Tháng 3
12:41 05/04/2020

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang tháng 3, ước quý I năm 2020

 

Hiện nay, tình hình dịch bệnh đã làm ảnh hưởng đến tình hình kinh tế - xã hội của cả nước. Mặc dù công tác phòng chống dịch bệnh được các cấp, các ngành thực hiện tốt, nhưng vẫn không tránh khỏi những trường hợp bị nhiễm dịch bệnh do COVID-19 gây ra. Riêng tỉnh Hậu Giang, đến nay chưa ghi nhận trường hợp bị nhiễm dịch bệnh. Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh, ít nhiều từng ngành, từng lĩnh vực vẫn không tránh khỏi ảnh hưởng của dịch bệnh. Cụ thể, lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất là lĩnh vực thương mại, dịch vụ giảm 4,43% so tháng trước và 1,03% so cùng kỳ năm trước; các ngành, lĩnh vực còn lại giảm nhẹ hoặc có tăng nhưng tăng không cao so với cùng kỳ. Kết quả hoạt động từng ngành, từng lĩnh vực như sau:

1. Tài chính, tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu Ngân sách nhà nước tháng 3 được 558,653 tỷ đồng, luỹ kế được 3.747,252 tỷ đồng, đạt 48,69% dự toán Trung ương giao, đạt 48,69% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó, Trung ương trợ cấp được 270,320 tỷ đồng, luỹ kế được 1.370,656 tỷ đồng, đạt 33,79% dự toán Trung ương giao, đạt 33,79% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Thu nội địa được 255 tỷ đồng, luỹ kế được 966,304 tỷ đồng, đạt 29,81% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi Ngân sách địa phương tháng 3 được 476,955 tỷ đồng, luỹ kế được 2.297,468 tỷ đồng, đạt 33,53% dự toán Trung ương giao, đạt 33,53% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chia ra: Chi xây dựng cơ bản được 237,503 tỷ đồng, luỹ kế được 1.137,515 tỷ đồng, đạt 44,34% dự toán Trung ương giao, đạt 44,34% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chi thường xuyên được 239,452 tỷ đồng, luỹ kế được 1.146,848 tỷ đồng, đạt 27,47% dự toán Trung ương giao, đạt 27,47% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. 

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 29 tháng 02, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 14.246 tỷ đồng, tăng trưởng 0,20% so với cuối tháng 01, tương ứng giảm 0,97% so với cuối năm 2019. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng thương mại Nhà nước được 9.336 tỷ đồng (chiếm 65,54%); khối Ngân hàng thương mại cổ phần được 4.318 tỷ đồng (chiếm 30,31%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 550 tỷ đồng (chiếm 3,86%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 42 tỷ đồng (chiếm 0,29%). Vốn huy động đáp ứng được 59,77% cho hoạt động tín dụng. Huy động đối với kỳ hạn dưới 12 tháng đạt 7.684 tỷ đồng (chiếm 53,94%), kỳ hạn từ 12 tháng trở lên đạt 6.562 tỷ đồng (chiếm 46,06%). Ước thực hiện đến cuối tháng 3, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn đạt 14.366 tỷ đồng, tăng trưởng 0,84% so với cuối tháng 02, tương ứng giảm 0,14% so với cuối năm 2019.

Đến ngày 29 tháng 02, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn được 23.833 tỷ đồng, tăng trưởng 1,71% so với cuối tháng 01, tương ứng tăng trưởng 1,89% so với cuối năm 2019. Trong tổng dư nợ thì khối Ngân hàng thương mại Nhà nước được 16.756 tỷ đồng (chiếm 70,31%); khối Ngân hàng thương mại cổ phần được 4.600 tỷ đồng (chiếm 19,30%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 2.433 tỷ đồng (chiếm 10,21%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 44 tỷ đồng (chiếm 0,18%). Ước thực hiện đến cuối tháng 3, dư nợ được 24.349 tỷ đồng, tăng trưởng 2,17% so với cuối tháng 02, tương ứng tăng trưởng 4,10% so với cuối năm 2019.                

Nợ quá hạn đến ngày 29 tháng 02 là 723 tỷ đồng, chiếm 3,03% trên tổng dư nợ; nợ xấu là 407 tỷ đồng, chiếm 1,71% trên tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 316 tỷ đồng, chiếm 43,71% trên tổng nợ quá hạn. Dự báo đến cuối tháng 3, nợ xấu toàn địa bàn vẫn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.

2. Vốn đầu tư

2.1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16 tháng 3, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2020 là 20.263,466 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.131,466 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 2.150 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 15.982 tỷ đồng.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 3 là 1.591,385 tỷ đồng, bằng 106,25% so với cùng kỳ năm trước và bằng 106,51% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư thực hiện tăng so với tháng trước là do chủ đầu tư đẩy nhanh việc đền bù, giải phóng mặt bằng, đấu thầu, chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm tiến độ thi công các công trình, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh; nguồn vốn năm 2020 đã phân bổ ngay từ đầu năm, nên các chủ đầu tư triển khai nhanh việc lập hồ sơ, thủ tục các dự án mới đã bố trí vốn.

Ước tính quý I, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 4.636,065 tỷ đồng, bằng 103,59% so với cùng kỳ năm trước và đạt 22,88% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 421,105 tỷ đồng, bằng 107,57% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 19,76% so với kế hoạch năm. 

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 484,250 tỷ đồng, bằng 161,27% so với cùng kỳ năm trước và đạt 22,52% so với kế hoạch năm.                  

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 3.730,710 tỷ đồng, bằng 98,60% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 23,24% so với kế hoạch năm.

2.2. Xây dựng

Ước tính quý I, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 1.750,300 tỷ đồng, so với quý trước bằng 80,15% và so với cùng kỳ năm trước (1.670,300 tỷ đồng) bằng 104,79%. Trong đó loại hình doanh nghiệp ngoài nhà nước thực hiện được 805,600 tỷ đồng, so với quý trước bằng 90,48% và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,40%; loại hình khác gồm xã, phường, thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 944,700 tỷ đồng, so với quý trước bằng 73,04% và so với cùng kỳ năm trước bằng 113,19%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình ước thực hiện trong quý I năm 2020 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 1.051,145 tỷ đồng, so với quý trước bằng 76,23% và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,60%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 458,330 tỷ đồng, so với quý trước bằng 90,59% và so với cùng kỳ năm trước bằng 187,15%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 165,800 tỷ đồng, so với quý trước bằng 78,79% và so với cùng kỳ năm trước bằng 52,01%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 75,025 tỷ đồng, so với quý trước bằng 84,80% và so với cùng kỳ năm trước bằng 146,34%.

Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng giảm so với quý trước là do ảnh hưởng của dịch COVID-19 nên một số nhà thầu chậm triển khai thi công dự án, công trình; Các doanh nghiệp ngưng hoạt động nghỉ Tết Nguyên Đán Canh Tý năm 2020; Chủ đầu tư đang bổ sung lập hồ sơ, thủ tục các dự án mới đã bố trí vốn chưa được triển khai; quý I năm 2020 chưa thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô nên các doanh nghiệp không làm tăng giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh.

Đến nay, tình hình xây dựng trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở dân dụng và đường giao thông. Riêng các công trình trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước có quy mô lớn thì hầu hết đều do các doanh nghiệp ngoài tỉnh thi công. Do vậy, đề nghị Lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, để các doanh nghiệp xây dựng trong tỉnh được thi công nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành xây dựng của tỉnh tăng cao.

3. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư (tính từ ngày 20/02/2020 đến ngày 20/3/2020), toàn tỉnh có 65 doanh nghiệp (DN) đăng ký thành lập mới, với tổng số vốn đăng ký là 261,769 tỷ đồng, lũy kế từ đầu năm đến nay là 160 DN, với tổng số vốn là 519,869 tỷ đồng. Số vốn đăng ký bình quân một DN thành lập mới từ đầu năm đến nay là 3,25 tỷ đồng.

Số DN gặp khó khăn tạm ngừng hoạt động trong tháng là 12 DN, lũy kế là 45 DN, với tổng số vốn là 98,575 tỷ đồng. Nguyên nhân là do điều kiện kinh doanh khó khăn, kinh doanh không hiệu quả, cần có thời gian sắp xếp lại bộ máy và phương thức kinh doanh của công ty cho phù hợp với điều kiện của tỉnh, phần lớn các DN tạm ngừng hoạt động thuộc lĩnh vực vận tải và xây dựng.

