Tháng 5
21:40 05/06/2020

 

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang tháng 5 năm 2020

 

Hiện nay, tình hình dịch COVID-19 đã được kiểm soát, không xuất hiện ca mắc mới trong cộng đồng, Chính phủ đã bãi bỏ quy định về cách ly xã hội, nhờ vậy mà tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực. Các ngành thương mại, dịch vụ trở lại hoạt động bình thường nên làm cho tốc độ tăng trưởng của tỉnh tăng nhẹ so với tháng trước. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước vẫn còn giảm đáng kể. Cụ thể, kết quả hoạt động từng ngành, từng lĩnh vực như sau:

1. Tài chính, tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu Ngân sách Nhà nước tháng 5 được 444,467 tỷ đồng, luỹ kế được 4.978,227 tỷ đồng, đạt 64,67% dự toán Trung ương và Hội đồng Nhân dân tỉnh giao. Trong đó, Trung ương trợ cấp được 311,134 tỷ đồng, luỹ kế được 1.747,304 tỷ đồng, đạt 43,07% dự toán Trung ương và Hội đồng Nhân dân tỉnh giao; thu nội địa được 100 tỷ đồng, luỹ kế được 1.261,264 tỷ đồng, đạt 38,92% dự toán Trung ương và Hội đồng Nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi Ngân sách địa phương tháng 5 năm 2020 được 693,846 tỷ đồng, luỹ kế được 3.432,934 tỷ đồng, đạt 50,09% dự toán Trung ương và Hội đồng Nhân dân tỉnh giao. Chia ra: Chi xây dựng cơ bản được 343,965 tỷ đồng, luỹ kế 1.686,537 tỷ đồng, đạt 65,73% dự toán Trung ương và Hội đồng Nhân dân tỉnh giao; chi thường xuyên được 349,882 tỷ đồng, luỹ kế được 1.715,549 tỷ đồng, đạt 41,10% dự toán Trung ương và Hội đồng Nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 29 tháng 4, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 14.527 tỷ đồng, giảm 0,33% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 0,98% so với cuối năm 2019. Vốn huy động đáp ứng được 62,05% cho hoạt động tín dụng. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng thương mại nhà nước huy động được 9.395 tỷ đồng (chiếm 64,67%); khối Ngân hàng thương mại cổ phần được 4.525 tỷ đồng (chiếm 31,15%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 566 tỷ đồng (chiếm 3,90%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 41 tỷ đồng (chiếm 0,28%). Hiện, lãi suất không kỳ hạn đến dưới 1 tháng phổ biến từ 0,3-0,5%/năm; lãi suất từ 01 tháng đến dưới 06 tháng từ 4,3-4,7%/năm; lãi suất từ 06 tháng đến dưới 12 tháng từ 5,1-7,8%; lãi suất từ 12 tháng trở lên từ 5,6-8,1%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 5, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn đạt 14.758 tỷ đồng, tăng trưởng 1,59% so với cuối tháng 4/2020, tương ứng tăng trưởng 2,59% so với cuối năm 2019.

Đến ngày 29 tháng 4, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn được 23.411 tỷ đồng, giảm 2,46% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 0,09% so với cuối năm 2019. Trong tổng dư nợ thì khối Ngân hàng thương mại nhà nước được 16.408 tỷ đồng (chiếm 70,09%); khối Ngân hàng thương mại cổ phần được 4.510 tỷ đồng (chiếm 19,26%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 2.449 tỷ đồng (chiếm 10,46%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 44 tỷ đồng (chiếm 0,19%). Lãi suất cho vay luôn được giữ ở mức ổn định, đối với các lĩnh vực ưu tiên, lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam phổ biến là 5,5%/năm; cho vay trung, dài hạn ở mức 6,5 -10,5%/năm; các lĩnh vực khác, lãi suất cho vay ngắn hạn từ 7,7 - 12%/năm; trung, dài hạn từ 10,5 - 14%. Ước thực hiện đến cuối tháng 5, dư nợ được 23.964 tỷ đồng, tăng trưởng 2,36% so với cuối tháng 4/2020, tương ứng tăng trưởng 2,45% so với cuối năm 2019.

