Tháng 12
23:46 28/12/2020

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hậu Giang tháng 12 và năm 2020

 

Trong năm 2020, đại dịch Covid-19 bùng phát đã làm ảnh hưởng toàn diện, sâu rộng đến mọi mặt của đời sống, xã hội và có diễn biến phức tạp, khó lường. Tình hình chính trị, kinh tế thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp. Biến đổi khí hậu, thiên tai, lũ lụt, sạt lở, giông lốc, dịch bệnh diễn ra ở nhiều nơi đã tác động đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và tỉnh Hậu Giang nói riêng. Trước bối cảnh hết sức khó khăn đó, truyền thống đoàn kết của Đảng bộ và Nhân dân Hậu Giang đã được phát huy và lan tỏa mạnh mẽ; các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, doanh nghiệp (DN) và Nhân dân trong tỉnh đã chung sức, đồng lòng, nổ lực trong việc khắc phục hậu quả sau thiên tai, dịch bệnh. Nhờ vậy, giữ vững, ổn định kinh tế - xã hội và đạt được nhiều kết quả khả quan trên một số lĩnh vực. Cụ thể như sau:

1. Tăng trưởng kinh tế

        Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2020, tăng 4,53% so với năm 2019. Trong đó, khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,09%[[1]], đóng góp 0,85 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và hoạt động xây dựng tăng 14,62%[[2]], đóng góp 3,40 điểm phần trăm; khu vực thương mại và dịch vụ tăng 1,41%[[3]], đóng góp 0,55 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm giảm 2,49% so cùng kỳ, mức đóng góp giảm 0,26 điểm phần trăm.

        Quy mô nền kinh tế năm 2020 ước đạt 38.362,17 tỷ đồng (theo giá hiện hành). Về cơ cấu kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 26,53%, tăng 0,67% so với năm 2019, lượng giá trị ước đạt 10.179 tỷ đồng; khu vực công nghiệp và xây dựng có mức chuyển dịch tăng 1,61%, đạt giá trị 9.429 tỷ đồng và chiếm tỷ trọng 24,58% trong cơ cấu nền kinh tế; khu vực thương mại và dịch vụ có mức chuyển dịch giảm 1,82%, với giá trị tăng thêm ước đạt 15.110 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 39,13%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm có mức chuyển dịch giảm 0,46%, với giá trị tăng thêm ước đạt 3.743 tỷ đồng trong cơ cấu nền kinh tế năm 2020.

GRDP bình quân đầu người đạt 52,60 triệu đồng/năm, tương đương 2.266 USD, tăng 8,01% so với năm trước, bằng 93,41% mức thu nhập bình quân đầu người vùng đồng bằng sông Cửu Long (56,31 triệu đồng).

2. Tài chính, tín dụng

2.1. Tài chính

Nhìn chung, công tác thu, chi ngân sách địa phương đều vượt so với dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh. Mặc dù, trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nhưng công tác điều hành thu, chi ngân sách vẫn đạt những kết quả tích cực. Nhiệm vụ chi ngân sách địa phương để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh được đảm bảo, các chế độ an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, các chế độ về lương và các khoản phụ cấp cho cán bộ, công chức, viên chức; các nhiệm vụ quan trọng, cấp bách tiếp tục được quan tâm và bảo đảm kịp thời.

Ước tổng thu ngân sách nhà nước năm 2020 được 10.382,30 tỷ đồng, đạt 134,87% dự toán Trung ương, đạt 103,75% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh, trong đó: Thu ngân sách nhà nước Trung ương hưởng là 863,95 tỷ đồng, đạt 104,04% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh, vượt 4,04%, tương đương 33,55 tỷ đồng; thu ngân sách nhà nước địa phương hưởng là 9.518,35 tỷ đồng, đạt 103,73% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh, vượt 3,73%, tương đương 341,84 tỷ đồng; thu nội địa là 3.450 tỷ đồng, đạt 106,45% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh.

Ước tổng chi ngân sách địa phương năm 2020 được 9.464,95 tỷ đồng, đạt 138,12% dự toán Trung ương, đạt 103,14% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh, cụ thể như sau: Chi đầu tư phát triển là 4.332,04 tỷ đồng, đạt 101,77%[[4]] dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh; chi thường xuyên là 5.013,58 tỷ đồng, đạt 104,29%[[5]] dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh.

2.2. Tín dụng ngân hàng

Ngành ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp hỗ trợ DN, hộ kinh doanh và nông dân trong tỉnh tiếp cận nguồn vốn tín dụng với lãi suất và thời hạn hợp lý, hỗ trợ thực hiện hiệu quả các chương trình, đề án trọng điểm của Chính phủ và địa phương.

Các tổ chức tín dụng trên địa bàn thực hiện nghiêm quy định của Ngân hàng Nhà nước về lãi suất huy động và lãi suất cho vay. Cụ thể: Lãi suất huy động không kỳ hạn đến dưới 1 tháng phổ biến từ 0,1-0,2%/năm; lãi suất từ 01 tháng đến dưới 06 tháng ở mức 3,5-4,0%/năm; lãi suất từ 06 tháng đến dưới 12 tháng ở mức 4,9-5,1%/năm; lãi suất từ 12 tháng trở lên ở mức 6,0-6,5%/năm. Lãi suất cho vay luôn được giữ ở mức ổn định, đối với các lĩnh vực ưu tiên lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam phổ biến là 5,0%/năm; cho vay trung, dài hạn phổ biến ở mức 10 -11%/năm; các lĩnh vực khác lãi suất cho vay ngắn hạn từ 9,0 - 9,5%/năm; trung, dài hạn từ 10,5 - 13%/năm.         

Đến ngày 30/11/2020, tổng vốn huy động toàn địa bàn là 15.695 tỷ đồng, tăng trưởng 9,10% so với cuối năm 2019. Vốn huy động đáp ứng được 61,34% cho hoạt động tín dụng. Huy động đối với kỳ hạn dưới 12 tháng đạt 8.355 tỷ đồng (chiếm 53,24%), kỳ hạn từ 12 tháng trở lên đạt 7.340 tỷ đồng (chiếm 46,76%). Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước được 10.131 tỷ đồng (chiếm 64,55%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 4.930 tỷ đồng (chiếm 31,41%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 593 tỷ đồng (chiếm 3,78%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 41 tỷ đồng (chiếm 0,26%). Ước thực hiện đến cuối tháng 12/2020, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn đạt 15.845 tỷ đồng, tăng trưởng 0,96% so với cuối tháng 11/2020, tương ứng tăng trưởng 10,14% so với cuối năm 2019.

Đến ngày 30/11/2020, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn được 25.586 tỷ đồng, tăng trưởng 9,38% so với cuối năm 2019. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn là 13.306 tỷ đồng (chiếm 52%); dư nợ cho vay trung, dài hạn là 12.280 tỷ đồng (chiếm 48%). Trong tổng dư nợ thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước được 17.894 tỷ đồng (chiếm 69,94%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 5.032 tỷ đồng (chiếm 19,67%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 2.616 tỷ đồng (chiếm 10,22%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 44 tỷ đồng (chiếm 0,17%). Ước thực hiện đến cuối tháng 12/2020, dư nợ được 26.076 tỷ đồng, tăng trưởng 1,92% so với cuối tháng 11/2020, tương ứng tăng trưởng 11,48% so với cuối năm 2019.

Nợ quá hạn đến ngày 30/11/2020 là 642 tỷ đồng, chiếm 2,51% trên tổng dư nợ; nợ xấu là 395 tỷ đồng, chiếm 1,55% trên tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 247 tỷ đồng, chiếm 38,47% trên tổng nợ quá hạn. Dự báo đến cuối tháng 12/2020, nợ xấu toàn địa bàn vẫn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.

Kết quả một số chương trình, chính sách tín dụng trọng điểm của Tỉnh:

- Cho vay thu mua lúa, gạo xuất khẩu và tiêu dùng dư nợ 1.756 tỷ đồng, giảm 14,51% so với cuối năm 2019.

- Cho vay nuôi trồng, chế biến thủy sản dư nợ 3.278 tỷ đồng, tăng trưởng 12,41% so với năm 2019, với 1.105 hộ dân và 09 DN còn dư nợ; nợ xấu 17 tỷ đồng, chiếm 0,52%.

- Các chương trình tín dụng chính sách dư nợ 2.616 tỷ đồng, tăng trưởng 8,82% với cuối năm 2019.

- Chương trình kết nối Ngân hàng - DN dư nợ 5.989 tỷ đồng với 323 DN được tiếp cận vốn.

- Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn dư nợ 17.215 tỷ đồng, tăng trưởng 7,76% so với cuối năm 2019, chiếm 69,02% trên tổng dư nợ.

- Dư nợ cho vay xây dựng nông thôn mới toàn địa bàn là 9.086 tỷ đồng, tương ứng với 124.993 hộ dân, 115 DN và 22 Hợp tác xã còn dư nợ.

3. Đầu tư và xây dựng

3.1 Vốn đầu tư

        Tính đến ngày 16/12/2020, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2020 là 21.191,58 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.969,57 tỷ đồng.

- Vốn vay: 90,01 tỷ đồng.

- Vốn tự có của DN nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 2.150 tỷ đồng.         

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các DN ngoài nhà nước là: 15.982 tỷ đồng.

Ước tính tháng 12/2020, vốn đầu tư thực hiện được 1.741,09 tỷ đồng, bằng 110,01% so với cùng kỳ năm trước và bằng 100,74%[[6]] so với tháng trước.

Trong năm 2020, với quyết tâm đạt và vượt kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, UBND tỉnh triển khai đối thoại trực tiếp với DN và thực hiện kế hoạch xúc tiến đầu tư, nhằm tăng cường giới thiệu, quảng bá tiềm năng, thế mạnh và các chính sách ưu đãi đầu tư vào khu, cụm công nghiệp tập trung, đất quy hoạch trên địa bàn tỉnh để hoàn thành chỉ tiêu thu hút đầu tư đạt kế hoạch.