Số DN giải thể trong tháng là 10 DN, lũy kế là 57 DN, với tổng số vốn là 24,05 tỷ đồng. Các DN giải thể là các DN siêu nhỏ, nguồn vốn, công nghệ lạc hậu, năng lực quản trị rất hạn chế, kinh doanh không hiệu quả, không có khả năng mở rộng quy mô. Các DN giải thể thuộc các lĩnh vực xây dựng, vận tải và bán buôn trong các cửa hàng chuyên doanh khác.

Về tình hình sản xuất và xu hướng sản xuất kinh doanh của DN: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có trên 160 DN đang hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong đó, có trên 31,58% DN đánh giá tình sản xuất tăng hơn so với quý trước, có trên 39,47% DN đánh giá không có biến động nhiều so với quý trước và còn lại 28,95% DN đánh giá tình hình sản xuất gặp khó khăn, sản lượng không tăng so với quý trước. Vì vậy, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có thể giảm hoặc tăng không cao trong các quý tiếp theo do ảnh hưởng dịch COVID-19 so với cùng kỳ.

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

4.1. Nông nghiệp

Lúa đông xuân 2020, chính thức toàn tỉnh đã xuống giống được 77.820 ha, đạt 101% so với kế hoạch tỉnh (kế hoạch tỉnh 77.000 ha), so với cùng kỳ giảm 0,76% (bằng 598 ha). Diện tích đã thu hoạch được 50.811 ha, tập trung chủ yếu ở huyện Châu Thành A, Phụng Hiệp và Vị Thủy. Hiện nay, còn một vài xã của huyện Long Mỹ và thành phố Ngã Bảy lúa đang ở giai đoạn làm đòng đến trổ chín, dự kiến đến cuối tháng 3 sẽ thu hoạch dứt điểm; năng suất cả vụ ước được 74,31 tạ/ha, tăng 1,28% (bằng 0,94 tạ/ha) so với cùng kỳ; sản lượng lúa đã thu hoạch xong ước tính được 377.510 tấn, tăng 16,47% (bằng 53.391 tấn) so với cùng kỳ.

Giá lúa cụ thể một số giống chủ yếu trên địa bàn tỉnh như sau: Giống OM 5451 có giá dao động từ 5.200-5.300 đồng/kg, Đài thơm 8: 5.300-5.400 đồng/kg, OM 18 từ 5.200-5.300 đồng/kg cao hơn so với cùng kỳ từ 100-300 đồng/kg;  RVT có giá từ: 6.200-6.400 đồng/kg cao hơn cùng kỳ từ 800-900 đồng/kg; ST24 từ 7.200-7.400 đồng/kg cao hơn cùng kỳ từ 1.800-2.000 đồng/kg.

Lúa hè thu ước toàn tỉnh xuống giống được 9.692 ha, tăng 32,66% so với cùng kỳ, tập trung ở huyện Châu Thành A, Phụng Hiệp, Vị Thủy và thành phố Vị Thanh, lúa đang ở giai đoạn mạ, sinh trưởng và phát triển tốt.

Niên vụ mía 2020, toàn tỉnh xuống giống được 5.870 ha, giảm 31,05% (giảm 2.644 ha), mía gieo trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, thành phố Vị Thanh và thành phố Ngã Bảy. Hiện mía đang ở giai đoạn 1-3 tháng tuổi, sinh trưởng và phát triển tốt.

Diện tích gieo trồng ngô, toàn tỉnh ước được 995 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 14,02% (bằng 162 ha), diện tích thu hoạch được 750 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 16,94% (bằng 153 ha). Diện tích gieo trồng rau các loại được 8.553 ha, so với năm trước tăng 4,18% (bằng 343 ha).

Diện tích gieo trồng một số cây lâu năm chủ yếu của tỉnh như sau: Cây dứa (khóm): Diện tích hiện có 1.638,8 ha, tăng 3,2% (bằng 50,8 ha), sản lượng 6.372 tấn, tăng 31% (bằng 216 tấn); cây xoài: Diện tích hiện có 2.931,4 ha, tăng 4,32% (bằng 121,3 ha), sản lượng 7.443 tấn, tăng 4,42% (bằng 315,4 tấn).

Về tình hình dịch bệnh: Trong tháng 3, toàn tỉnh có 6.227 ha lúa nhiễm sinh vật hại, trong đó có 135 ha nhiễm nhiễm trung bình, còn lại nhiễm nhẹ phân bố hầu hết ở các huyện, thị, thành; sinh vật gây hại trên cây rau màu là 264 ha, chủ yếu là sâu tơ, sâu ăn tạp, các loại sâu ăn lá, rệp sáp, bọ trĩ, bọ nhảy,...với mức độ gây hại nhẹ. Ngành Nông nghiệp đã tiến hành tư vấn ngoài đồng ruộng cho nông dân về kỹ thuật canh tác và quản lý sinh vật gây hại trên cây trồng. Đồng thời, tiến hành tập huấn nhanh về tình hình sinh vật gây hại trên lúa và cây ăn trái, khuyến cáo bà con nông dân thường xuyên thăm đồng để phát hiện sinh vật gây hại, kịp thời có biện pháp xử lý.

4.2. Chăn nuôi     

Ước tính đến tháng 3, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

- Đàn trâu: Hiện có 1.495 con, giảm 2,67% so với cùng kỳ năm trước.

- Đàn bò: Hiện có 3.550 con, giảm 1,69% so với cùng kỳ, sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong tháng ước được 15,6 tấn, tăng 2,98% so với cùng kỳ năm trước.

- Đàn heo: Hiện có 80.322 con heo, giảm 46,21% (giảm 69.006 con). Trong đó, heo thịt có 69.805 con, giảm 46,53% (giảm 60.753 con). Đàn heo giảm do ảnh hưởng dịch tả heo Châu phi.

- Đàn gia cầm: Hiện có 4.434 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 7,12% (tăng 295 ngàn con). Trong đó: đàn gà 1.384 ngàn con, tăng 8,56% (tăng 109 ngàn con). Đàn gia cầm tăng do giá thịt gia cầm ổn định, ít dịch bệnh, thị trường đầu ra tốt.

Về tình hình dịch bệnh: Trong quý I, trên địa bàn tỉnh có 02 xã của huyện Phụng Hiệp tái phát dịch tả heo Châu phi, tổng số heo chết và tiêu hủy là 08 con với trọng lượng 509 kg (tính đến ngày 13/01/2020), cho đến nay dịch tả đã được khống chế không có heo chết và tiêu hủy do bệnh. Không xuất hiện dịch cúm gia cầm trên địa bàn tỉnh. Ngành Thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh.

4.3. Lâm nghiệp                 

Trong quý I, sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào công tác chăm sóc và bảo vệ rừng, không có diện tích rừng trồng mới tập trung. Sản lượng gỗ khai thác ước được 3.171m3 gỗ, tăng 1,77%  (bằng 55 m3) so với cùng kỳ, sản lượng củi khai thác ước được 29.648 Ster, giảm 1,99% (bằng 602 Ster) so với cùng kỳ.     

Công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định, công tác phòng chống cháy rừng được quán triệt và làm tốt nên diện tích rừng được bảo vệ an toàn. Từ đầu năm đến nay không xảy ra vụ cháy rừng nào trên địa bàn tỉnh.

4.4. Thủy sản

Ước tính quý I, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản được 1.892 ha, tăng 4,33% (bằng 78,5 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Tổng sản lượng thủy sản quý I,  ước được 16.893,5 tấn, tăng 3,89% (bằng 632,4 tấn) so với cùng kỳ.Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng được 16.129,5 tấn, tăng 4,1% (bằng 635,68 tấn); sản lượng thủy sản khai thác được 764 tấn, giảm 0,43% (bằng 3,3 tấn).