Nợ quá hạn đến ngày 29 tháng 4 là 709 tỷ đồng, chiếm 3,03% trên tổng dư nợ; nợ xấu là 417 tỷ đồng, chiếm 1,78% trên tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 292 tỷ đồng, chiếm 41,18% trên tổng nợ quá hạn. Dự báo đến cuối tháng 5, nợ xấu toàn địa bàn vẫn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.

2. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 15 tháng 5, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2020 là 20.320,488 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.188,488 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 2.150 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 15.982 tỷ đồng.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 5 năm 2020 là 1.840,660 tỷ đồng, bằng 107,54% so với cùng kỳ năm trước và bằng 105,15% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư thực hiện tăng so với tháng trước là do thời tiết khô ráo tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị thi công tập trung đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm trên địa bàn tỉnh; đây là tháng cao điểm thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2020 được triển khai nhanh ở các huyện/thị xã/thành phố; được sự quan tâm của Tỉnh ủy và Ủy ban Nhân dân tỉnh đã chỉ đạo giải quyết nhanh, kịp thời các khó khăn vướng mắc và đảm bảo đúng tiến độ, sớm đưa các công trình hoàn thành vào khai thác, sử dụng đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh.

        Ước tính 5 tháng đầu năm 2020, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 8.269,850 tỷ đồng, bằng 105,97% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 40,70% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 782,890 tỷ đồng, bằng 109,02% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 35,77% so với kế hoạch năm. 

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 898,680 tỷ đồng, bằng 151,95% so với cùng kỳ năm trước và đạt 41,80% so với kế hoạch năm.          

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 6.588,280 tỷ đồng, bằng 101,44% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 41,22% so với kế hoạch năm.

        Ước tính 6 tháng đầu năm 2020, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 10.050,95 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (9.475,90 tỷ đồng) bằng 106,07% và đạt 49,46% so với kế hoạch năm hiện tại phân bổ (20.320,488 tỷ đồng). Trong đó vốn ngân sách nhà nước thực hiện được 996,370 tỷ đồng, bằng 110,63% so với cùng kỳ năm trước và đạt 45,53% so với kế hoạch điều chỉnh hiện tại (2.188,488 tỷ đồng), chiếm tỷ trọng 9,91% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

3.1. Nông nghiệp

Đến trung tuần tháng 5, toàn tỉnh đã thu hoạch dứt điểm lúa đông xuân 2019 - 2020, diện tích gieo trồng toàn tỉnh chính thức được 77.820 ha, bằng 101% so với kế hoạch tỉnh (kế hoạch tỉnh 77.000 ha), so với cùng kỳ giảm 0,76% (bằng 598 ha); năng suất thu hoạch được 76,57 tạ/ha; tăng 2,32% (bằng 3,2 tạ/ha) so với cùng kỳ; sản lượng thu hoạch được 595.869 tấn, tăng 3,57% (bằng 20.515 tấn) so với cùng kỳ. Có được kết quả này là do ngành Nông nghiệp đã chủ động triển khai các giải pháp phòng chống và ứng phó với hạn mặn, khuyến cáo bà con nông dân sử dụng các giống lúa ít bị nhiễm sâu bệnh cho năng suất cao.

Lúa hè thu, đến nay toàn tỉnh ước xuống giống được 70.047 ha, đạt 91,3% so với kế hoạch (kế hoạch tỉnh 76.700 ha), so với cùng kỳ giảm 2,39% (bằng 1.714 ha), các giống lúa được trồng chủ yếu như: OM5451, OM 18, Hương Châu 6, Đài Thơm 8,….

Mía niên vụ 2020, toàn tỉnh đã xuống giống được 5.909 ha, giảm 28,94% (giảm 2.406 ha), chủ yếu trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, thành phố Vị Thanh và thành phố Ngã Bảy. Hiện mía đang ở giai đoạn 1-4 tháng tuổi, sinh trưởng và phát triển tốt.