Ước tính cả năm 2020, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh thực hiện được 21.150,40 tỷ đồng, so với kế hoạch năm mới điều chỉnh hiện tại (21.191,58 tỷ đồng), đạt 99,81% và so với cùng kỳ năm 2019 (19.300,79 tỷ đồng) bằng 109,58%, so với Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh (20.700 tỷ đồng), đạt 102,58% kế hoạch đề ra. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 2.951,17 tỷ đồng, bằng 126,89% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 99,38% so với kế hoạch năm. 

        - Vốn vay thực hiện được 89,40 tỷ đồng, đạt 99,32% so với kế hoạch năm.

- Vốn tự có của DN nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện được 2.147,83 tỷ đồng, bằng 104,10% so với cùng kỳ năm trước và đạt 99,90% so với kế hoạch năm.           

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các DN ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 15.962 tỷ đồng, bằng 107,04% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 99,87% so với kế hoạch năm.

3.2. Xây dựng

Ước tính quý IV/2020, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh thực hiện được 2.405,50 tỷ đồng, so với quý trước bằng 112,53%[[7]] và so với cùng kỳ năm trước (2.214,05 tỷ đồng) bằng 108,65%. Trong đó loại hình DN ngoài nhà nước thực hiện được 1.947,43 tỷ đồng, so với quý trước bằng 184,62% và so với cùng kỳ năm trước bằng 118,28%; loại hình khác gồm xã, phường, thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 458,07 tỷ đồng, so với quý trước bằng 42,31% và so với cùng kỳ năm trước bằng 80,70%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình ước thực hiện trong quý IV/2020 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 859,28 tỷ đồng, so với quý trước bằng 69,86% và so với cùng kỳ năm trước bằng 72,79%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 600,14 tỷ đồng, so với quý trước bằng 135,59% và so với cùng kỳ năm bằng 180,96%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 696,48 tỷ đồng, so với quý trước bằng 155,51% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,37%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 249,61 tỷ đồng và so với cùng kỳ năm trước bằng 351,81%.

Ước tính năm 2020, tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh thực hiện được 8.070,55 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (7.300,90 tỷ đồng) bằng 110,54%[[8]]. Trong đó: Loại hình DN ngoài nhà nước thực hiện được 4.507,63 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 110,97%; loại hình khác gồm xã, phường, thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 3.562,93 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,33%. Giá trị ngành xây dựng chia theo loại công trình ước thực hiện cả năm 2020 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 4.204,63 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (4.148,44 tỷ đồng) bằng 101,35%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 1.796,93 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (1.326,08 tỷ đồng) bằng 135,51%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 1.722,74 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (1.568,89 tỷ đồng) bằng 109,81%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 346,25 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (257,49 tỷ đồng) bằng 134,47%.

Nhìn chung, tình hình xây dựng trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở dân dụng và đường giao thông. Riêng các công trình trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước có quy mô lớn thì hầu hết đều do các DN ngoài tỉnh thi công. Do vậy, đề nghị Lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, để các DN xây dựng trong tỉnh được thi công, nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành xây dựng của Tỉnh tăng cao.

4. Tình hình hoạt động của DN

Ước tính tháng 12/2020, có 80 DN đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký là 286,18 tỷ đồng, tăng 33,33% về số DN và tăng 22,19% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ; số DN gặp khó khăn tạm ngừng hoạt động là 05 DN, tăng 150% so với cùng kỳ; số DN hoàn tất thủ tục giải thể là 50 DN, giảm 80% so với cùng kỳ.

Ước tính năm 2020, có 858 DN đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký là 9.335,56 tỷ đồng, tăng 38,83% về số DN và tăng 289,62% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ; số DN gặp khó khăn tạm ngừng hoạt động là 104 DN[[9]], tăng 42,47% so với cùng kỳ; số DN hoàn tất thủ tục giải thể là 176 DN[[10]], giảm 46,34% so với cùng kỳ.

Về tình hình sản xuất và xu hướng sản xuất kinh doanh của DN: Sau khi tiến hành khảo sát về xu hướng sản xuất kinh doanh từ DN cung cấp so với quý trước: Có 48,65% DN đánh giá tốt lên và 29,73% DN đánh giá giữ nguyên và 21,62% DN đánh giá khó khăn hơn. Dự kiến quý tiếp theo, khảo sát về xu hướng sản xuất kinh doanh từ DN cung cấp thì có 59,46% DN đánh giá tốt hơn và 27,03% DN hoạt động giữ nguyên và 13,51% DN đánh giá khó khăn hơn so với quý trước.

5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Nhìn chung, tình hình sản xuất nông nghiệp năm 2020 phát triển đúng hướng và tăng trưởng khá, cơ cấu cây trồng được chuyển dịch theo hướng sản xuất các sản phẩm có giá trị hàng hóa cao, có thị trường tiêu thụ, từng bước chuyển sang sản xuất hàng hóa xuất khẩu. Việc áp dụng cơ giới hóa, tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh góp phần tích cực tăng năng suất lao động, giảm chi phí sản xuất, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân. Trong năm, ngành Nông nghiệp tập trung chỉ đạo sản xuất các vụ lúa, phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật và kiểm tra vệ sinh thú y, phối hợp thực hiện tốt công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm trong nông nghiệp. Ngoài ra Ngành còn không ngừng tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân về phòng chống cháy rừng. Tăng cường chỉ đạo công tác khắc phục thiệt hại do dịch bệnh. Hướng dẫn các địa phương áp dụng các biện pháp chăn nuôi heo an toàn sinh học để bảo vệ và phát triển tổng đàn hiện có. Kết quả cụ thể từng lĩnh vực như sau:

5.1. Nông nghiệp

Năm 2020, tổng diện tích gieo trồng lúa toàn tỉnh được 198.236 ha, so với cùng kỳ tăng 1,08% (2.111 ha). Các giống lúa được sử dụng phổ biến là OM 5451, OM 18, Đài thơm 8, RVT, IR 50404,…. Năng suất sơ bộ đạt 65,28 tạ/ha, tăng 1,70% so với năm 2019. Sản lượng sơ bộ được 1.294.001 tấn, tăng 2,79% (35.077 tấn) so với năm 2019. Chia ra từng vụ như sau:

- Lúa Đông xuân 2020: Diện tích được 77.820 ha. Năng suất thu hoạch chính thức 76,57 tạ/ha, tăng 4,37% (bằng 3,2 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng chính thức toàn tỉnh được 595.869 tấn, tăng 3,57% (bằng 20.515 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

- Lúa Hè thu: Diện tích được 77.340 ha, đạt 100,83% so với kế hoạch (kế hoạch 76.700 ha), so với cùng kỳ giảm 0,95% (bằng 742 ha). Năng suất thu hoạch chính thức được 60,76 tạ/ha, tăng 1,2% (bằng 0,72 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng chính thức được 469.915 tấn, tăng 0,24% (bằng 1.113,1tấn).

- Lúa Thu đông: Diện tích được 43.076 ha, vượt 11,89% so với kế hoạch (kế hoạch 38.500 ha), so với cùng kỳ tăng 8,71% (bằng 3.451 ha). Ước năng suất trung bình đạt 52,98 tạ/ha, giảm 2,25% (bằng 1,22 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng ước được 228.217 tấn, tăng 6,26%[[11]] (bằng 13.449 tấn) so với cùng kỳ.

Mía niên vụ 2020, toàn tỉnh đã gieo trồng được 5.909 ha giảm 28,94% (bằng 2.406 ha) so với cùng kỳ, mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, thành phố Vị Thanh và thành phố Ngã Bảy. Nguyên nhân diện tích mía giảm là do chi phí cao, giá mía thấp nên một số diện tích mía chuyển đổi sang cây trồng khác.

Diện tích gieo trồng ngô, ước tính năm 2020 được 2.969 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 6,06% (bằng 191 ha). Năng suất sơ bộ 62,89 tạ/ha, tăng 4,78% (bằng 2,87 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng được 18.668 tấn, giảm 1,56% (bằng 297 tấn) so với cùng kỳ.

Diện tích gieo trồng khoai lang, ước tính năm 2020 được 28 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 58,57% (bằng 40 ha) do không hiệu quả nên chuyển đổi diện tích.

Diện tích gieo trồng cây rau, đậu các loại được 20.610 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng10,12% (bằng 1.894 ha) do chuyển đổi từ cây trồng từ mía sang.

Tình hình gieo trồng và thu hoạch một số loại cây lâu năm chủ yếu của tỉnh ước tính năm 2020 như sau:

- Cây mít: Diện tích được 6.966 ha, tăng 98,91% so với cùng kỳ năm trước (bằng 3.464 ha). Sản lượng thu hoạch được 53.646 tấn, tăng 92,98% (bằng 25.847 tấn). Diện tích cây mít tăng chủ yếu tập trung ở huyện Châu Thành, Phụng Hiệp và thành phố Ngã Bảy, do chuyển đổi diện tích từ cây trồng khác sang.

- Cây xoài: Diện tích được 3.555 ha, giảm 4,15% so với cùng kỳ năm trước (bằng 154 ha). Sản lượng thu hoạch được 12.673 tấn, tăng 3,85% so với cùng kỳ (bằng 470 tấn).

- Cây chuối: Diện tích được 2.602 ha, giảm 13,47% (bằng 405 ha) so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch được 29.635 tấn, tăng 6,93% so với cùng kỳ (bằng 1.920 tấn).

- Cây dứa (khóm): Diện tích được 2.727 ha, tăng 15,8% so với cùng kỳ (bằng 372 ha). Sản lượng thu hoạch được 28.327 tấn, tăng 3,69% (bằng 1.008 tấn) so với cùng kỳ.

- Cây cam: Diện tích được 9.240 ha, giảm 13,99% so với cùng kỳ (bằng 1.503 ha). Sản lượng thu hoạch được 104.751 tấn, tăng 6,48% (bằng 6.377 tấn) so với cùng kỳ.