5. Tình hình sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 3, tính theo giá so sánh 2010, được 2.069,704 tỷ đồng, tăng 7,52% so với tháng trước và tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 2.934,752 tỷ đồng, tăng 7,29% so với tháng trước và tăng 1,07% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do sau thời gian nghỉ Tết người lao động trở lại nơi làm việc gần như tuyệt đối (chỉ số sử dụng lao động tăng 3,59% so với tháng trước và tăng 5,43% so với cùng kỳ) nên các DN sớm đi vào hoạt động ổn định và tăng sản lượng sản xuất để hoàn thành các hợp đồng đã ký (trừ 10,43% số DN bị tác động trực tiếp bởi dịch bệnh COVID-19). Ngoài ra, tăng một phần là do một số DN sản xuất các mặt hàng tiêu thụ nội địa, tăng sản lượng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường sau thời gian dài nghỉ Tết, nên ước giá trị sản xuất tháng 3 tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện quí I, tính theo giá so sánh 2010, được 6.087,405 tỷ đồng, tăng 1,31% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 8.565,748 tỷ đồng, tăng 3,67% so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình dịch bệnh COVID-19 đang diễn biến hết sức phức tạp, nhưng các cấp, các ngành tại địa phương đã có kế hoạch và giải pháp kiểm soát dịch bệnh tương đối tốt. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 182 DN và 4.967 cơ sở cá thể hoạt động ngành công nghiệp. Mặc dù ảnh hưởng từ dịch COVID-19 nhưng đến quí I, không có DN hay cơ sở cá thể hoạt động ngành công nghiệp nào phải tạm ngừng hoạt động hoặc giải thể do ảnh hưởng từ dịch bệnh COVID-19. Tuy nhiên, có trên dưới 10,43% số DN bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ dịch bệnh đến quá trình sản xuất, tiêu thụ của DN (giá trị sản xuất của 10,43% số DN chiếm tỷ trọng trên 39,26% trong tổng giá trị toàn ngành công nghiệp), số DN bị ảnh hưởng từ dịch bệnh đang hoạt động trong một số ngành như: Ngành may mặc; chế biến nông, thủy sản; ngành sản xuất da và các sản phẩm từ da; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy; sản xuất sản phẩm cao su và plastic… các DN hoạt động trong các ngành kể trên đang gặp khó khăn trong quá trình thông quan nhập nguyên liệu hoặc xuất đi các nước có dịch bệnh. Bên cạnh đó, các DN đã sử dụng sắp hết nguồn nguyên, vật liệu tồn kho tại DN và đã chủ động tìm các nguồn nguyên, vật liệu thay thế nhưng giá thành cao nên ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận trong quá trình sản xuất kinh doanh, nên các DN trên chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng đã ký trước đó. Vì vậy, sản lượng sản xuất một số DN ước tháng 3 giảm từ 10% đến 30% so với tháng 02, nhưng tính chung quí I giá trị sản xuất một số ngành có giảm hoặc chỉ tăng nhẹ (do tăng sản lượng sản xuất trong tháng 01 và 02) so với cùng kỳ năm trước.

Riêng các DN không bị ảnh hưởng từ dịch COVID-19 do sử dụng nguồn nguyên, vật liệu trong nước và sản xuất các mặt hàng tiêu thụ nội địa vẫn hoạt động ổn định và tăng giá trị sản xuất ở một số ngành như: Sản xuất đồ uống (Công ty TNHH Number one Hậu Giang, với sản phẩm chính là nước uống không cồn, sản lượng tăng rất cao so với cùng kỳ); sản xuất các sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; sản xuất các sản phẩm từ khoán phi kim loại; sản xuất thuốc hóa dược liệu; sản xuất phương tiện vận tải; in, sao chép bản ghi các loại… Mặc dù khối DN sản xuất các mặt hàng tiêu thụ nội địa tăng, nhưng do các ngành này chiếm tỷ trọng thấp trong toàn ngành công nghiệp. Vì thế, giá trị tăng của các ngành trên chỉ đủ bù đắp các ngành bị giảm do ảnh hưởng từ dịch bệnh COVID-19, nên giá trị sản xuất công nghiệp ước quí I năm 2020 tăng thấp so với cùng kỳ năm trước.

Trong thời gian tới, nếu đại dịch COVID-19 tiếp tục kéo dài, một số DN không thể nhập được nguyên vật liệu để sản xuất, nhiều hợp đồng xuất khẩu hàng dệt may, bột giấy và bìa giấy, da giày… đã ký với khách hàng sẽ bị ảnh hưởng. Để hạn chế thiệt hại do ảnh hưởng của dịch COVID-19, một số DN đang chủ động tìm kiếm và thu mua nguyên vật liệu đầu vào từ thị trường trong nước và các nước trong khu vực Đông Nam Á như: Thái Lan, Singapore, Malaysia... để thay thế trong trường hợp vẫn không nhập được từ Trung Quốc. Tuy nhiên, việc tìm nguồn cung nguyên, vật liệu mới để thay thế cũng tương đối mất thời gian và phải được sự kiểm định đúng quy trình của các nhà nhập khẩu. Vì vậy, dự báo có khả năng giá trị sản xuất công nghiệp sẽ giảm hoặc tăng trưởng thấp trong thời gian sắp tới.

Nhìn chung, quí I năm 2020, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh chỉ tăng nhẹ. Tuy nhiên, có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động từ dịch bệnh COVID-19. Vì vậy, để hoàn thành kế hoạch năm 2020, đề nghị các DN cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch, chính sách kịp thời và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các DN đang đầu tư sớm đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của DN đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính quí I, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang tăng 3,91% so với cùng kỳ.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tăng 3,89% so với cùng kỳ. Trong đó, các ngành tăng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như: Sản xuất đồ uống; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy; in, sao chép bản ghi các loại… Cụ thể:

- Ngành sản xuất đồ uống, tăng rất cao so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Number one Hậu Giang, với sản phẩm chính là các loại nước uống không cồn đóng chai, đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động từ tháng 3 năm 2019 đến nay, do DN đã tạo dựng được thương hiệu và thị trường tiêu thụ ổn định, nên sản lượng sản xuất dự tính quí I được 23.165 ngàn lít, tăng rất cao so với cùng kỳ. Trong khi đó, tỷ trọng của DN này chiếm trên 56,83% trong ngành này, nên chỉ số sản xuất công nghiệp ngành này tăng cao so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan, tăng 24,82% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Lạc Tỷ II, với sản phẩm chính là giày da các loại. Sau thời gian nghỉ Tết, người lao động trở lại nơi làm việc gần như tuyệt đối (chỉ số sử dụng lao động tăng 12,22% so với cùng kỳ), nên DN sớm đi vào hoạt động ổn định, mặc dù DN bị ảnh hưởng từ dịch bệnh COVID-19 (trên 10% nguyên phụ liệu phải nhập từ Trung Quốc) nhưng do nguyên liệu tồn kho tại DN còn sử dụng đến gần cuối quí I năm 2020 và DN đang chủ động tìm nguồn nguyên liệu ở các nước khác để thay thế. Vì vậy, chỉ số sản xuất tháng 3 giảm 14,77% so với tháng 02, nhưng tính chung quí I năm 2020 vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước.

- Ngành sản xuất giấy và sản phẩm bằng giấy, tăng 10,65% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH giấy Lee & Man Việt Nam, với sản phẩm chính là giấy cuộn và bìa giấy các loại, mặc dù dịch bệnh đang diễn biến hết sức phức tạp nhưng DN chủ động tìm nguồn nguyên, vật liệu ở những thị trường mới và nguồn nguyên, vật liệu tồn kho tại DN có thể hoạt động duy trì đến tháng 5 năm 2020, nhưng DN chỉ sản xuất theo đơn đặt hàng đã ký. Vì vậy, chỉ số sản xuất dự tính tháng 3 giảm so với cùng kỳ, nhưng tính chung quý I năm 2020 tăng so với cùng kỳ năm trước.

- Ngành in, sao chép bản ghi các loại, tăng 43,69% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công Ty TNHH TM Dịch Vụ In Hậu Giang, là DN duy nhất trên địa bàn tỉnh hoạt động ngành này. Vì vậy, DN tăng sản lượng để phục vụ nhu cầu của thị trường, nên chỉ số ngành này tăng cao so với cùng kỳ, nhưng giá trị của DN này chỉ chiếm tỷ trọng khoản 0,10% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp, nên chỉ số ngành này tăng cao nhưng không ảnh hưởng nhiều đến chỉ số chung của toàn tỉnh.