Diện tích gieo trồng ngô vụ đông xuân toàn tỉnh xuống giống được 1.472 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 1,28% (bằng 19 ha); năng suất sơ bộ 55,2 tạ/ha, tăng 0,18% (bằng 0,1 tạ/ha) so với cùng kỳ; sản lượng sơ bộ được 8.131 tấn, giảm 0,97% (bằng 80 tấn) so với cùng kỳ.

Diện tích gieo trồng cây rau các loại 5 tháng ước được 12.515 ha, so với năm trước tăng 11,47% (bằng 1.288 ha).

Về tình hình dịch bệnh: Trong tháng sinh vật gây hại trên cây lúa toàn tỉnh là 3.960 ha, trong đó có 0,5 ha nhiễm đạo ôn lá nặng, diện tích còn lại nhiễm nhẹ phân bố hầu hết ở các huyện, thị, thành; sinh vật gây hại trên cây mía là 141 ha, sinh vật gây hại trên cây rau màu là 315 ha, gồm các loài sinh vật gây hại như: sâu tơ, sâu ăn tạp, các loại sâu ăn lá, rệp sáp, bọ trĩ, bọ nhảy,... mức độ gây hại nhẹ. Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đang được ngăn chặn kịp thời.

3.2. Chăn nuôi

Trong tháng, tình hình chăn nuôi trâu, bò nhìn chung ổn định, tuy nhiên đàn trâu của tỉnh có xu hướng giảm do hiệu quả kinh tế không cao, ngược lại đàn bò lại phát triển khá do giá bán thịt bò luôn ở mức cao nên người nuôi có lãi. Chăn nuôi lợn dần dần được phục hồi trở lại sau dịch tả lợn châu Phi. Ước tính tháng 5, số đầu con gia súc như sau:

- Đàn trâu: Hiện có 1.462 con, giảm 1,68% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 14,6 tấn, tăng 13,33% so với cùng kỳ năm trước, do trong tháng, giá trâu thịt tăng ổn định, người nuôi trâu có lãi nên tranh thủ bán nhiều hơn.

- Đàn bò: Hiện có 3.606 con, tăng 4,46% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 31,2 tấn, tăng 46,41% so với cùng thời điểm năm trước.

- Đàn heo: Hiện có 93.723 con heo, giảm 44,17% (giảm 74.151 con) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: heo thịt là 80.987 con, giảm 32,61% (giảm 39.182 con). Đàn heo giảm mạnh là do ảnh hưởng dịch tả lợn châu Phi. Hiện dịch tả đã được khống chế, người chăn nuôi đã dần dần tái đàn trở lại.

Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển, ước tính tháng 5, tổng đàn gia cầm được 4.203,5 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 5,48% (tăng 218,4 ngàn con). Trong đó, đàn gà có 1.352,1 ngàn con, tăng 13,75% (tăng 110,7 ngàn con). Mặc dù hiện tại đàn gia cầm phát triển tốt, tuy nhiên sắp tới mùa mưa, thời tiết ẩm ướt là điều kiện thuận lợi cho vi rút cúm tồn tại và lây lan, nên cần có biện pháp chủ động phòng chống dịch, để chăn nuôi đạt hiệu quả.

3.3. Lâm nghiệp

Trong tháng, sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào công tác trồng và chăm sóc rừng. Uớc tính tháng 5, diện tích rừng trồng mới tập trung được 110 ha, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán được 255,4 nghìn cây, tăng 2,57% so với cùng thời điểm năm trước. Tính đến tháng 5, sản lượng gỗ khai thác ước được 5.009,5 m3 gỗ, tăng 1,94% (bằng 95,4 m3) so với cùng kỳ; sản lượng củi khai thác ước được 43.991 ste, giảm 1,89% (bằng 846,3 ste) so với cùng kỳ.    