- Cây bưởi: Diện tích được 1.596 ha, tăng 1,02% so với cùng kỳ (bằng 16 ha). Sản lượng thu hoạch được 9.989 tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ (bằng 393 tấn).

- Cây nhãn: Diện tích gieo trồng được 1.013 ha, tăng 15,66% so với cùng kỳ (bằng 137 ha). Sản lượng thu hoạch được 9.106 tấn, tăng 6,19% (bằng 531 tấn) so với cùng kỳ.

5.2. Chăn nuôi

Ước tính năm 2020, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

- Đàn trâu: Có 1.455 con, giảm 0,75% (bằng 11 con) so với cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 165 tấn, tăng 1,37% (bằng 3 tấn) so với cùng kỳ.

- Đàn bò: Có 3.681 con, tăng 3,69% (bằng 131 con) so với cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 243 tấn, tăng 14,98% (bằng 23 tấn) so với cùng kỳ.

- Đàn lợn (heo): Hiện có 97.122 con (không tính heo con chưa tách mẹ) tăng 12,74% (bằng 10.976 con) so với cùng kỳ. Trong đó: heo thịt được 84.954 con, tăng 12,75% (bằng 9.604 con). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 18.230 tấn, giảm 20,73% (bằng 4.768 tấn). Sản lượng giảm do ảnh hưởng dịch tả lợn Châu phi, đến nay vừa mới tái đàn nên sản lượng chưa tăng.

- Đàn gia cầm: Hiện có 4.525 ngàn con[[12]], so với cùng kỳ năm trước tăng 2,06% (bằng 91,38 ngàn con). Sản lượng thịt gia cầm ước được 13.668 tấn, tăng 11,46% so với cùng kỳ năm trước (bằng 1.405 tấn). Sản lượng trứng gia cầm ước được 154.244 ngàn quả, tăng 2,87% so với cùng kỳ năm trước (bằng 4.306 ngàn quả). Đàn gia cầm tăng so với cùng kỳ là do ngành thú y thực hiện tốt công tác tiêm phòng, quản lý, giám sát dịch bệnh, dịch cúm gia cầm không để xảy ra trên địa bàn tỉnh; giá cả biến động theo hướng tăng, người chăn nuôi có lãi nên đầu tư tái đàn, mở rộng quy mô sản xuất.

5.3. Lâm nghiệp

Ước tính quý IV/2020, diện tích rừng trồng mới ước được 0,24 nghìn ha, so với cùng kỳ tăng 0,55%. Sản lượng gỗ khai thác ước được 3,05 nghìn m3, so với cùng kỳ giảm 17,72%. Sản lượng củi khai thác ước được 8,61 nghìn ste, tăng 1,85% so với cùng kỳ.

Ước tính năm 2020, diện tích rừng trồng mới ước được 0,42 nghìn ha, tăng 1,48% so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác ước được 14,08 nghìn m3 gỗ, tăng 1,31% so với cùng kỳ. Sản lượng củi khai thác ước được 68,10 nghìn ste, tăng 1,10% so với cùng kỳ.    

Công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định; công tác phòng chống cháy rừng được ngành chức năng chỉ đạo quyết liệt, đã nâng cấp cảnh báo cháy rừng toàn tỉnh lên cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm) trên tất cả các khu rừng, Ban chỉ đạo tỉnh, các Ban chỉ huy huyện, xã tổ chức các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, kiểm tra công tác ứng trực cháy rừng hằng ngày từ Văn phòng Ban chỉ đạo tỉnh đến huyện, xã và chủ rừng xuyên suốt kể cả thứ bảy, chủ nhật, thường xuyên theo dõi kiểm tra và cảnh báo kịp thời đến người dân. Tuy nhiên, trong năm đã xảy ra 01 vụ cháy rừng, với diện tích 1,58 ha do Công ty Du lịch miền Nam quản lý (trước đây là của Trung tâm nông nghiệp Mùa xuân quản lý).

5.4. Thủy sản

Diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh năm 2020, ước tính được 8.111 ha, tăng 4,22% (bằng 328 ha) so với cùng kỳ. Tổng sản lượng thủy sản cả năm ước được 76.442 tấn[[13]], tăng 5,2% (bằng 3.775 tấn) so với cùng kỳ. Diện tích và sản lượng đều tăng so với cùng kỳ là do cá thả nuôi ruộng sớm và nhiều hơn cùng kỳ, kỹ thuật nuôi được quan tâm nhiều hơn, giá bán cao hơn năm trước (đặc biệt là mô hình nuôi lươn rất có hiệu quả và phát triển mạnh), hộ nuôi có lợi nhuận nên tập trung đầu tư nuôi thủy sản.

6. Tình hình sản xuất công nghiệp

Mặc dù chịu ảnh hưởng từ dịch Covid-19, nhưng nhìn chung trong năm 2020, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối ổn định. Trong bối cảnh dịch Covid-19 còn diễn biến phức tạp, việc bảo đảm nguồn cung hàng hóa càng trở nên cấp thiết. Để không bị thiếu hụt hàng hóa, các DN lớn như: Công ty Cổ phần Thủy sản Minh Phú Hậu Giang, Công ty TNHH Lạc Tỷ II, Công ty TNHH MTV Masan Brewery Hậu Giang, Công ty TNHH Number One Hậu Giang,… đang triển khai các kế hoạch sản xuất kinh doanh, cân đối cung - cầu để chuẩn bị đầy đủ các nguồn hàng nhằm phục vụ tốt cho mọi đối tượng trong và ngoài nước, không để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa, đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới.

Vì vậy, ước tính tháng 12/2020, giá trị sản xuất công nghiệp: Tính theo giá so sánh 2010, được 2.471,59 tỷ đồng, tăng 1,14% so với tháng trước và tăng 8,39% so với cùng kỳ; tính theo giá thực tế được 4.172,03 tỷ đồng, tăng 4,15% so với tháng trước và tăng 13,05% so với cùng kỳ.

Ước tính năm 2020, giá trị sản xuất công nghiệp: Tính theo giá so sánh 2010, được 29.419,94 tỷ đồng, tăng 12,56% so với cùng kỳ và đạt 90,13% so với kế hoạch năm; tính theo giá thực tế được 43.186,20 tỷ đồng, tăng 15,90% so với cùng kỳ và đạt 92,49% so với kế hoạch năm. Nguyên nhân tăng là do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng 99,06% trong tổng giá trị toàn tỉnh, tăng 15,94%[[14]] so với cùng kỳ.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính tháng 12/2020, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 1,99% so với tháng trước và tăng 27,45% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Giấy Lee&Man Việt Nam sau thời gian ngưng hoạt động để bảo trì máy móc, thiết bị đã trở lại hoạt động bình thường nên sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước và những DN lớn khác như: Công ty TNHH MTV Masan Brewery Hậu Giang, Công ty TNHH Number One Hậu Giang,… các DN này tăng sản lượng sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường tiêu thụ trong dịp Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán sắp tới. Ngoài ra, Công ty Cổ phần Thủy sản Minh Phú Hậu Giang cũng tăng mạnh sản lượng sản xuất để phục vụ nhu cầu thị trường ở các nước nhập khẩu nhân dịp Noel và Tết Dương lịch.

Dự tính năm 2020, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,08% so với cùng kỳ. Cụ thể:

- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tăng 11,08% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do có sự đóng góp đáng kể của các DN có giá trị hoạt động lớn trong các ngành như: Sản xuất đồ uống tăng 191,35%, sản xuất giấy tăng 8,28%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 8,09%,… những DN này đã đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, máy móc, trang thiết bị, nâng cao năng suất, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm tăng tính cạnh tranh trên thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Vì vậy, sản lượng sản xuất của các DN này tăng và góp phần làm tăng chỉ số sản xuất ngành công nghiệp của tỉnh. Bên cạnh đó, có một số ngành giảm so với cùng kỳ như: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 10,52%, sản xuất trang phục giảm 6,54%, sản xuất hóa chất giảm 5,06%,… Nguyên nhân chủ yếu là do còn bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên khó khăn trong chuỗi cung ứng nguyên vật liệu, thị trường xuất khẩu và tiêu thụ không ổn định, chi phí đầu vào tăng làm giá thành sản phẩm tăng, khó tìm hợp đồng mới để tiêu thụ,…Vì vậy, các DN đã giảm sản lượng sản xuất để tập trung tiêu thụ, do đó làm ảnh hưởng đến chỉ số sản xuất chung của toàn ngành công nghiệp.

- Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: tăng 8,71% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty Điện lực đã cung cấp đủ điện, an toàn phục vụ phát triển kinh tế xã hội, hạn chế tối đa không để tình trạng mất điện đột ngột, đảm bảo nhu cầu sử dụng cho người dân và các DN được hoạt động liên tục, sản lượng truyền tải điện năng năm 2020 được 819,35 triệu kwh, tương ứng tăng 9,95% so với cùng kỳ.

- Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: tăng 12,86% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng là do Công ty Cổ phần Cấp Thoát nước – CTĐT Hậu Giang nắm được nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của người dân nông thôn ngày càng cao, nên công ty đã hoàn thiện và khởi công mới các tuyến đường ống dẫn nước đến các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh và khai thác thêm các nguồn nước ngầm, để đảm bảo cung cấp đầy đủ nước sạch phục vụ tốt việc sản xuất kinh doanh và sinh hoạt cho người dân. Vì vậy, sản lượng sản xuất nước sạch năm 2020 được 12.360,64 ngàn m3, tương ứng tăng 14% so với cùng kỳ.