- Bên cạnh đó, do ảnh hưởng từ dịch bệnh COVID-19 một số DN thiếu nguồn nguyên liệu sản xuất hoặc khó khăn trong quá trình làm thủ tục thông quan đến một số thị trường truyền thống có dịch bệnh, nên một số ngành giảm hoặc tăng nhưng thấp hơn mức tăng chung của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo so với cùng kỳ như: Sản xuất chế biến thực phẩm (Trong đó: Chế biến thủy sản giảm 40,57% so với cùng kỳ, chế biến bảo quản rau quả giảm 12,80% so với cùng kỳ, sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm giảm 17,46%…) do một số DN hoạt động trong các ngành này giảm sản lượng sản xuất để hạn chế hàng tồn kho, ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh của DN; sản xuất trang phục giảm 0,81% so với cùng kỳ do thiếu nguyên, vật liệu; sản xuất sản phẩm cao su và plastic giảm 9,91% so với cùng kỳ... Vì vậy, chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành dự tính quí I năm 2020 có tăng nhưng không cao so với cùng kỳ năm trước.

Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: Tăng 9,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất, truyền tải và phân phối điện tăng 9,81 % so với cùng kỳ. Ngành điện đã cung cấp đủ điện, an toàn phục vụ phát triển kinh tế xã hội, đã hạn chế tối đa không để mất điện, đảm bảo nhu cầu sử dụng cho người dân và các DN được hoạt động liên tục, nhất là trong mùa nắng nóng như hiện nay.

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: Tăng 3,11% so với cùng kỳ. Hiện nay tình hình xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh đang diễn ra hết sức phức tạp, nên Công ty Cổ phần Cấp thoát nước – Công trình đô thị Hậu Giang đã có kế hoạch chủ động đối phó, hoạt động liên tục, khai thác thêm các nguồn nước ngầm để đảm bảo cung cấp đầy đủ nước phục vụ tốt việc sản xuất kinh doanh và sinh hoạt cho người dân. Sản lượng sản xuất nước sạch sinh hoạt dự tính quí I năm 2020 được 2.810,64 ngàn m3 tăng 107,89 ngàn m3 so với cùng kỳ năm trước.

6. Hoạt động thương mại, dịch vụ

6.1. Bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Bước qua tháng 3, thị trường hàng hóa trên địa bàn tiếp tục có xu hướng giảm so với tháng trước, do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 ngày càng diễn biến phức tạp hơn tại nước ta. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hậu Giang chưa xuất hiện ca bệnh nhưng tâm lý lo lắng, e ngại ra đường và tránh tập trung nơi đông người đã thể hiện rõ nét. Tại các siêu thị, trung tâm thương mại, chợ truyền thống lượng khách hàng giảm, doanh thu trong tháng của các siêu thị và các cơ sở kinh doanh giảm hơn so với tháng trước. Tình hình xâm nhập mặn trong tháng 3 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang tiếp tục có diễn biến ngày càng phức tạp, nhưng do công tác chuẩn bị ứng phó hạn mặn đã được lên phương án ngay từ đầu, việc kiểm tra, theo dõi độ mặn, hệ thống ngăn mặn và hướng dẫn kỹ thuật canh tác cho người dân được thực hiện nghiêm túc, sát sao nên ảnh hưởng của hạn mặn đến thời điểm này trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đang được kiểm soát tương đối tốt. Ngoài ra, thời điểm này đang vào mùa thu hoạch rộ vụ lúa đông xuân, vụ lúa chính trong năm, kéo theo đó sẽ góp phần làm cho một số nhóm hàng hóa tăng như: Nhóm phương tiện đi lại, gỗ, vật liệu xây dựng. Tuy vậy, cũng không thể kéo doanh thu bán buôn, bán lẻ trong tháng tăng hơn so với trước.

Ước thực hiện tháng 3, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.076,026 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các DN đóng trên địa bàn tỉnh là 361,650 tỷ đồng), so với thực hiện tháng trước bằng 95,78% và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,97%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.326,399 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 96,67% và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,54%.

- Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 270,386 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 95,20% và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,31%. Doanh thu của các ngành dịch vụ tiếp tục giảm so với tháng trước và so cùng kỳ năm trước, riêng dịch vụ y tế có tăng hơn so với tháng trước. Trong đó, dịch vụ giáo dục giảm so với cùng kỳ bằng 25,49%, dịch vụ vui chơi, giải trí giảm so với cùng kỳ bằng 97,15%, đây là mức giảm rất thấp trong nhiều năm qua, các hoạt động vui chơi, giải trí trên địa bàn tỉnh như: Quán karaoke, khu vui chơi,… có lượng khách giảm mạnh, các trường học, trung tâm giáo dục, nhà trẻ, …đều không hoạt động do tác động của dịch bệnh COVID-19.

 Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 479,241 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 92,02% và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,08%. Doanh thu ngành lưu trú, ăn uống trong tháng lại tiếp tục giảm so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước, tác động lớn nhất làm giảm doanh thu của 2 ngành này là dịch bệnh COVID-19 và Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có hiệu lực từ ngày 01/01/2020. Do đó, các nhà hàng, quán ăn lượng khách rất vắng vẻ. Tại các khách sạn thì lượng hành khách lưu trú giảm do người dân hạn chế đi lại, khách du lịch giảm. 

Ước thực hiện quý I, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 9.930,045 tỷ đồng (Trong đó, chi nhánh của các DN đóng trên địa bàn tỉnh là 1.168,459 tỷ đồng), so với cùng kỳ năm trước bằng 98,24%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa thực hiện được 7.509,394 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 98,29%.

- Ngành dịch vụ (trừ dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành) thực hiện được 873,377 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 103,58%.

 Ngành lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 1.547,274 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 95,23%.

Ước thực hiện quý I, thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hậu Giang giảm so với cùng kỳ 1,76% (Trong đó: Thương mại giảm 1,71%; dịch vụ tăng 3,58% (Chủ yếu tăng do doanh thu của hoạt động dịch vụ xổ số chiếm 58,79% tổng doanh thu ngành dịch vụ và tăng 7,50% so với cùng kỳ); lưu trú, ăn uống giảm 4,77%). Đây là mức giảm thấp nhất được ghi nhận trong nhiều năm qua. Trong bối cảnh dịch bệnh đang diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng lên toàn ngành kinh tế không riêng thương mại, dịch vụ, hầu hết các hoạt động thương mại, lưu thông hàng hóa diễn ra khó khăn do xuất khẩu hạn chế. Lượng hàng hóa được tiêu thụ mạnh chỉ diễn ra trong tháng Tết, sau Tết hầu hết sức mua sắm, tiêu dùng trong dân đều giảm, lượng hàng hóa cung cấp ra thị trường giảm. Ngoài ra, tình hình xâm nhập mặn diễn biến phức tạp tác động lớn đến canh tác, sản xuất và đời sống của người dân đã làm giảm doanh thu của ngành thương mại trong quý I năm 2020.

Doanh thu của các ngành dịch vụ trong quý cũng có nhiều biến động so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ trong quý I tăng rất thấp so với cùng kỳ, tăng chủ yếu là dịch vụ y tế và một số dịch vụ khác, các dịch vụ còn lại như: Dịch vụ vui chơi, giải trí, dịch vụ giáo dục, đào tạo, kinh doanh bất động sản đều giảm so với cùng kỳ hoặc tăng rất thấp. Đặc biệt là doanh thu ngành lưu trú, ăn uống giảm mạnh so với cùng kỳ, nguyên nhân chính là do dịch bệnh COVID-19 và Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có hiệu lực từ ngày 01/01/2020.

Trong lúc cả hệ thống chính trị và toàn dân cả nước đứng trước tinh thần chống dịch bệnh COVID-19 nói chung và tỉnh Hậu Giang nói riêng thì việc ứng phó với biến đổi khí hậu, tình hình xâm nhập mặn cũng là vấn đề cấp bách của tỉnh hiện nay. Trước những tình hình trên thì phát triển thương mại, dịch vụ trong năm 2020 dự tính sẽ rất khó khăn, phụ thuộc vào sự khống chế, lây lan dịch bệnh, sự ngăn chặn, giảm thiểu tối đa tác động của xâm nhập mặn đến đời sống, kinh tế của người dân, cần có nhiều giải pháp phù hợp với tình hình hiện nay tạo điều kiện để doanh nghiệp và nông dân ổn định đầu ra, đầu vào hàng hóa sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, đòi hỏi các cấp, các ngành của tỉnh cần có những phương hướng tích cực, phù hợp hơn nữa với tình hình hiện nay để ổn định kinh tế địa phương trong thời gian tới.