Công tác bảo vệ và quản lý rừng: Công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định; công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô được ngành chức năng chỉ đạo quyết liệt, đã nâng cấp cảnh báo cháy rừng toàn tỉnh lên cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm) trên tất cả các khu rừng, Ban chỉ đạo tỉnh, các Ban chỉ huy huyện, xã tổ chức các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, kiểm tra công tác tác ứng trực cháy rừng hằng ngày từ Văn phòng Ban chỉ đạo tỉnh đến huyện, xã và chủ rừng xuyên suốt kể cả thứ bảy, chủ nhật, thường xuyên theo dõi kiểm tra và cảnh báo kịp thời đến người dân.

Mặc dù công tác bảo vệ và quản lý rừng được thực hiện nghiêm nhưng tính từ đầu năm đến nay đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, với diện tích rừng bị thiệt hại là 1,58 ha do Công ty Cổ phần Đầu tư du lịch Miền Nam quản lý (trước đây là của Trung tâm nông nghiệp Mùa xuân quản lý).

3.4. Thủy sản

Trong tháng, diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh ước được 453,3 ha, tăng 3,21% (bằng 14,1 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng, tổng diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 2.509,8 ha, tăng 3,93% (bằng 94,8 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Sản lượng thủy sản tháng 5 ước tính được 5.918,8 tấn, tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: cá được 5.665,6 tấn, tăng 4,08%; tôm được 0,6 tấn, không biến động; thủy sản khác được 252,6 tấn, tăng 2,85%. Trong đó, so với cùng kỳ năm trước sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính được 5.643 tấn, tăng 4,32%; sản lượng thủy sản khai thác ước được 275,8 tấn, giảm 1,57%.

Tính chung 5 tháng, tổng sản lượng thủy sản ước được 28.058,7 tấn, tăng 3,33% (bằng 904,2 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng được 26.745,9 tấn, tăng 3,54%; sản lượng thủy sản khai thác được 1.312,8 tấn, giảm 0,85% so với thời điểm cùng kỳ năm trước.

4. Tình hình sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 5, tính theo giá so sánh 2010, được 2.307,843 tỷ đồng, tăng 8,45% so với tháng trước và tăng 3,85% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, được 3.580,875 tỷ đồng, tăng 13,16% so với tháng trước và tăng 5,71% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 5 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp, tính theo giá so sánh 2010, ước được 10.521,086 tỷ đồng, tăng 1,59% so với cùng kỳ năm trước. Tính theo giá thực tế, ước được 15.311,048 tỷ đồng, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng từ dịch COVID-19, các doanh nghiệp khó khăn trong quá trình tìm kiếm nguyên liệu thay thế, cộng thêm việc thực hiện theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ nên một số cơ sở sản xuất cá thể công nghiệp và một số doanh nghiệp giảm quy mô sản xuất do thực hiện một số biện pháp như: Giải quyết một số công nhân nghỉ tạm thời; chia ca làm việc để giảm số lượng công nhân trong cùng nhà xưởng sản xuất; tăng số lượng xe đưa rước công nhân để đảm bảo giữ khoảng cách an toàn cho công nhân… Vì vậy ước 5 tháng tăng không cao so với cùng kỳ năm trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 6 tháng, tính theo giá so sánh 2010, được 12.955,812 tỷ đồng, tăng 2,67% so với cùng kỳ năm trước và đạt 39,69% so với kế hoạch năm. Tính theo giá thực tế, được 19.147,496 tỷ đồng, tăng 5,97% so với cùng kỳ năm trước và đạt 41% so với kế hoạch năm.

Nhìn chung, 6 tháng đầu năm 2020 mặc dù ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 nhưng hầu hết các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh không có doanh nghiệp ngưng hoạt động. Vì vậy, để hoàn thành kế hoạch năm 2020, đề nghị các doanh nghiệp cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch, chính sách kịp thời và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp đang đầu tư sớm đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính tháng 5, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 6,85% so với tháng trước và giảm 0,31% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,33%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,77%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,93%.

Tính chung 5 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 2,85% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,83%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 4,35%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,12%.