Về tình hình sử dụng lao động: Tính đến thời điểm tháng 12/2020, chỉ số lao động toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,79% so với tháng trước và tăng 1,98% so với cùng kỳ. Tính chung 12 tháng tăng 3,49% so với cùng kỳ. Trong đó, tăng so với cùng kỳ chủ yếu ở các nhóm ngành như: sản xuất đồ uống tăng 42,42%, chế biến gỗ tăng 33,58%, sản xuất da tăng 10,84%, sản xuất hóa chất tăng 12,31%,… Còn lại một số ngành có chỉ số lao động giảm so với cùng kỳ như: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 6,97%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 5,37%, in sao chép bản ghi các loại giảm 5,2%,… do các ngành này có tỷ trọng thấp nên không ảnh hưởng nhiều đến chỉ số lao động chung của toàn tỉnh.

Về tình hình tiêu thụ: Tính đến thời điểm tháng 12/2020, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,42% so với tháng trước và giảm 6,8% so với cùng kỳ. Tính chung 12 tháng giảm 17,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tăng chủ yếu ở các nhóm hàng như: Sản xuất đồ uống tăng 29,91%, sản xuất giấy tăng 57,09%, sản xuất hóa chất tăng 31,94%,…. Còn lại một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm hoặc giảm sâu so với cùng kỳ như: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 11,49%, sản xuất trang phục giảm 22,32%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 34,48%,… các ngành này giảm nên ảnh hưởng nhiều đến chỉ số tiêu thụ chung của toàn tỉnh.

Về tình hình tồn kho: Tính đến thời điểm tháng 12/2020, chỉ số tồn kho của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,33% so với tháng trước và tăng 203,61% so với cùng kỳ. Trong đó, lượng tồn kho tăng nhiều tập trung ở các nhóm ngành: Sản xuất da tăng 33,47%, sản xuất giấy tăng 44,60%, sản xuất hóa chất tăng 62,30%,… do dịch Covid-19 đã làm ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của các ngành, lĩnh vực chậm lại. Vì vậy, các DN này cũng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 nên thị trường tiêu thụ không nhiều và một phần chưa áp dụng hiệu quả các hiệp định thương mại và các giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất nên lượng tồn kho tăng cao so với cùng kỳ.

Để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong tháng cuối năm 2020 và những năm tới, đề nghị các đơn vị thuộc tỉnh tiếp tục tập trung bám sát diễn biến, tình hình, tuyệt đối không chủ quan, chủ động và sẵn sàng các phương án ứng phó kịp thời, hiệu quả với những biến động mới phát sinh và các sự cố có thể xảy ra. Đồng thời, quyết liệt hơn nữa trong công tác chỉ đạo, điều hành và phối hợp tốt với địa phương triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra.

7. Hoạt động thương mại, dịch vụ

7.1. Bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Bước qua tháng 12/2020, Tỉnh tổ chức Hội chợ công thương và sản phẩm OCOP khu vực phía Nam diễn ra từ ngày 15-21/12/2020. Hội chợ có hơn 250 gian hàng của các đơn vị, DN, hợp tác xã từ Hậu Giang và nhiều tỉnh, thành phố tham gia; được chia làm 2 khu chính là khu gian hàng và khu tôn vinh sản phẩm OCOP. Hoạt động chính vẫn là tôn vinh thành tựu nổi bật, sản phẩm OCOP đã được xếp hạng sao tại Hậu Giang và các tỉnh, thành phố; sản phẩm làng nghề truyền thống, đặc sản vùng miền. Bên cạnh đó là nhiều hoạt động giao thương, mua bán sản phẩm, quảng bá, xúc tiến thương mại cho sản phẩm. Ngoài ra đây cũng là thời điểm các DN, cơ sở kinh doanh chuẩn bị hàng hóa phục vụ Lễ Noel và Tết Dương lịch nên thị trường hàng hóa bắt đầu sôi động hơn làm cho doanh thu thương mại, dịch vụ tăng.

Vì vậy, ước tính tháng 12/2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 4.224,80 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các DN đóng trên địa bàn tỉnh là 378,79 tỷ đồng), so với thực hiện tháng trước bằng 103,52% và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,80%. Cụ thể:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa thực hiện được 3.282,04 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 106,40%[[15]] và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,04%.

 - Doanh thu dịch vụ khác thực hiện được 342,30 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 102,41%[[16]] và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,63%.Cụ thể:

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước tính được 600,46 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 90,64%[[17]] và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,17%, doanh thu tháng này giảm so với tháng trước do tháng trước có tổ chức giải Mekong Delta Marathon nên doanh thu lưu trú, ăn uống tăng cao, nhưng so với cùng kỳ doanh thu ngành này vẫn tăng.

Ước tính cả năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 40.204,55 tỷ đồng (Trong đó, chi nhánh của các DN đóng trên địa bàn tỉnh là 4.385,33 tỷ đồng), so với cùng kỳ năm trước bằng 100,99% và so với kế hoạch năm đạt 101,29%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa thực hiện được 30.849,63 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 102,40% và so với kế hoạch năm đạt 105,01%.

- Doanh thu dịch vụ khác thực hiện được 3.399,05 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 100,30% và so với kế hoạch năm đạt 94,46%.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 5.955,87 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 94,63% và so với kế hoạch năm đạt 88,71%.

Hoạt động thương mại, dịch vụ ước tính cả năm 2020 có tốc độ tăng trưởng thấp do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 ở những tháng đầu năm, hạn mặn và nắng nóng kéo dài. Trong đó, các ngành dịch vụ thì có tỷ trọng doanh thu thấp, số lượng DN hoạt động trong lĩnh vực này tương đối ít, nhất là ngành lưu trú, ăn uống. Ngành dịch vụ chủ yếu là hoạt động của các cơ sở kinh doanh cá thể có quy mô nhỏ nên dễ bị tác động bởi các yếu tố khách quan bên ngoài. Bên cạnh đó, Hậu Giang là tỉnh có cơ cấu kinh tế với ngành nông, lâm, thủy sản chiếm tỷ trọng cao, du lịch chưa phát triển, chưa có nhiều địa điểm kinh doanh vui chơi, giải trí thu hút khách từ nơi khác đến. Tuy nhiên, trong những tháng cuối năm các cấp, các ngành đã tăng cường tổ chức hoạt động hội chợ, sự kiện, xúc tiến thương mại nhằm kích thích tiêu dùng. Vì vậy, tính đến cuối năm 2020 ngành thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh vẫn có tăng trưởng nhưng không cao so với cùng kỳ năm trước.

7.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Ước tính tháng 12/2020, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp được 124,724 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 129,48% và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,24%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 64,930 triệu USD, so với tháng trước bằng 121,64%[[18]] và so với cùng kỳ năm trước bằng 114,55%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 59,794 triệu USD, so với tháng trước bằng 139,23% và so với cùng kỳ năm trước bằng 70,62%.

Tuy giá trị xuất, nhập khẩu đã và đang tăng trưởng trở lại trong những tháng cuối năm, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn và có mức tăng trưởng cả năm so với cùng kỳ là không cao. Ước tính năm 2020, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 1.062,767 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 101,61% và so với kế hoạch năm đạt 101,80%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 610,540 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 104,30% và so với kế hoạch năm đạt 86,48%.

Hoạt động xuất khẩu trong những tháng cuối năm đang dần đi vào ổn định. Các DN xuất khẩu chủ lực trên địa bàn đã tìm kiếm được những đơn đặt hàng mới đảm bảo cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu. Hiện nay, xét theo khu vực kinh tế thì kinh tế tư nhân vẫn là khu vực có giá trị xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng kim ngạch chung, ước cả năm thực hiện được 343,031 triệu USD (chiếm 56,19%), còn lại là khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài FDI, ước thực hiện được 266,813 triệu USD (chiếm 43,81%). Tỷ trọng xuất khẩu giữa 2 khu vực này không chênh lệch nhiều, trong những năm gần đây khu vực kinh tế FDI mặc dù có rất ít DN tham gia xuất khẩu so với khu vực tư nhân nhưng giá trị xuất khẩu đóng góp của khu vực này qua từng năm tăng lên rất nhiều và đang dần thu hẹp khoảng cách về kim ngạch xuất khẩu. Nếu năm 2015, tỷ trọng đóng góp chỉ chiếm 7,13% thì sau 5 năm đến năm 2020 đã tăng lên hơn 40%, cho thấy các DN có tốc độ phát triển rất nhanh và đang tiếp tục có giá trị tăng trong những năm tiếp theo.

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu trong năm 2020 vẫn ổn định không có nhiều thay đổi, các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực vẫn là 03 nhóm hàng: Thủy hải sản chế biến các loại (chiếm tỷ trọng 45,55% trong tổng kim ngạch), hàng may mặc giày dép (chiếm 34,32%), giấy (chiếm 8,52%). Còn lại là các nhóm hàng: nông sản, dệt may và một số nhóm hàng khác. Tất cả các nhóm hàng còn lại này chỉ chiếm tỷ trọng rất ít trong tổng giá trị chung, khoảng 11,61%.

Đối với thị trường xuất khẩu, trong năm 2020 các DN trên địa bàn đã xuất đi được khoảng 100 nước và vùng lãnh thổ. Trong đó, các thị trường xuất khẩu chủ lực vẫn là Mỹ, các nước EU, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc…. Chỉ tính riêng tổng giá trị xuất khẩu của các thị trường này trong năm 2020 đã đạt kim ngạch 430,914 triệu USD, chiếm tỷ trọng khoảng 70% tổng giá trị xuất khẩu chung của hơn 20 DN có hoạt động xuất khẩu trên địa bàn tỉnh. Xét theo khu vực địa lý thì Đông Á là vùng có giá trị xuất đi nhiều nhất trong năm 2020 đạt giá trị 207,526 triệu USD, kế đến là khu vực Bắc Mỹ đạt 193,632 triệu USD, sau cùng là khu vực Châu Âu đạt 91,576 triệu USD (trong đó khu vực Tây Âu có giá trị xuất khẩu nhiều nhất và chiếm ưu thế).