6.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Ước thực hiện tháng 3, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp được 61,369 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 97,70% và so với cùng kỳ năm trước bằng 93,01%. Chia ra:

- Xuất khẩu được 40,003 triệu USD, so với tháng trước bằng 95,04% và so với cùng kỳ năm trước bằng 89,13%. Nguyên nhân ước giảm so với tháng trước là do tình hình dịch bệnh COVID-19 hiện nay đang có nhiều diễn biến phức tạp với tốc độ lây lan nhanh chóng, đã lan sang hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ buộc Tổ chức Y tế thế giới (WHO) phải công bố tình trạng đại dịch toàn cầu. Các thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam bao gồm: Hoa Kỳ, các nước EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đều chịu ảnh hưởng lớn của dịch bệnh khiến các DN của Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn trong việc ký kết các hợp đồng xuất khẩu mới và nhập khẩu nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất và chế biến xuất khẩu. Vì vậy, dự đoán trong tháng tới giá trị xuất khẩu có thể sẽ tiếp tục giảm.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 21,366 triệu USD, so với tháng trước bằng 103,11% và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,26%.

Ước thực hiện quý I, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 198,692 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 104,49 %. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 126,127 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 112,06 %.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 56,038 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 90,15%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 0,732 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tăng rất cao. Nguyên nhân tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do năm nay giá trị xuất khẩu ủy thác của Công ty cổ phần Thủy sản Cafatex tăng cao.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 15,795 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 103,24%.

Nhìn chung, mặc dù bị ảnh hưởng lớn từ tình hình dịch bệnh COVID-19 mang lại nhưng đánh giá trong quý I tình hình xuất, nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn vẫn có mức tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước, tăng ở mức 4,49%. Nguyên nhân là do trong quý I năm 2020, giá trị xuất khẩu của các DN lớn trên địa bàn có sự tăng trưởng cao so quý I năm 2019, đặc biệt là công ty cổ phần Minh Phú Hậu Giang, nếu như trong quý I năm 2019 giá trị xuất khẩu của DN này sụt giảm mạnh trong tháng 02 (do các lô hàng xuất vào thị trường Mỹ không đạt yêu cầu nên bị trả lại) thì đến năm 2020 đã hồi phục và tăng đáng kể (tăng 56,16%). Mặt khác, các DN trên địa bàn từ trước đã đánh giá và dự báo được tình hình nên trong những tháng trước đã nhập khẩu một lượng lớn các nguồn nguyên liệu ở các thị trường truyền thống và một số thị trường khác, do đó quá trình sản xuất, chế biến để thực hiện các hợp đồng đã ký kết trước đó của các DN vẫn không bị ngưng trệ, vẫn có thể duy trì đến hết quý I năm 2020. Vì vậy, sẽ góp phần làm tăng giá trị xuất khẩu chung trên địa bàn mặc dù mức tăng trưởng được dự đoán sẽ tăng không cao.

  Hiện nay, tình hình dịch bệnh COVID-19 có chiều hướng diễn biến xấu và rất phức tạp, trên thế giới liên tiếp ghi nhận sự xuất hiện và bùng phát của các ổ dịch mới, tâm điểm hiện nay là ở các nước Châu Âu (một thị trường có giá trị xuất khẩu lớn của các DN trên địa bàn) khi trong những ngày qua liên tiếp ghi nhận các trường hợp lây nhiễm và tử vong rất cao, vượt hơn cả ở Trung Quốc lúc đang xảy ra đỉnh cao dịch, không những thế tình hình dịch bệnh còn có nguy cơ bùng phát cao ở các thị trường xuất khẩu lớn khác của Việt Nam là Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Dự báo, nếu tình hình dịch bệnh COVID-19 không sớm được kiểm soát và tiếp tục có sự lây lan nhanh như hiện nay, thì trong thời gian tới các DN sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất và tìm đầu ra cho sản phẩm do có nguy cơ cao các nước có thể sẽ áp đặt các lệnh phong tỏa biên giới, hạn chế hoạt động giao thương nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh.

  Vì vậy, ngay từ bây giờ các DN cần chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất hợp lý, tìm ra các giải pháp tối ưu để phát triển sản xuất, tránh để xảy ra tình trạng ngưng trệ, biến nguy thành cơ theo chủ trương chung của chính phủ. Các DN cần tìm kiếm và tận dụng các nguồn nguyên liệu đạt yêu cầu trong nước, tránh phụ thuộc nhiều vào nguồn lực bên ngoài trong tình hình khó khăn như hiện nay để hạn chế rủi ro thấp nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Mặt khác, tình hình dịch bệnh ở thị trường Trung Quốc hiện nay đã cơ bản được kiểm soát tốt, các ca nhiễm mới và tử vong đã giảm rất nhiều so với lúc xảy ra đỉnh cao dịch bệnh nên cũng đã phần nào tạo ra cơ hội thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc nhập khẩu nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất, đồng thời có khả năng cao giúp phục hồi và tăng trưởng giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản và một số mặt hàng khác, tạo động lực góp phần giảm thiểu sự sụt giảm giá trị xuất khẩu chung.

6.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Ước tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện trong tháng 3, được 90,889 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,54%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 34,745 tỷ đồng, bằng 98,43% so với cùng kỳ năm trước; đường thủy thực hiện được 34,141 tỷ đồng bằng 89,59% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 22,003 tỷ đồng bằng 213,02% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện quý I, được 288,877 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 106,51%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 109,976 tỷ đồng bằng 99,75% so với cùng kỳ năm trước; đường thủy thực hiện được 113,234 tỷ đồng, bằng 96,83% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 65,667 tỷ đồng, bằng 149,12% so với cùng kỳ năm trước.

Hiện nay, tình hình dịch bệnh COVID-19 đang có nhiều diễn biến phức tạp và có tốc độ lây lan rất nhanh, ban đầu chỉ có hơn 30 nước và vùng lãnh thổ có ghi nhận dịch bệnh nhưng trong vòng chưa đầy 01 tháng nó đã lây lan sang hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ, do đó đã tác động xấu một phần không nhỏ đến các hoạt động kinh tế kho bãi, vận tải trên địa bàn. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ ngay từ đầu trong việc phòng chống dịch bệnh, các cơ quan chức năng đang kiểm soát tương đối tốt tình hình dịch bệnh trên cả nước đã phần nào làm giảm áp lực khó khăn cho các DN. Vì vậy, trong quý I, nhìn chung tình hình hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn vẫn có sự tăng trưởng khá, quy mô hoạt động vận tải của một số DN vận chuyển hàng hóa, dịch vụ logictis trên địa bàn tăng đáng kể từ những tháng cuối năm 2019, các DN này đã thực hiện mở rộng tuyến vận chuyển, diện tích các kho cho thuê cũng được xây dựng hoàn thành chính thức đưa vào sử dụng và cho thuê từ quý 4 năm 2019. Vì vậy, đã góp phần làm tăng giá trị vận tải chung trên địa bàn trong quý đầu tiên của năm 2020.

6.3.1 Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Ước thực hiện tháng 3, toàn tỉnh vận chuyển được 628,06 nghìn tấn hàng hóa các loại (42,95 triệu tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 103,73% (99,06%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,45% (125,26%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 154,40 nghìn tấn (6,97 triệu tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 99,50% (94,13%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,41% (105,81%).

 - Đường sông thực hiện được 473,66 nghìn tấn (35,98 triệu tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 105,19% (100,07%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,79% (129,88%).

Ước thực hiện quý I năm 2020, toàn tỉnh vận chuyển được 1.984,76 nghìn tấn hàng hóa các loại (141,98 triệu tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 110,06% (139,95%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 481,06 nghìn tấn (24,74 triệu tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 108,03% (106,14%).

- Đường sông thực hiện được 1.503,70 nghìn tấn (117,23 triệu tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 110,72% (150,04%).

6.3.2 Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Ước thực hiện tháng 3, toàn tỉnh thực hiện được 8.864,65 nghìn lượt hành khách (47,24 triệu HK.km), so với tháng trước bằng 99,98% (100,45%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,86% (99,48%). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 6.374,98 nghìn lượt hành khách (33,15 triệu  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,17% (100,67%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 90,78% (95,72%).

- Đường sông vận chuyển được 2.489,67 nghìn lượt hành khách (14,10 triệu HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 99,49% (99,92%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 128,05% (109,61%).