Cụ thể, một số ngành có tác động lớn đến chỉ số sản xuất công nghiệp chung của tỉnh như sau:

- Ngành sản xuất đồ uống: tăng 3,87% so với tháng trước và tăng 77,43% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng tăng 244,94% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Number One Hậu Giang đầu tư hoàn thành chạy thử từ tháng 4/2019 và hoạt động ổn định đến nay. Vì vậy, sản lượng sản xuất của doanh nghiệp 5 tháng tăng đột biến 432,33% so với cùng kỳ.  Ngoài ra, Công Ty TNHH Mtv Masan Brewery Hậu Giang đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động từ tháng 01 năm 2016, với công suất thiết kế 100 triệu lít bia/năm, nhưng từ ngày doanh nghiệp đi vào hoạt động đến nay sản phẩm còn mới, khó thâm nhập vào thị trường, chưa tạo dựng được thương hiệu,  nên doanh nghiệp chỉ hoạt động cầm chừng, đến thời điểm hiện tại doanh nghiệp đã nhiều lần cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, nên sản phẩm của doanh nghiệp được người tiêu dùng chấp nhận. Vì vậy, sản lượng của doanh nghiệp 5 tháng tăng 79,47% so với cùng kỳ, nhưng sản lượng vẫn chưa đạt kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra và còn rất thấp so với công suất thiết kế của nhà máy. Mặc dù ảnh hưởng từ Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ và dịch COVID-19 nhưng ngành sản xuất đồ uống vẫn tăng cao so với cùng kỳ.

Ngành sản xuất trang phục: tăng 20,51% so với tháng trước và giảm 11,68% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng giảm 9,76% so với cùng kỳ. Trong toàn ngành có 04 doanh nghiệp trực tiếp sản xuất trang phục. Trong đó, có 03 doanh nghiệp trực tiếp gia công hàng may mặc cho nước ngoài. Hiện nay, do ảnh hưởng của dịch COVID-19 các doanh nghiệp gia công hàng hóa cho nước ngoài gặp không ít khó khăn, nhưng do doanh nghiệp có ký hợp đồng từ những tháng cuối năm 2019 và phải hoàn thiện trong 6 tháng đầu năm 2020, nên các doanh nghiệp hoạt động trong ngành đã ký hợp đồng dài hạn với khách hàng và nguồn nguyên, vật liệu do bên đặt hàng hoặc một doanh nghiệp trung gian thứ 3 phụ trách cung ứng nguyên, vật liệu sản xuất. Mặc dù ảnh hưởng từ dịch COVID-19 nhưng ngành sản xuất trang phục đã có sự chuẩn bị đối phó. Vì vậy, sản lượng sản xuất ngành này có giảm nhưng không nhiều so với cùng kỳ năm trước.

Ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan: Tăng 17,50% so với tháng trước và tăng 34,36% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng tăng 34,25% so với cùng kỳ. Trong toàn ngành có 02 doanh nghiệp sản xuất giày da, trong đó có 01 doanh nghiệp gia công cho doanh nghiệp khác trong vùng và Công ty TNHH Lạc Tỷ II, sản xuất giày da thành phẩm xuất khẩu, tỷ trọng của công ty này chiếm trên 96,50% giá trị sản xuất của ngành. Trong 5 tháng đầu năm 2020 mặc dù bị ảnh hưởng từ dịch COVID-19, nhưng sản lượng của doanh nghiệp vẫn tăng ổn định, là do công ty đã ký hợp đồng với khách hàng trên 6 tháng và nguồn nguyên, vật liệu do đối tác cung ứng. Vì vậy, sản lượng sản xuất của ngành này không bị ảnh hưởng bởi chuỗi cung ứng nguyên, vật liệu từ nước ngoài. 

Ngành sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy: tăng 0,33% so với tháng trước và tăng 41,21% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng tăng 19,26%. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Giấy Lee & Man Việt Nam với sản phẩm chính là giấy cuộn và bìa giấy, do Trung Quốc là bên cung cấp nguyên liệu chính cho doanh nghiệp, nhưng hiện nay nguồn nguyên, phụ liệu tồn kho tại doanh nghiệp còn đủ để sản xuất đến hết tháng 5 và doanh nghiệp đã chủ động tìm nguồn nguyên, vật liệu từ các nước khác trong khu vực. Nên tình hình dịch COVID-19 mặc dù phức tạp nhưng không ảnh hưởng đến sản lượng sản xuất của doanh nghiệp để đảm bảo hoàn thành các hợp đồng đã ký trước đó.