- Nhập khẩu ước thực hiện được 391,484 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 101,29% và so với kế hoạch năm đạt 142,88%. So với năm 2019, cơ cấu các nhóm hàng nhập khẩu có sự thay đổi đáng kể. Trong năm 2020, có một số mặt hàng mới được các DN nhập khẩu và có giá trị tương đối cao, đó là sản phẩm dầu cọ, dầu cá, bơ, sữa và các sản phẩm từ sữa. Tổng giá trị nhập khẩu của các mặt hàng này được nhập trong năm 2020 đạt giá trị khoảng 40,861 triệu USD và chiếm tỷ trọng khoảng 10,43%. Ngoài những thay đổi trên thì các nhóm hàng nhập khẩu còn lại vẫn có giá trị ổn định được các DN nhập về để phục vụ sản xuất. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu vẫn là các nguyên vật liệu sản xuất, máy móc thiết bị, hóa chất, giấy phế phẩm, xăng dầu và một số mặt hàng cần thiết khác.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 2,159 triệu USD, tăng cao so với cùng kỳ năm trước bằng 164,81% và so với kế hoạch năm vượt 115,90%

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 58,584 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 80,57% và so với kế hoạch năm đạt 92,99%.

Hiện nay, hoạt động xuất nhập khẩu đang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển và tăng giá trị trong những năm tiếp theo. Sự tác động tích cực của Hiệp định Thương mại tự do EVFTA sẽ mang lại nhiều cơ hội lớn, tạo cú hích mạnh mẽ cho các DN Việt Nam có thêm động lực để phát triển và hòa nhập. Mặt khác, việc Chính phủ Việt Nam cùng với các nước trong khối ASEAN cùng với Nhật Bản, Hàn Quốc, Austraylia, NewZiland và Trung Quốc thực hiện ký kết Hiệp định RCEP (với tổng giá trị thương mại ước tính chiếm khoảng 30% của thương mại toàn cầu) chính thức có hiệu lực vào năm 2021, hứa hẹn sẽ mở ra thêm nhiều cơ hội cho các DN trong hoạt động xuất nhập khẩu, giúp các DN của Việt Nam có thể hòa nhập sâu rộng vào thị trường thế giới, phát triển các chuỗi giá trị cung ứng bền vững, dễ dàng tìm kiếm sự hợp tác đầu tư thương mại trong tương lai và đặc biệt có thể tìm kiếm và mở rộng thêm thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm có thế mạnh là: Thủy sản, da, giày và dệt may,... sang nhiều thị trường hơn nữa trong những năm tiếp theo.

7.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Tình hình hoạt động vận tải, kho bãi trong quý IV/2020 có mức tăng trưởng âm so với cùng kỳ năm trước. Tổng giá trị doanh thu vận tải kho bãi và bưu chính chuyển phát trong quý ước được 303,88 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 94,79%. Do tình hình dịch Covid-19 hiện nay đang còn nhiều diễn biến phức tạp, khi vừa qua đã phát hiện thêm một số ca nhiễm mới trong cộng đồng khiến nhu cầu di chuyển đi lại, vận chuyển hàng hóa của người dân và các cơ sở kinh doanh vận tải trên địa bàn sụt giảm.

Ước tính năm 2020, tổng doanh thu vận tải, kho bãi được 1.086,24 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 93,72%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 371,07 tỷ đồng bằng 86,00% so với cùng kỳ, đường thủy thực hiện được 396,59 tỷ đồng bằng 84,93% so với cùng kỳ. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 318,58 tỷ đồng, bằng 122,27% so với cùng kỳ.

Sự bùng phát của dịch Covid-19 từ đầu năm đến nay đã gây ảnh hưởng xấu và tác động mạnh mẽ đến các hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn. Trong năm 2020, đã có ba lần dịch bệnh bùng phát và phát hiện các ca nhiễm mới trong cộng đồng. Đỉnh điểm nhất của đợt bùng phát dịch bệnh là vào tháng 7 tại Đà Nẵng khi liên tiếp có nhiều ca bệnh được phát hiện và số lượng tử vong cũng đáng báo động, khiến nhu cầu đi du lịch của người dân giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước. Mặt khác, trong tháng 4 dịch bệnh mới bùng phát và có nhiều diễn biến phức tạp khôn lường, vì để đảm bảo an toàn về sức khỏe cho người dân Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị thực hiện giãn cách toàn xã hội, theo đó bắt buộc tất cả các hoạt động kinh doanh, dịch vụ không thiết yếu không được hoạt động. Chính vì thế đã làm ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động vận chuyển kinh doanh vận tải trên địa bàn. Hầu hết hoạt động vận chuyển hàng hoá, hành khách đường bộ và đường sông đều có mức sụt giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2019. Chỉ riêng hoạt động kho bãi và bưu chính chuyển phát vẫn phát triển ổn định và có mức tăng trưởng tương đối cao, tăng 22,27% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do từ cuối năm 2019 các DN hoạt động kho bãi trên địa bàn mở rộng quy mô kinh doanh nên có giá trị tăng cao đột biến. Vì vậy, trong năm 2020, doanh thu dịch vụ vận tải có sự tăng trưởng tương đối cao so với cùng kỳ năm 2019.

Nhìn chung, hiện nay giá trị doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi được tạo ra chủ yếu là từ khu vực kinh tế tư nhân. Trên địa bàn không có DN đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nào đầu tư hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này. Do đó, tổng giá trị sản xuất được tạo ra hàng năm vẫn còn thấp so với các tỉnh bạn trong vùng và mức chung của cả nước. Về phương thức hoạt động vẫn còn chưa đa dạng, nhiều loại hình dịch vụ mới chưa được kinh doanh như ở các tỉnh thành lớn trong khu vực. Vì vậy, trong thời gian tới các ngành hữu quan cần chú trọng nâng cấp, mở rộng nhiều tuyến đường giao thương quan trọng nối với các tỉnh, thành phố lớn nhằm thúc đẩy hoạt động vận tải ngày càng phát triển, tạo ra giá trị doanh thu ngày một lớn hơn.

7.3.1. Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Ước tính tháng 12/2020, toàn tỉnh vận chuyển được 664,54 nghìn tấn hàng hóa các loại (49.260,41 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 103,32% (102,85%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,99% (91,60%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 143,41 nghìn tấn (9.320,31 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 103,89% (103,02%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,51% (99,33%).

 - Đường sông thực hiện được 521,13 nghìn tấn (39.940,10 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 103,16% (102,81%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,12% (89,96%).

Ước tính năm 2020, toàn tỉnh vận chuyển được 7.365,28 nghìn tấn hàng hóa các loại (522.580,61 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 94,91% (92,06%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 1.668,18 nghìn tấn (98.099,02 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 96,73% (97,36%).

 - Đường sông thực hiện được 5.697,10 nghìn tấn (424.481,59 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 94,38% (90,92%).

7.3.2. Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Ước tính tháng 12/2020, toàn tỉnh thực hiện được 3.351,86 nghìn lượt hành khách (42.480,74 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 104,28% (103,87%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,61% (93,66%). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 917,96 nghìn lượt hành khách (29.536,92 nghìn  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 102,26% (103,73%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 83,36% (89,58%).

 - Đường sông vận chuyển được 2.433,90 nghìn lượt hành khách (12.943,82 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 105,07% (104,19%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,77% (104,49%).

Ước tính năm 2020, toàn tỉnh vận chuyển được 59.331,08 nghìn lượt hành khách (471.306,94 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 87,73% (83,40%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 33.350,64 nghìn lượt hành khách (327.933,47 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 82,65% (80,24%).

 - Đường sông thực hiện được 25.980,44 nghìn lượt hành khách (143.373,46 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 95,23% (91,68%).

8. Các vấn đề về xã hội

8.1. Giáo dục

Năm học 2019 - 2020, toàn tỉnh huy động được 155.119 học sinh đến trường, vượt 2,59% kế hoạch đề ra. Kỳ thi Trung học phổ thông năm 2020 tổ chức tại tỉnh Hậu Giang diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy định. Công tác thi, thanh tra thi, chấm thi, công bố kết quả thi thực hiện đúng theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hậu Giang có 5.553 thí sinh đăng ký dự kỳ thi Trung học phổ thông, tăng 75 thí sinh so với cùng kỳ, tỷ lệ tốt nghiệp đạt 98,29% cao hơn năm 2019 (năm 2019 đạt 94,69%).

Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực ngành giáo dục không ngừng nâng lên. Tỷ lệ cán bộ quản lý, giáo viên cấp học mầm non đạt chuẩn 91,01%; trên chuẩn 64,19%; tỷ lệ cán bộ quản lý, giáo viên cấp tiểu học đạt chuẩn 71,15%; trên chuẩn 0,15%; tỷ lệ cán bộ quản lý, giáo viên cấp trung học cơ sở đạt chuẩn 85,79%; trên chuẩn 0,8%; tỷ lệ cán bộ quản lý, giáo viên cấp trung học phổ thông đạt chuẩn 100%; trên chuẩn 16,82%; tỷ lệ cán bộ quản lý, giáo viên trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh đạt chuẩn 100%; trên chuẩn 15,38%.

Công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia được quan tâm chỉ đạo, đến nay đã có 261/326 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 80,06% tổng số trường, tăng 40 trường so với cùng kỳ. Công tác nâng cao chất lượng giáo dục được tập trung chỉ đạo; số lượng học sinh yếu, kém và bỏ học giảm so với năm học trước; tỷ lệ học sinh, khá giỏi và kết quả các kỳ thi đã được nâng lên. Duy trì và nâng cao chất lượng công tác phổ cập giáo dục (PCGD) - xóa mù chữ các cấp PCGD mầm non cho trẻ 5 tuổi, PCGD tiểu học mức độ 3, PCGD THCS mức độ 1, xóa mù chữ mức độ 2. Số sinh viên/vạn dân đạt 200 sinh viên.