Ước thực hiện quý I, toàn tỉnh vận chuyển được 27.329,93 nghìn lượt hành khách (151,40 triệu HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 93,92% (96,04%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 19.650,78 nghìn lượt hành khách (106,56 triệu HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 92,13% (94,52%).

- Đường sông thực hiện được 7.679,15 nghìn lượt hành khách (44,84 triệu HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 98,82% (99,86%).

7. Các vấn đề về xã hội

7.1. Giáo dục

Hiện nay, tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp nên Sở Giáo dục và Đào tạo đã có văn bản chỉ đạo các trường trên địa bàn tỉnh cho toàn bộ học sinh nghỉ học cho đến khi có thông báo mới.

Về hoạt động của các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp: Hiện trên địa bàn tỉnh hiện có 14 cơ sở, trong đó: có 02 Trường Cao đẳng; 03 Trường Trung cấp (Trường Trung cấp Kỹ thuật - Công nghệ, Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật, Trường Trung cấp Luật Vị Thanh) và 09 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp. Các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp đều thực hiện nghiêm các quy định về phòng chống dịch bệnh COVID-19 như:

- Xây dựng kế hoạch phòng, chống dịch bệnh và nghiêm túc thực hiện các nội dung khuyến cáo phòng, chống bệnh viêm đường hô hấp cấp do COVID-19 gây ra, thành lập Ban Chỉ đạo trong công tác phòng, chống dịch bệnh;

- Phối hợp với Trung tâm y tế dự phòng thực hiện phun thuốc khử trùng tại nơi làm việc, nơi tiếp công dân, phòng học, nơi học,...

-  Thông báo cho 100% học sinh, sinh viên biết lịch nghỉ học và học lại để đảm bảo an toàn. Trong thời gian nghỉ học, các Trường tổ chức cho học sinh, sinh viên ôn tập trực tuyến, trao đổi thông tin qua mạng (zalo, facebook,...). Đồng thời, có kế hoạch dạy bù vào thời gian hợp lý để đảm bảo chương trình học theo quy định;

- Thường xuyên giám sát, theo dõi tình hình sức khỏe của học sinh và giáo viên nhằm phát hiện sớm các trường hợp nghi ngờ mắc bệnh, báo cáo cơ quan quản lý và cơ quan quản lý y tế để có biện pháp xử lý kịp thời;

- Nắm danh sách gia đình học sinh, sinh viên có thân nhân ở Hàn Quốc đã về địa phương hoặc có người thân đi sang Hàn Quốc thăm thân nhân trở về để kịp thời thông tin và phối hợp với cơ quan y tế theo dõi, phòng, chống dịch bệnh.

- Đến thời điểm hiện tại chưa có trường hợp mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp do COVID-19 gây ra tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh. Riêng Trường Trung cấp Kỹ thuật – Công nghệ tỉnh có 19 trường hợp giáo viên bị cách ly tại gia đình vì tham gia ôn tập và thi tiếng Anh quốc tế từ trình độ A2 lên B1 tại Hà Nội.

Ủy ban Nhân dân tỉnh chọn 03 Trường (Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang, Trường Trung cấp Luật Vị Thanh và Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật) làm nơi tiếp nhận và cách ly tập trung người Hậu Giang từ Hàn Quốc trở về. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã chỉ đạo Trường Trung cấp Kinh tế - Kỹ thuật di dời bàn ghế, sửa chữa điện nước, thiết bị chiếu sáng, phối hợp với cơ quan y tế trang bị các điều kiện y tế cần thiết phục vụ cho công tác cách ly tập trung phòng, chống dịch bệnh COVID-19 tại Trường.

7.2. Tình hình văn hóa, thể thao

7.2.1. Sự nghiệp văn hóa

Trong quý I, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tập trung tuyên truyền các hoạt động mừng Xuân Canh Tý năm 2020 gắn với Lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2020) và công bố Nghị quyết của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về thành lập phường Hiệp Lợi và thành phố Ngã Bảy.

Toàn ngành thực hiện được 4.390 m2 panô các loại, 390 băng rôn, in và treo hơn 13.100 cờ các loại, trang trí khánh tiết, phục vụ âm thanh ánh sáng, hỗ trợ chương trình văn nghệ cho các cuộc hội nghị, họp mặt, hội thi, hội diễn, liên hoan, hội chợ theo yêu cầu của các đơn vị ngoài ngành. Thực hiện maket pano, băng rol, cờ, tranh cổ động, cổng chào phục vụ tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; maket tuyên truyền cổ động trực quan phục vụ kỷ niệm 45 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2020) và Quốc tế Lao động 1/5. Đặc biệt, là tổ chức các hoạt động tuyên truyền phòng, chống dịch bệnh COVID-19.

Đội Tuyên truyền lưu động tỉnh xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng và phối hợp với Đội tuyên truyền lưu động của các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh tổ chức biểu diễn phục vụ Nhân dân trước, trong và sau tết Nguyên đán 2020. Tổng số đã biểu diễn 169 buổi, phục vụ 90.369 lượt người xem.

Đội chiếu phim lưu động tổ chức chiếu phim phục vụ Tết Dương lịch 2020 và Tết Nguyên đán Canh Tý 2020 tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh, với 25 buổi, phục vụ trên 5.400 lượt người xem.

Trong quý I, Đoàn Ca múa nhạc dân tộc xây dựng và biểu diễn 27 suất phục vụ trên 20.000 lượt người xem, phục vụ các ngày lễ, phục vụ nông thôn và các sở, ban, ngành trong tỉnh cụ thể như: Chương trình Chào năm mới 2020; lễ hội giao thừa “Mừng Đảng quang vinh - Mừng Xuân Canh Tý năm 2020”; họp mặt Nhà báo, Văn nghệ sĩ, Nhà doanh nghiệp, Nhà khoa học, Nông dân sản xuất giỏi, Kiều bào nhân dịp Xuân Canh Tý 2020; Hội báo Xuân - Triển lãm ảnh và Cuộc thi bình chọn ấn phẩm Xuân Canh Tý 2020; họp mặt kỷ niệm 110 năm Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 và 1980 năm Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (8/3/1910 - 8/3/2020);...

Về hoạt động thư viện: Trong quý I, hệ thống thư viện tỉnh và huyện, thị xã, thành phố đã phục vụ 191.304 lượt người với 382.624 lượt sách báo, truy cập máy tính; cấp 955 thẻ bạn đọc. Tổ chức triển lãm 400 loại báo xuân của các báo Trung ương và ấn phẩm xuân của 63 tỉnh, thành phố cả nước và 17 ấn phẩm Xuân của các sở, ban ngành, địa phương, đơn vị của tỉnh Hậu Giang tham gia Cuộc thi bình chọn ấn phẩm Xuân 2020; 600 bản sách chuyên đề về Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh; sách về Biển đảo Việt Nam; sách Địa chí Hậu Giang, khai mạc vào ngày 17 tháng 01 năm 2020 và phục vụ bạn đọc đến ngày 31 tháng 01 năm 2020 tại Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt Chiến thắng Chương Thiện; tổ chức triển lãm 250 bản sách về Đảng Cộng sản Việt Nam, sách Biển đảo và báo Xuân nhân Lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng và công bố quyết định thành lập thành phố Ngã Bảy tại thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang.

Về hoạt động bảo tồn - bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa: Trong quý I, hệ thống các di tích toàn tỉnh phục vụ 54.140 lượt khách (trong đó có 16 đoàn khách) tham quan tại các Khu di tích: Chiến thắng Chương Thiện (thành phố Vị Thanh); căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ; Chiến thắng Tầm Vu; Đền thờ Bác Hồ; Chiến thắng Chương Thiện tại huyện Long Mỹ; Khu trù mật Vị Thanh - Hỏa Lựu,...

7.2.2. Sự nghiệp thể dục thể thao

Tổ chức thành công các giải thể thao “Mừng Đảng quang vinh - Mừng Xuân Canh Tý tỉnh Hậu Giang năm 2020”, tham dự có 393 Vận động viên đến từ 10 đơn vị gồm: Thành phố Vị Thanh, huyện Long Mỹ, thị xã Long Mỹ, thành phố Ngã Bảy, huyện Phụng Hiệp, huyện Châu Thành A, huyện Châu Thành, huyện Vị Thủy, Ban Chỉ huy quân sự tỉnh và Công an tỉnh. Giải phục vụ gần 5.000 lượt người xem.