5.  Hoạt động thương mại, dịch vụ

5.1. Bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Ước thực hiện tháng 5, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 2.637,745 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh là 341,988 triệu đồng), so với thực hiện tháng trước bằng 118,83% và so với cùng kỳ năm trước bằng 84,73%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa thực hiện được 2.136,201 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 117,66% và so với cùng kỳ năm trước bằng 91,11%. Bước qua tháng 5, thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh bắt đầu có dấu hiệu tốt hơn so với tháng trước, hoạt động thương mại diễn ra bình thường do tình hình dịch COVID-19 ở nước ta đã được kiểm soát tốt. Hầu hết các nhóm hàng hóa đã được tiêu dùng tăng trở lại, điển hình một số nhóm như: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm được 542,555 tỷ đồng, tăng 13,08% so tháng trước, do giá cả một số mặt hàng trong nhóm này vẫn còn ở mức cao như: Thịt heo, rau xanh,… Thêm vào đó, đây là tháng cao điểm thu hoạch các loại cây ăn trái trong năm; nhóm hàng vật phẩm, văn hóa tăng 33,40% so tháng trước do học sinh đã đi học trở lại, nhu cầu mua sắm đồ dùng, dụng cụ học tập tăng cao; nhóm hàng xăng, dầu so tháng trước tăng 8,89%, do trong tháng giá xăng đã được điều chỉnh tăng (vào ngày 13/5/2020), nhu cầu đi lại tăng sau cách ly xã hội.

- Doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác thực hiện được 205,324 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 128,33% và so với cùng kỳ năm trước bằng 79,54%. Ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính trong tháng cũng sẽ tăng mạnh so với tháng trước, nhưng so cùng kỳ vẫn còn giảm sâu. Do tháng 5/2020 các hoạt động dịch vụ đã trở lại hoạt động bình thường. Cụ thể:

+ Dịch vụ kinh doanh bất động sản được 3,219 tỷ đồng, so tháng trước tăng 17,67%, do một số công trình xây dựng đã hoạt động trở lại, các cơ sở cho thuê nhà ở dài hạn dành cho sinh viên, người lao động đã hoạt động trở lại, nhưng so cùng kỳ vẫn còn giảm 34,23%.

+ Dịch vụ hành chính và hỗ trợ được 9,075 tỷ đồng, so tháng trước tăng 20,60%, do các dịch vụ cho thuê máy móc trong xây dựng đã hoạt động trở lại, nhu cầu dịch vụ hành chính văn phòng cũng sẽ tăng trở lại sau khi trường học mở cửa, hoạt động công sở trở lại hoạt động ổn định.

+ Dịch vụ giáo dục được 0,812 tỷ đồng, dịch vụ này trong tháng đã hoạt động, học sinh các cấp trên địa bàn tỉnh đã đi học trở lại, các trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trung tâm anh ngữ, và các dịch vụ giáo dục khác cũng đã hoạt động bình thường.

+ Dịch vụ y tế được 13,626 tỷ đồng, so tháng trước tăng 8,97%, do hoạt động của dịch vụ này trong tháng trước vẫn hoạt động bình thường, nên ước tính tháng này tăng không cao so tháng trước như các ngành dịch vụ khác.

+ Dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí ước tính được 129,322 tỷ đồng, so tháng trước tăng 36,79%, do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, theo Chỉ thị số 16/CT-TTg nên trong tháng 4/2020 hoạt động xổ số không phát hành vé bán ra, hoạt động của các cơ sở kinh doanh dịch vụ vui chơi, giải trí đóng cửa nên doanh thu giảm sâu. Qua tháng 5/2020 một số dịch vụ vui chơi, giải trí, đặc biệt là hoạt động xổ số đã hoạt động trở lại. Vì vậy, doanh thu dịch vụ này tăng cao so tháng trước, nhưng so cùng kỳ vẫn còn giảm (giảm 17,98%).