8.2. Tình hình văn hóa, thể thao

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, phong trào văn hóa nghệ thuật cũng được tổ chức phù hợp theo tình hình mới. Trong năm, toàn ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tập trung tổ chức thực hiện tuyên tuyền tốt nhiệm vụ chính trị của năm 2020. Đặc biệt, là tuyên truyền Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2020 – 2025 và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng với 32.660 cờ các loại, 1.391 băng rol, 19.590m2 pano cố định và 30 pano di động. In và phát hành 02 mẫu tranh cổ động số lượng 3.000 tờ chào mừng Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV và 1.500 tờ tin ảnh số đặc biệt chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Hậu Giang thành công tốt đẹp.

Các Đội Tuyên truyền lưu động trong tỉnh bám sát nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ kỷ niệm. Phối hợp với Đội tuyên truyền lưu động của các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng, kịch bản và tổ chức biểu diễn phục vụ nhân dân với 920 buổi, phục vụ 542.000 lượt người xem, 920 buổi phóng thanh cổ động.

Thực hiện công tác xây dựng, biểu nghệ thuật chương trình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị và các ngày lễ kỷ niệm trong năm 2020 như: Tổ chức phục vụ tốt các hoạt động Mừng Đảng quang vinh – Mừng Xuân Canh Tý 2020 gắn với Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2020); tuyên truyền kỷ niệm 45 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2020) và Quốc tế Lao động 1/5; tuyên truyền kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5; kỷ niệm 73 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ(27/7/1947-27/7/2020); kỷ niệm 75 năm Ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(2/9/1945 – 2/9/2020)… với 92 buổi, phục vụ 56.000 lượt người xem; Tổ chức các đợt chiếu phim nhân các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước và địa phương với 144 buổi, phục vụ 42.000 lượt người xem.

Về hoạt động thư viện: Trong năm 2020, phát huy hiệu quả của xe thư viện, Thư viện tỉnh Hậu Giang đã tổ chức 12 lần phục vụ đến 81 điểm trường trên địa bàn tỉnh với các hoạt động triển lãm sách, phục vụ truy cập internet miễn phí và tổ chức các trò chơi bổ ích. Tổ chức Cuộc thi viết “Đại sứ Văn hóa đọc” thu hút 4.656 bài dự thi từ 66 trường tiểu học, THCS và THPT trên địa bàn tỉnh. Kết quả có 18 cá nhân và 02 tập thể đạt giải vòng sơ khảo; 02 cá nhân đạt giải vòng chung khảo toàn quốc.

Hoạt động bảo tồn - bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa: Triển lãm thường xuyên và lưu động 42 cuộc, phục vụ các sự kiện: Triển lãm ảnh phục vụ Họp mặt Nhà báo, Văn nghệ sĩ, Nhà DN, Nhà khoa học, Nông dân sản xuất giỏi, Kiều bào nhân dịp Xuân Canh Tý 2020; Hội báo Xuân - Triển lãm ảnh và Cuộc thi bình chọn ấn phẩm Xuân Canh Tý 2020; kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2020),…. Tiếp 150 đoàn khách tham quan tại các di tích cấp Quốc gia đặc biệt Chiến thắng Chương Thiện tại TP.Vị Thanh; Căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ, Chiến thắng Tầm Vu; Đền thờ Bác Hồ; Chiến thắng Chương Thiện tại Vĩnh Viễn; Khu trù Mật Vị Thanh - Hỏa Lựu,…

Về phong trào thể dục thể thao: Tỉnh tổ chức thành công các giải thể thao mừng Đảng - mừng Xuân 2020. Đăng cai tổ chức giải vô địch trẻ Vovinam toàn quốc lần thứ 18 năm 2020. Tổ chức thành công giải Marathon quốc tế “Mekong Delta Marathon” tỉnh Hậu Giang năm 2020, có 7.200 vận động viên tham gia để lan tỏa thông điệp chống biến đổi khí hậu. Về thể thao quần chúng: tham gia 02 giải đạt 02 huy chương bạc và 01 huy chương đồng. Về Thể thao thành tích cao: Tham gia 21 giải đạt 09 huy chương vàng, 18 huy chương bạc, 28 huy chương đồng.

Để quảng bá, xúc tiến du lịch, Tỉnh đã ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 26/2019/NQ-HĐND ngày 06 tháng 12 năm 2019; triển khai xây dựng mô hình du lịch cộng đồng tại Hậu Giang; triển khai dịch vụ truyền thông du lịch Hậu Giang trên phong bì truyền thông và nhãn tem truyền thông với Slogan “Trải nghiệm văn hóa - Khám phá thiên nhiên”. Xây dựng Đề án Tạo dựng hình ảnh tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Tiếp tục triển khai thực hiện Thỏa thuận liên kết hợp tác phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh, thành đồng bằng sông Cửu Long. Thực hiện xây dựng các bảng chỉ dẫn đến các khu điểm du lịch trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, lượng khách du lịch đã giảm 53% so với cùng kỳ (cùng kỳ 486.861 lượt khách).

8.3. Lao động và an sinh xã hội

Trong năm 2020, Tỉnh đã giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 17.300/15.000 lao động, đạt 115,3% kế hoạch năm, giảm 3,62% so với cùng kỳ năm 2019. Ban hành Quyết định giải quyết chế độ Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định cho 7.181 người với số tiền hơn 88,1 tỷ đồng. Đào tạo nghề cho 11.195/6.500 lao động, đạt 172,2% so với kế hoạch (tăng 18,47% so với cùng kỳ năm 2019). Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 61,19%, tăng 5,51% so với cùng kỳ năm 2019 (55,68%).

Hiện nay, cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong khối hành chính sự nghiệp mức thu nhập bình quân hàng tháng đã tăng lên. Ước bình quân mức thu nhập người/tháng của mỗi lao động trong khu vực nhà nước do địa phương quản lý là 6,5 triệu đồng (tăng 6,1% so cùng kỳ), thu nhập mỗi lao động trong khu vực nhà nước do trung ương quản lý 8,3 triệu đồng (tăng 6,5% so cùng kỳ).

Đối với người lao động thuộc khối DN: Ước thu nhập bình quân người/tháng của công nhân trực tiếp sản xuất thuộc các DN trong khu vực nhà nước do địa phương quản lý là 5,3 triệu đồng (tăng 5,4% so cùng kỳ năm trước) và trung ương quản lý là 6,4 triệu đồng (tăng 5,6% so cùng kỳ năm trước). Đối với lao động ngoài nhà nước hiện nay thu nhập cũng tương đối ổn định, tuy nhiên do hiệu quả hoạt động của các DN chưa cao nên thu nhập chưa thật sự bền vững và chắc chắn; ước tính thu nhập bình quân của lao động trong khối DN tư nhân khoảng 4,8 triệu đồng/ người/tháng (tăng 5,8% so cùng kỳ năm trước). Đối với lao động thuộc DN có vốn đầu tư nước ngoài ước thu nhập bình quân 7,2 triệu đồng/người/tháng (tăng 7,2% so cùng kỳ năm trước).

Đối với người dân nông thôn: Nhìn chung cuộc sống của người dân tương đối ổn định. Tuy nhiên, để đời sống của người dân ngày càng được nâng chất thì các cấp Đảng, chính quyền cần có những cơ chế, chính sách phù hợp hơn cho lĩnh vực nông nghiệp như: hỗ trợ các DN trong việc nắm bắt thông tin, hiểu rõ hơn những quy định mới từ các nước nhập khẩu đặt ra để từ đó có thể chủ động lên kế hoạch sản xuất hợp lý, nâng cao chất lượng hàng nông sản giúp nông dân có đầu ra sản phẩm ổn định.

Về tình hình thiếu đói: Tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Hậu Giang từ khi chia tách đến nay giữ được ổn định và phát triển bền vững. Do vậy, trong năm 2020 trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói.

Công tác giảm nghèo: Bằng nhiều biện pháp hỗ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất như hỗ trợ vốn và các chương trình lồng ghép khác của dự án xóa đói giảm nghèo và sự nỗ lực vươn lên từ các hộ nghèo, đến nay số hộ nghèo đã giảm đáng kể. Kết quả rà soát sơ bộ hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2020 theo chuẩn tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, cụ thể như sau:

- Tổng số hộ nghèo: 6.995 hộ, chiếm tỷ lệ 3,45% (so với năm 2019 giảm 1,53%, năm 2018 là 10.088 hộ, chiếm tỷ lệ 4,98%).

- Tổng số hộ cận nghèo: 7.112 hộ, chiếm tỷ lệ 3,51% (so với năm 2019 giảm 0,85%, năm 2018 là 8.832 hộ, chiếm tỷ lệ 4,36%).

Kết quả trên, là cơ sở để nghiên cứu, đề xuất các cơ chế, chính sách hỗ trợ giảm nghèo bền vững. Đồng thời, xúc tiến xây dựng kế hoạch về các dự án, chính sách giảm nghèo giai đoạn 2021-2025.

Công tác bảo trợ xã hội: Thực hiện trợ cấp hàng tháng cho 382.537 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 143,08 tỷ đồng. Năm 2020, toàn tỉnh đã tổ chức họp mặt, thăm và tặng quà cho người có công với cách mạng, hộ nghèo và các đối tượng chính sách - xã hội khác với tổng kinh phí 256,65 tỷ đồng. Trong đó, hỗ trợ cho các đối tượng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 là 118,02 tỷ đồng.

Công tác thực hiện chính sách Người có công luôn được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo sâu sát, nhất là việc triển khai tổ chức thực hiện các quy định mới về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, công tác rà soát thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công, nhằm xoa dịu nỗi đau, khích lệ tinh thần và ổn định cuộc sống của người dân. Theo báo cáo của Sở Lao động Thương binh và Xã hội, trong năm Tỉnh đã tổ chức các hoạt động đạt  kết quả như sau:

- UBND tỉnh phê duyệt danh sách, kinh phí hỗ trợ 760 người là vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc lấy vợ khác đang hưởng trợ cấp hàng tháng gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, với số tiền 1,14 tỷ đồng theo Công văn số 2830/LĐTBXH-NCC ngày 30/7/2020 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội về việc thực hiện chính sách hỗ trợ cho người có công cách mạng và thân nhân theo Nghị quyết số 42/NQ-CP và Quyết định số 15/QĐ-TTg.

