng nuôi trồng, do diện tích tăng và giá bán cao hơn năm trước nên các hộ nuôi thủy sản tập trung đầu tư.

[[5]] Nguyên nhân tăng là do có sự đóng góp đáng kể của các doanh nghiệp có giá trị hoạt động lớn trong các ngành như: Sản xuất đồ uống (+126,54%); sản xuất giày dép (+26,21%); sản xuất giấy (+7,09%);…

[[6]] Bước qua tháng 10, tình hình bán lẻ hàng hóa diễn ra bình thường trở lại nên làm cho hầu hết các nhóm hàng đều tăng so với cùng kỳ, cụ thể: Xăng, dầu các loại tăng 17,23%; hàng may mặc tăng 13,12%; lương thực, thực phẩm tăng 11,62%,…

[[7]] Cụ thể: Dịch vụ lưu trú tăng 6,68%; dịch vụ ăn uống tăng 9,78%. Nguyên nhân tăng chủ yếu là do diễn ra Đại hội Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV; giải vô địch trẻ Vovinam toàn quốc do Hậu Giang đăng cai tổ thu hút 645 vận động viên từ 36 tỉnh, thành tham gia thi đấu.

[[8]] Nguyên nhân doanh thu các ngành dịch vụ khác tăng so với cùng kỳ chủ yếu là do các dự án nhà ở có quy mô lớn trên địa bàn tỉnh đang khẩn trương xây dựng và hoàn thành theo tiến độ, dịch vụ cho thuê máy móc trong xây dựng, dịch vụ hành chính văn phòng cũng tăng khi các công trình xây dựng và hoạt động hành chính ổn định trở lại, nhu cầu dịch vụ hỗ trợ cho tổ chức tiệc, hội nghị tăng.