Tham dự giải: Lân Sư Rồng toàn quốc lần thứ VII năm 2020 tại thành phố Cần Thơ. Kết quả đạt được 01 huy chương bạc và 01 huy chương đồng; Cờ vua - Cờ tướng khu vực đồng bằng sông Cửu Long mở rộng mừng Đảng - mừng Xuân Canh Tý năm 2020 tại Đồng Tháp. Kết quả đạt được 03 huy chương vàng, 05 huy chương bạc và 05 huy chương đồng; Việt dã “Chào năm mới” lần thứ XXI năm 2020 BTV - Number 1; vô địch Việt dã leo núi toàn quốc “Chinh phục đỉnh cao Bà Rá” lần thứ 26 năm 2020 tại tỉnh Bình Phước.

Cử 02 vận động viên Điền kinh tham gia cùng Đoàn thể thao Việt Nam dự Đại hội thể thao Đông Nam Á (Sea Games) lần thứ 30 tại Philippines. Kết quả đạt được 02 huy chương đồng.

7.3. Lao động và an sinh xã hội

7.3.1. Tình hình đời sống dân cư và giải quyết việc làm

Đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương trên địa bàn tỉnh Hậu Giang trong những tháng đầu năm 2020 được cải thiện đáng kể do chính sách thưởng Tết của các DN và sự hỗ trợ từ nguồn ngân sách địa phương đối với cán bộ, công chức nhà nước. Theo báo cáo tình hình tiền lương, tiền thưởng cho người lao động của các DN trên địa bàn tỉnh và qua khảo sát của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội: Tổng số DN trên địa bàn tỉnh gần 1.679 DN; tổng số người lao động khoảng 46.391 lao động. Trong đó, số DN có thưởng Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020 là 24 DN. Mức thưởng bình quân từ 7,5 triệu đồng đến 18 triệu đồng, mức thưởng cao nhất là 177 triệu đồng, mức thưởng thấp nhất là 1,2 triệu đồng.

Nhìn chung, cuộc sống của người dân nông thôn vẫn tương đối ổn định. Tuy nhiên, để đời sống của người dân ngày càng được nâng chất thì các cấp Đảng, chính quyền cần có những cơ chế, chính sách phù hợp hơn cho lĩnh vực nông nghiệp như: hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc nắm bắt thông tin, hiểu rõ hơn những quy định mới từ các nước nhập khẩu đặt ra để từ đó có thể chủ động lên kế hoạch sản xuất hợp lý, nâng cao chất lượng hàng nông sản giúp nông dân có đầu ra sản phẩm ổn định.

Về vấn đề giải quyết việc làm: Tốc độ phát triển của nền kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó yếu tố lao động - việc làm được xem là một trong các yếu tố quyết định chính và trực tiếp nhất. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi vẫn còn khá cao (Nguồn số liệu Tổng Cục Thống kê điều chỉnh 10 năm từ 2009-2019, tỷ lệ thất nghiệp của tỉnh Hậu Giang là 3,07%).

Thời gian qua, Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hậu Giang đã ban hành các chủ trương, chính sách cụ thể, thiết thực, phù hợp nhằm khuyến khích, kêu gọi sự đầu tư của DN trong và ngoài tỉnh, kể cả DN nước ngoài xây dựng các cơ sở mới, quy mô hiện đại hơn, việc quy hoạch các khu, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp được tỉnh rất chú trọng, đến nay các khu, cụm công nghiệp như: Khu công nghiệp tập trung Nam sông Hậu (huyện Châu Thành), cụm công nghiệp tập trung Tân Phú Thạnh (huyện Châu Thành A), cụm công nghiệp tập trung Vị Thanh (thành phố Vị Thanh), các khu, cụm công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp ở các huyện, thị đã và đang tiếp tục được xây dựng. Do đó, phần nào giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách giải quyết việc làm cho người lao động, ngành Lao động thương binh và xã hội phối hợp với các ngành có liên quan, thông qua các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tư vấn giới thiệu việc làm, tạo việc làm trong và ngoài tỉnh. Cụ thể trong quí I năm 2020 như sau:

- Giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 4.193 lao động. Trong đó, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 08 lao động.

- Tư vấn việc làm cho 6.080 lao động; có 833 lao động đăng ký tìm việc làm; giới thiệu việc làm cho 420 lao động.

- Về lĩnh vực hỗ trợ tuyển dụng lao động cho DN: Đã hỗ trợ tuyển dụng 430 lao động cho 13 DN trong và ngoài tỉnh.

- Tổ chức Hội nghị triển khai hỗ trợ tuyển dụng và đào tạo lao động cho DN năm 2020 với hơn 100 đại biểu tham dự. Kết quả, trong năm 2020, tổng nhu cầu hỗ trợ tuyển dụng lao động cho DN là 10.000 lao động, đưa lao động tỉnh Hậu Giang đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng 500 lao động và hỗ trợ đào tạo nghề cung ứng cho DN 5.090 lao động.

Nhờ được sự quan tâm của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương và sự nổ lực vươn lên làm giàu của bản thân mỗi người dân, trong quý I đời sống của hầu hết các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh vẫn ổn định. 

7.3.2. An sinh xã hội

Ngành Lao động – Thương binh và Xã hội đã tham mưu cho Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh năm 2020. Bằng nhiều biện pháp hỗ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất như hỗ trợ vốn và các chương trình lồng ghép khác của dự án xóa đói giảm nghèo và sự nỗ lực vươn lên từ các hộ nghèo, đến nay, số hộ nghèo đã giảm đáng kể. Tổng hợp kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2019 theo chuẩn tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, cụ thể: Tổng số hộ nghèo là 10.088 hộ, chiếm tỷ lệ 4,98%; tổng số hộ cận nghèo là 8.832 hộ, chiếm tỷ lệ 4,36%.

Về công tác người có công với cách mạng: Tiếp nhận mới 833 hồ sơ các loại. Đã xét giải quyết 759 hồ sơ. Trong đó, đạt 599 hồ sơ; không đạt 160 hồ sơ. Còn lại 74 hồ sơ đang tiếp tục xem xét, giải quyết. Giới thiệu 08 trường hợp người có công với cách mạng ra Hội đồng Giám định y khoa tỉnh khám giám định tỷ lệ bị nhiễm chất độc hóa học và vết thương còn sót. Nhìn chung, được sự quan tâm của các cấp, các ngành đối với người có công, đã góp phần vào công tác xoa dịu nỗi đau, khích lệ tinh thần và ổn định cuộc sống của người dân.

Về công tác bảo trợ xã hội: Thực hiện trợ cấp hàng tháng cho 94.420 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 35.279,9 triệu đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 481 trường hợp với số tiền 2.597,4 triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho 09 trường hợp với số tiền 140 triệu đồng. Cấp 24.296 thẻ bảo hiểm y tế cho đối tượng Bảo trợ xã hội với số tiền 5,9 tỷ đồng;

7.4. Y tế

Theo báo cáo của Sở Y tế, trong tháng có 14 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, tăng 06 ca so với tháng trước, cộng dồn là 52 ca, tăng 01 ca so với cùng kỳ; bệnh tay chân miệng có 12 ca mắc mới, tăng 04 ca so với tháng trước, cộng dồn là 63, giảm 36 ca so với cùng kỳ; bệnh sởi, bệnh viêm gan do virút, bệnh quai bị trong tháng không có ca mắc mới; bệnh dịch lạ như EBOLI, H5N1, MERS-CoV, Zika chưa phát hiện ca mắc trên địa bàn tỉnh.

 Hiện tại tỉnh Hậu Giang chưa phát hiện có ca mắc dịch bệnh COVID-19. Tính đến sáng ngày 16/3/2020 tổng số người nước ngoài và người Việt Nam từ nước ngoài trở về đang theo dõi, giám sát tại Hậu Giang là 2.942 trường hợp, Trong đó:

- Đủ thời gian theo dõi 14 ngày là: 2.656 trường hợp.

- Đang theo dõi là 266 trường hợp.

- Theo dõi tập trung là 17 trường hợp. Chia ra:

+ Tại trung tâm y tế: 2 trường hợp (Ngã Bảy: 01, Châu Thành: 01).

+ Tại khu cách ly tập trung: 15 trường hợp (Trường Trung cấp Luật tại huyện Vị Thủy: 03, Trường Văn Hóa- Nghệ Thuật xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp: 12).