- Tập trung cao điểm tổ chức thực hiện tốt các hoạt động kỷ niệm 73 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2020), với các hoạt động như:

+ Tổ chức họp mặt, thăm, tặng gần 36.000 phần quà cho người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh với số tiền gần 13 tỷ đồng; trong đó: kinh phí thăm, tặng quà là 11,22 tỷ đồng (Trung ương 2,85 tỷ đồng, địa phương 7,42 tỷ đồng, vận động 0,95 tỷ đồng);

+ Tổ chức các Đoàn đi thăm, tặng 109 phần quà cho các Bà mẹ Việt Nam anh hùng; Thương binh - Bệnh binh, Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên (sức khỏe yếu, không đi lại được) với số tiền 54,5 triệu đồng.

+ Tổ chức Họp mặt Người có công với cách mạng cấp tỉnh gắn với Lễ truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” đợt 10 và trao tặng Huân chương độc lập cho gia đình có nhiều liệt sĩ hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc với 450 đại biểu tham dự. Tại buổi họp mặt, Ban Tổ chức đã trao tặng 377 phần quà cho người có công với số tiền trên 245 triệu đồng; công bố Quyết định và trao tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho 14 trường hợp, Huân chương độc lập và Huân chương kháng chiến cho 20 trường hợp và 01 Bằng “Tổ quốc ghi công” cho thân nhân liệt sĩ.

+ Thăm, tặng 250 phần quà cho người có công với cách mạng đang điều trị tại các Bệnh viện, Trung tâm y tế trên địa bàn tỉnh với số tiền 125 triệu đồng.

+ Tổ chức Lễ viếng và thắp nến tri ân tại Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh.

Về công tác quản lý đối tượng: Tổng số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý trên địa bàn tỉnh tại thời điểm báo cáo là 1.587 người; số người nghiện đang có mặt tại cơ sở cai nghiện là 210 người.

8.4. Y tế

Theo báo cáo của Sở Y tế, trong tháng có 16 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, tăng 05 ca so với tháng trước, cộng dồn là 153 ca, giảm 456 ca so với cùng kỳ; bệnh tay chân miệng có 83 ca mắc mới, tăng 21 ca so với tháng trước, cộng dồn là 322 ca, giảm 651 ca so với cùng kỳ; bệnh sởi, bệnh viêm gan do virut, quai bị và các bệnh truyền nhiễm khác chưa ghi nhận ca mắc. Đối với dịch Covid-19 tỉnh chưa phát hiện ca bệnh, công tác phòng, chống dịch được thực hiện theo quy định.

Trong tháng, Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ là 768 trẻ, cộng dồn là 11.250 trẻ, đạt 99,22%; tiêm sởi mũi 2 là 788 trẻ, cộng dồn là 11.043 trẻ, đạt 97,02%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) là 805 thai phụ, cộng dồn là 10.614 thai phụ, đạt 93,85%; số nhiễm HIV mới phát hiện là 02 ca, cộng dồn là 74 ca (giảm 88 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.820 ca (người còn sống 1.215 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện là 06 ca, cộng dồn là 21 ca (tương đương cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.043 ca; số bệnh nhân tử vong do AIDS là 00 ca, cộng dồn là 19 ca (tăng 04 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 605 ca. Số người hiện đang điều trị Methadone là 66 người, tổng số bệnh nhân điều trị ARV là 840 người.

Kết quả thực hiện khám chữa bệnh đến tháng 12/2020: Tổng số lần khám là 165.066 lượt, cộng dồn là 1.991.010 lượt, đạt 98,59% kế hoạch, giảm 2,73% so với cùng kỳ. Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú là 10.376 lượt, cộng dồn là 106.676 lượt, đạt 84,29% kế hoạch, giảm 8,66% so với cùng kỳ. Ngày điều trị trung bình là 5,87 ngày, giảm 0,16 ngày so với cùng kỳ. Tổng số tai nạn ngộ độc, chấn thương là 9.958 trường hợp, giảm 1.436 trường hợp so với cùng kỳ.

Chữa bệnh bằng Y học dân tộc: Tổng số khám bệnh là 18.611 lượt, cộng dồn là 260.155 lượt, chiếm tỷ lệ 13,07% tổng số lượt khám chữa bệnh chung, giảm 8,28% so với cùng kỳ.

8.5. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Trong tháng 12/2020, Theo số liệu của Ban An toàn giao thông trên địa bàn tỉnh xảy ra 26 vụ tai nạn giao thông, làm chết 16 người và làm bị thương 13 người. So với tháng trước tăng 15 vụ (đường bộ tăng 16 vụ, đường thủy giảm 01 vụ), số người chết tăng 05 người (đường bộ tăng 06 người, đường thủy giảm 01 người) và số người bị thương tăng 13 người (tập trung đường bộ). So với cùng kỳ năm trước số vụ tăng 10 vụ, số người chết tăng 10 người và số người bị thương giảm 02 người (tất cả tập trung ở đường bộ).

Tình chung cả năm 2020, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra tổng cộng 89 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 87 vụ, đường thủy 02 vụ), làm chết 65 người (đường bộ 63 người, đường thủy 02 người) và làm bị thương 33 người (tập trung ở đường bộ). So với cùng kỳ năm trước giảm 05 vụ, số người chết giảm 11 người và số người bị thương giảm 02 người (tất cả tập đều tập trung ở đường bộ).

8.6. Tình hình môi trường, thiên tai và phòng chống cháy, nổ

Ngành chức năng tiếp tục giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các cơ sở có thông tin phản ánh để kịp thời xử lý theo quy định. Tính đến tháng 12/2020, ngành chức năng phát hiện 50 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý với tổng số tiền xử phạt là 574 triệu đồng.

Về tình hình thiên tai:

- Sạt lở: 49 điểm với chiều dài sạt lở 1.244,5m; diện tích mất đất bờ kênh 5.954,5m2, ước thiệt hại khoảng 2.577 triệu đồng, tăng 259 triệu đồng so với năm 2019 (2.318 triệu đồng).

- Dông lốc: Sập và hư hại 336 căn nhà, ước thiệt hại 4.560 triệu đồng, so với cùng kỳ thiệt hại năm 2019 (2.756 triệu đồng) tăng 1.804 triệu đồng.

- Triều cường đã làm ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh, cụ thể:

+ Trên lúa Thu Đông 2020: Diện tích bị ngập và đổ ngã do mưa tỷ lệ 30-70% thiệt hại 5.285,5 ha; tỷ lệ trên 70% thiệt hại 2.685,58 ha.

+ Trên cây ăn trái: Do ảnh hưởng của mưa lớn trong những ngày qua kết hợp với triều cường các sông, kênh rạch dâng cao gây ngập úng cục bộ trên các vườn cây ăn trái trên địa bàn tỉnh tỷ lệ 30-70% thiệt hại 1.014,07 ha; tỷ lệ trên 70% thiệt hại 627,94 ha.

+ Trên cây mía: Diện tích mía bị ngập tỷ lệ từ 30% - 70% thiệt hại 209,92 ha; tỷ lệ trên 70% thiệt hại 60,74 ha.

+ Trên cây khóm: Theo ghi nhận diện tích khóm bị nước gây ngập trên địa bàn thành phố Vị Thanh độ ngập từ 5-40 cm, thiệt hại 1.668,78 ha, trong đó tỷ lệ 30% - 70% thiệt hại 1.534,48 ha; tỷ lê trên 70% thiệt hại 134,30 ha.

+ Trên rau màu: Triều cường kết hợp mưa tại chỗ làm mực nước các sông, kênh rạch dâng cao. Theo ghi nhận toàn tỉnh có rau màu các loại và gừng bị ngập trong nước, với mức độ ngập từ 10 - 40 cm,  tỷ lệ 30% - 70% thiệt hại 217,97 ha; tỷ lệ trên 70% thiệt hại 484,62 ha.

+ Diện tích thủy sản bị ngập nước: Diện tích thủy sản bị ngập trên địa bàn tỉnh tỷ lệ 30% - 70% thiệt hại 176,83 ha, tỷ lệ trên 70% thiệt hại 88,90 ha.

- Ước tổng giá trị thiệt hại là 151,60 tỷ đồng. Tỉnh đã hỗ trợ 21,81 tỷ đồng, đồng thời đã chỉ đạo các bộ phận chuyên môn theo dõi thời tiết bất thường để khuyến cáo người dân khi có thiên tai xuất hiện.

Công tác phòng chống cháy, nổ luôn được các ngành chức năng quan tâm thực hiện, định kỳ có kiểm tra, hướng dẫn người dân, các cơ sở kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy. Mặc dù được quan tâm thực hiện tốt nhưng tính từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 5 vụ cháy, may mắn không thiệt hại về người, ước tổng tài sản thiệt hại khoảng 854 triệu đồng.

9. Đề xuất giải pháp

Tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh: Tiếp tục đơn giản hóa, cắt giảm thủ tục hành chính, cải thiện chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX), chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), chỉ số hài lòng của người dân (SIPAS), tổ chức tốt công tác đối thoại,  góp phần giữ vững ổn định chính trị và thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong bộ phận “một cửa” cũng như việc giải quyết thủ tục hành chính cho DN, thực hiện rà soát, đánh giá việc thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, trong đó công bố thủ tục hành chính, thời gian giải quyết. Đẩy mạnh cấp phép điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4.

Tái cơ cấu nông nghiệp, thủy sản, cây ăn trái gắn với xây dựng nông thôn mới: Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nền nông nghiệp có giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững trên cơ sở tập trung cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Đẩy mạnh áp dụng khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ thông minh vào các khâu sản xuất, nhằm tăng chất lượng, sức cạnh tranh và thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống Nhân dân.

Tăng cường công tác thông tin, hỗ trợ các công ty, DN và các cơ sở xay xát gạo trên địa bàn tỉnh hoàn chỉnh hồ sơ thủ tục đề nghị Bộ Công Thương cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo được quy định tại Nghị định số 107/2018/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh xuất khẩu gạo, qua đó giúp tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu, đặc biệt là kim ngạch xuất khẩu gạo trực tiếp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Tiếp tục đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, kêu gọi đầu tư vào các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghiệp chế biến nông sản, thủy sản có lợi thế cạnh tranh và phát triển một số hàng tiêu dùng có khả năng tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại để nhiều sản phẩm chủ lực của tỉnh có thêm thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước. Tiếp tục thực hiện việc cấp mã vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, xây dựng chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm nông sản an toàn, tạo tiền đề từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm của tỉnh.... để có thể đủ điều kiện xuất đi nước ngoài hoặc đưa vào các siêu thị trong nước.

Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp điều hành thu ngân sách nhà nước, tập trung tháo gỡ, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc của DN nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các DN. Tăng cường công tác quản lý chi ngân sách nhà nước, đảm bảo chặt chẽ, triệt để tiết kiệm các khoản chi thường xuyên, chi cho bộ máy quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập. Tập trung thực hiện tốt các chính sách, chế độ về an sinh xã hội đảm bảo kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề cao, tập trung chủ yếu tại thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc và Châu Âu. Ký kết hợp tác với DN, hỗ trợ DN đào tạo lao động theo yêu cầu của DN, cung ứng lao động có tay nghề cao cho thị trường lao động trong và ngoài nước.

Tăng cường hỗ trợ DN tuyển dụng và đào tạo nghề theo nhu cầu của DN, đặc biệt là đào tạo nghề gắn với việc làm góp phần nâng cao chỉ số đào tạo nghề thuộc bộ chỉ số PCI của tỉnh; tăng cường tư vấn hướng nghiệp, tổ chức các hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm. Chú trọng các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo; kết nối đồng bộ giữa đào tạo nghề với tạo việc làm, đặc biệt là hỗ trợ DN đào tạo lao động trong DN.

Nâng cao năng lực, chủ động phòng chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản của người dân. Tiếp tục tranh thủ các nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng thủy lợi, tập trung đầu tư từng vùng sản xuất gắn với các mô hình sinh kế nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và tăng thu nhập của người dân trong vùng, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu.

Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Tạo môi trường ổn định để xây dựng và phát triển tỉnh nhà, tích cực tham gia thực hiện liên kết vùng./.

[[1]] Do Tỉnh đã đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp, tiếp tục thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi có chất lượng, mang lại giá trị kinh tế cao, xây dựng chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, đảm bảo đầu ra cho sản phẩm, phù hợp với nhu cầu thị trường. Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới được các địa phương tập trung thực hiện, bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, đời sống người dân được nâng lên.

[[2]] Để đạt được mức tăng trưởng trên thì ngành công nghiệp tiếp tục khẳng định là động lực chính của tăng trưởng kinh tế với mức tăng 16,08% so với năm 2019 (tính theo giá so sánh 2010), nhờ sự chủ động của các DN trong quá trình sản xuất kinh doanh, tìm kiếm thị trường đầu ra cho sản phẩm, nhất là thị trường xuất khẩu; sự hỗ trợ kịp thời của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương cùng địa phương; sự tác động mạnh mẽ của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như: CPTPP, EVFTA,... đã giúp cho các DN cả nước nói chung và tỉnh Hậu Giang nói riêng vượt quá khó khăn của dịch Covid -19 và đạt được kết quả đáng khích lệ như trên.

[[3]] Khu vực thương mại và dịch vụ có mức tăng trưởng thấp hơn mức tăng của cùng kỳ (cùng kỳ là 5,84%), do tác động của dịch Covid-19, Tỉnh đã chỉ đạo thực hiện giản cách xã hội theo quy định, một số cơ sở kinh doanh và dịch vụ (trừ kinh doanh mặt hàng thiết yếu) phải tạm ngừng hoạt động, các hoạt động xúc tiến thương mại như: hội chợ, nhiều sự kiện kết nối cung cầu phải đình lại, công tác giao thương tiêu thụ hàng hóa rất hạn chế. Vì vậy, đã tác động đến mức tăng trưởng của khu vực.

[[4]] Chi đầu tư phát triển tăng chủ yếu là do tăng chi thực hiện ghi thu, ghi chi đồng thời tiền thuê đất.

[[5]] Chi thường xuyên tăng chủ yếu là do tăng chi từ nguồn kết dư ngân sách cấp tỉnh so với dự toán điều chỉnh; tăng chi từ nguồn Trung ương bổ sung có mục tiêu để hỗ trợ kinh phí thực hiện Nghị quyết số 37/NQ-CP và Nghị quyết số 42/NQ-CP; hỗ trợ kinh phí phòng, chống dịch tả lợn Châu phi năm 2019; hỗ trợ kinh phí xây dựng nhà hỏa táng cho đồng bào dân tộc Khmer và tăng chi từ nguồn huy động đóng góp.

[[6]] Nguyên nhân vốn đầu tư thực hiện tăng so với tháng trước là do được sự quan tâm, hỗ trợ tích cực của Chính phủ, các Bộ, ngành Trung ương; sự chỉ đạo thường xuyên, kịp thời của Tỉnh ủy, UBND tỉnh; các sở, ban, ngành và địa phương trong việc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công và đẩy nhanh tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm, bức xúc trên đại bàn tỉnh.

[[7]] Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng quý IV/2020 tăng so với quý trước là do được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo các cấp, các sở, ngành và các chủ đầu tư đẩy nhanh việc đền bù, giải phóng mặt bằng, đấu thầu, chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm tiến độ thi công các công trình, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN hoạt động đầu tư xây dựng nên đã góp phần làm tăng giá trị sản xuất.

[[8]] Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng ước thực hiện cả năm 2020 tăng so với cùng kỳ là do những dự án khởi công mới được khẩn trương triển khai thực hiện, đẩy nhanh tiến độ đền bù, giải phóng mặt bằng, công tác đấu thầu; kiên quyết xử lý nghiêm và kịp thời các nhà thầu vi phạm tiến độ xây dựng, chất lượng công trình, vi phạm các điều khoản hợp đồng đã ký kết; tiếp tục thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ, thắt chặt tiết kiệm chi tiêu, kiềm chế lạm phát, chống lãng phí, góp phần làm tăng giá trị sản xuất ngành xây dựng.

[[9]] Các DN tạm ngừng hoạt động do điều kiện kinh doanh khó khăn, kinh doanh không hiệu quả, không ký kết được hợp đồng, chưa sắp xếp lại bộ máy và phương thức kinh doanh của DN cho phù hợp.

[[10]] Các DN giải thể là DN siêu nhỏ, nguồn vốn, công nghệ lạc hậu, năng lực quản trị rất hạn chế; kinh doanh không hiệu quả, không có khả năng mở rộng quy mô; các DN giải thể thuộc các lĩnh vực xây dựng, vận tải và bán buôn trong các cửa hàng chuyên doanh khác.

[[11]] Sản lượng lúa thu đông tăng chủ yếu do diện tích xuống giống tăng. Các ngành chức năng đánh giá tác động của dịch Covid-19 vào thời điểm tháng 4 và sau giãn cách xã hội vừa qua đã tạo cơn lốc xuất khẩu lúa gạo làm giá lúa gạo tăng mạnh, bà con nông dân phấn khởi tăng cường sản xuất nhằm tăng thêm thu nhập.

[[12]]  Trong đó: đàn gà có 1.444 ngàn con, tăng 4,29% (bằng 59,33 ngàn con).

[[13]] Trong đó: Sản lượng nuôi trồng được 73.754 tấn, tăng 5,46% (bằng 3.816 tấn); sản lượng khai thác được 2.689 tấn, giảm 1,47% (bằng 40 tấn).

[[14]] Trong mức tăng15,94%, có sự đóng góp đáng kể của các DN hoạt động trong các ngành như: Sản xuất đồ uống tăng 103,87%, sản xuất giấy tăng 12,53%,  sản xuất các sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 10,95 %,….

[[15]] Cụ thể một số nhóm tăng so với tháng trước như: Nhóm lương thực, thực phẩm tăng 12,11%; nhóm hàng may mặc tăng 13,38%; nhóm đá quý, kim loại quý tăng 11,38%; nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 5,38%,… do giá cả một số mặt hàng vẫn còn ở mức cao, nhu cầu mua sắm của người dân vào tháng cuối năm tăng để phục vụ kỳ nghỉ lễ Noel và Tết Dương lịch, thêm vào đó đây là thời điểm các cơ sở kinh doanh tăng cường khuyến mãi để giải phóng hàng tồn nên doanh thu tăng.

[[16]] Cụ thể: Dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 10,06%; dịch vụ hành chính và hỗ trợ tăng 11,57%, dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 6,21%, dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 9,68%, dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng 0,37% và một số ngành dịch vụ khác tăng 3,63%.

[[17]] Cụ thể: dịch vụ lưu trú giảm 11,15%; dịch vụ ăn uống giảm 9,32%.

[[18]] Do tháng cuối năm là thời điểm diễn ra nhiều hoạt động lễ hội, đặc biệt là lễ hội Noel và giao thời mừng năm mới 2021 ở hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ. Do đó, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân ở các nước sẽ tăng cao. Mặc dù, dịch bệnh Covid-19 vẫn đang còn diễn biến phức tạp và có nhiều ca nhiễm mới ở các nước nhập khẩu nhưng nhìn chung hiện nay người dân đã quen dần sống chung với dịch bệnh và có các biện pháp phòng ngừa thích hợp nên có thể sẽ không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động các lễ hội vào cuối năm. Vì vậy, giá trị xuất khẩu có thể sẽ tăng vào tháng tới. Các nhóm hàng nông sản, thủy hải chế biến các loại được dự đoán là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị tăng nhiều nhất.