- Theo dõi tại nhà, nơi cư trú: 395 trường hợp (tổng số theo dõi: 2.658 trường hợp, đủ 14 ngày: 2.263 trường hợp).

Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 1.007 trẻ, cộng dồn là 2.803 trẻ, đạt 24,22%; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 1.001 trẻ, cộng dồn là 2.728 trẻ, đạt 23,97%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 913 thai phụ, cộng dồn là 2.614 thai phụ, đạt 23,05%; số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng là 11 ca, cộng dồn là 16 ca (giảm 03 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.762 ca (còn sống 1.174 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng là 01 ca, cộng dồn là 03 ca (giảm 05 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.025 ca; số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 01 ca, cộng dồn là 03 ca (tăng 02 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 588 ca. Trong tháng, khám và cấp thuốc cho 1.392 lượt bệnh nhân. Số người hiện đang điều trị Methadone là 50 người.Tổng số bệnh nhân điều trị ARV là 779 người.

 Hiện nay, Sở Y tế đã triển khai thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh chủ động, hạn chế thấp nhất sự lây lan của dịch bệnh, chưa xuất hiện các loại bệnh dịch lạ, không có trường hợp mắc dịch bệnh COVID-19. Tham mưu Ban chỉ đạo tỉnh triển khai các giải pháp phòng chống và điều trị dịch bệnh COVID-19, phối hợp với các đơn vị có liên quan triển khai tốt công tác quản lý và cách ly người nước ngoài về địa bàn tỉnh (có liên quan đến dịch bệnh). Thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin về tình hình dịch bệnh, khuyến cáo phòng, chống dịch bệnh COVID-19 trên Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và Báo Sức khỏe và Đời sống. Triển khai ứng dụng “Sức Khỏe Việt Nam” cho toàn thể công chức, viên chức và người lao động trong ngành Y tế, hướng dẫn người dân sử dụng Ứng dụng “Sức khỏe Việt Nam”.

Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn được duy trì tốt (không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm trên 30 người/vụ).

Công tác bảo hiểm y tế: Tính đến ngày 29/02/2020 đã có 84,79% dân số trên địa bàn tỉnh tham gia bảo hiểm y tế.

7.5. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 3, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 04 vụ tai nạn giao thông, làm chết 02 người và làm bị thương 02 người. So với tháng trước giảm 01 vụ, số người chết giảm 03 người và số người bị thương tăng 02 người, tất cả đều tập trung ở đường bộ, đường thủy không xảy ra tai nạn giao thông. So với cùng kỳ năm trước số vụ giảm 04 vụ, số người chết giảm 05 người và số người bị thương tăng 01 người, tập trung ở đường bộ.

Trong quý I, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra tổng cộng 11 vụ tai nạn giao thông, làm chết 08 người và làm bị thương 03 người, tất cả tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước giảm 15 vụ (đường bộ giảm 14 vụ, đường thủy giảm 01 vụ, số người chết giảm 16 người (đường bộ giảm 15 người, đường thủy giảm 01 người) và số người bị thương giảm 02 người (tập trung ở đường bộ).

7.6. Tình hình thiệt hại do thiên tai, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Về tình hình hạn mặn: Tình hình hạn hán, thiếu nước và xâm nhập mặn (theo báo cáo của Chi Cục Thủy lợi Hậu Giang), tính từ ngày 28/02/2020 đến ngày 09/3/2020. Trên địa bàn tỉnh xâm nhập mặn xuất hiện tại huyện Châu Thành trên sông Cái Côn với nồng độ là 2,4‰ (09/3/2020); tại thành phố Ngã Bảy trên kênh Mang Cá (giáp Sóc Trăng) nồng đồ cao nhất đo được là 0,8‰ (ngày 29/02/2020); thành phố Vị Thanh với nồng đồ cao nhất đo được là 4,3‰ (ngày 09/3/2020) tại cống kênh Lầu xã Hỏa Tiến; tại đầu kênh 10 Thước của huyện Long Mỹ độ mặn đo được cao nhất là 6,9 ‰ (ngày 09/3/2020), tại Ủy ban Nhân dân xã Lương Nghĩa độ mặn 6,7‰ (ngày 28/02/2020).

Tình hình xâm nhập mặn trên địa bàn tỉnh tính từ đầu năm đến nay, nồng độ mặn đo được cao nhất là 18,6‰ (ngày 11/02/2020) tại xã Lương Nghĩa, huyện Long Mỹ, do ảnh hưởng của triều biển Tây sông Cái Lớn; trên sông Cái Côn huyện Châu Thành nồng độ đo cao nhất là 4,2 ‰ (ngày 11/02/2020). Đến thời điểm hiện tại, xâm nhập mặn chưa ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống người dân. Tuy nhiên, theo dự báo của Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Nạm bộ và Đài khí tượng Thủy văn tỉnh Hậu Giang, nửa cuối tháng 3 sẽ diễn ra ngày càng phức tạp và nghiêm trọng. Dự báo tình hình xâm nhập mặn tháng 3, nồng độ cao hơn và xâm nhập sâu tương đương năm 2016 và có khả năng ảnh hưởng lớn đến sản xuất và sinh hoạt của người dân. Vì vậy, để kịp thời thông báo đến người dân, đã phân công cán bộ Trạm Thủy lợi thường xuyên theo dõi tình hình xâm nhập mặn ở các huyện, thị, thành phố mỗi ngày một lần.

Về tình hình sạt lở: Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 06 điểm sạt lở. Chiều dài sạt lở là 142 m, diện tích mất đất là 497 m2. Ước tổng thiệt hại khoảng 571 triệu đồng.

Tính đến tháng 3, ngành chức năng đã phát hiện và xử lý 12 vụ vi phạm môi trường, với số tiền xử phạt là 56,5 triệu đồng. Ngành chức năng tiếp tục giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các cơ sở có thông tin phản ánh để kịp thời xử lý theo quy định.

Về công tác phòng, chống cháy, nổ luôn được các ngành chức năng quan tâm thực hiện, định kỳ có kiểm tra, hướng dẫn người dân, các cơ sở kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy. Trong quý I, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 01 vụ cháy ở huyện Phụng Hiệp, làm thiệt hại khoảng 650 triệu đồng, giảm 50% về số vụ và 13,33% về tổng số tài sản thiệt hại.

8. Một số nhiệm vụ, giải pháp

Trong quý I, tình hình dịch bệnh COVID – 19 diễn biến phức tạp đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình thương mại, dịch vụ của tỉnh, nếu đại dịch kéo dài sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong các quý tiếp theo. Vì vậy, để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020 cần phải ngăn chặn được dịch bệnh bùng phát. Bên cạnh đó, các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị cần tập trung cao trong công tác chỉ đạo, điều hành, nghiêm túc quán triệt, thực hiện các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân tỉnh về triển khai thực hiện nhiệm vụ, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

- Một là, tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp.

- Hai là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

- Ba là, tái cơ cấu nông nghiệp, thủy sản, cây ăn trái gắn với xây dựng nông thôn mới: Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nền nông nghiệp có giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững trên cơ sở tập trung cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới.

- Bốn là, phát triển công nghiệp – xây dựng, nâng cao hiệu quả đầu tư công: Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu công nghiệp; kêu gọi thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp, phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp; tăng cường xúc tiến thu hút đầu tư nhằm nâng cao tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực đầu tư xây dựng cho các tổ chức, cá nhân, giám sát, kiểm tra và thực hiện; đồng thời tăng cường quản lý hoạt động xây dựng, chất lượng công trình xây dựng, quy hoạch, kiến trúc, cảnh quan và mỹ quan đô thị; quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị, phát triển đô thị, nhà ở và xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng

- Năm là, phát triển dịch vụ và đẩy mạnh xuất khẩu: Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, liên kết vùng, kết nối cung cầu nhằm đưa các sản phẩm chủ lực, hàng thủ công mỹ nghệ của tỉnh Hậu Giang vào hệ thống phân phối hiện đại, các điểm tham quan du lịch trong tỉnh và các tỉnh thành trong cả nước. Theo dõi diễn biến giá cả thị trường và công tác bình ổn thị trường. Tăng cường công tác quản lý thị trường, kịp thời phát hiện những trường hợp đầu cơ, gây mất cân bằng cung cầu, xử lý nghiêm những trường hợp kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng; quản lý giá bán theo giá niêm yết, xử lý các vi phạm về giá./.