+ Một số dịch vụ khác ước tính trong tháng được 49,269 tỷ đồng, so tháng trước tăng 15,42%, do các ngành dịch vụ phục vụ cá nhân và gia đình trong tháng đã hoạt động bình thường, nhu cầu người dân cũng tăng hơn tháng trước, nhất là hoạt động của các cơ sở làm đẹp, hớt tóc, dịch vụ sửa chữa đồ dùng gia đình,…

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 296,220 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 121,32% và so với cùng kỳ năm trước bằng 58,07%.

+ Ngành lưu trú trong tháng ước thực hiện được 5,327 tỷ đồng, so tháng trước tăng 16,28%, trong tháng 5/2020 hoạt động kinh doanh của cơ sở lưu trú đã trở lại bình thường, nhưng lượng khách phục vụ vẫn còn hạn chế do nhu cầu sử dụng dịch vụ, khách du lịch vẫn chưa ổn định, đây là mức tăng không cao và vẫn còn giảm sâu so với cùng kỳ.

+ Ngành ăn uống trong tháng đã có chuyển biến tích cực hơn nhờ vào sự hoạt động trở lại của các cơ sở kinh doanh hàng ăn uống, nhà hàng, …Ước tính doanh thu ăn uống trong tháng được 290,893 tỷ đồng, so tháng trước tăng 21,42%, tuy nhiên so cùng kỳ giảm 41,84% vì tác động của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ và phần lớn người dân vẫn còn e ngại trong việc đi ăn hàng quán trong mùa dịch bệnh nên doanh thu ngành ăn uống vẫn chưa phục hồi được so với cùng kỳ.

Ước thực hiện 5 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 14.517,174 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh là 1.804,988 tỷ đồng), so với cùng kỳ năm trước bằng 87,37%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa thực hiện được 11.283,850 tỷ đồng, so với  cùng kỳ năm trước bằng 89,91%.

- Doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác thực hiện được 1.231,282 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 87,60%.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 2.002,042 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 70,69%.

Dự tính 6 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 17.422,148 tỷ đồng (Trong đó, chi nhánh của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh là 2.149,346 tỷ đồng), so với cùng kỳ năm trước bằng 88,61%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa thực hiện được 13.573,208 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 91,77%.

- Doanh thu dịch vụ tiêu dùng khác thực hiện được 1.486,383 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 87,55%.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 2.362,557 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 70,65%.

Mặc dù trong thời gian qua, tỉnh Hậu Giang đã thực hiện tốt Nghị định số 41/2020/NĐ-CP về gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và hộ kinh doanh cá thể giảm bớt khó khăn, khôi phục lại hoạt động sau dịch bệnh nhưng do ảnh hưởng quá lớn đến kinh tế toàn tỉnh nói riêng và cả nước nói chung nên thương mại, dịch vụ trong tỉnh 6 tháng đầu năm vẫn giảm 11,39% so cùng kỳ. Vì vậy, tiếp tục trong thời gian tới tùy theo tình hình thực tế lãnh đạo các cấp cần xem xét có những chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp hợp lý nhất giúp doanh nghiệp duy trì ổn định hoạt động kinh doanh, thúc đẩy phát triển sản xuất và xuất khẩu. Qua đó, giúp cho doanh nghiệp giải quyết được việc làm cho người lao động, góp phần an sinh xã hội cho tỉnh nhà và hoàn thành kế hoạch đề ra trong những tháng cuối năm.

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Hiện nay, tình hình dịch bệnh COVID-19 trong nước nói chung và trên thế giới nói riêng trong những ngày đầu tháng 5 đã dần đi vào ổn định, số trường hợp lây nhiễm và tử vong có dấu hiệu hạ nhiệt ở các thị trường có giá trị xuất khẩu lớn của các doanh nghiệp Việt Nam. Do đó, dự đoán trong tháng 5, Chính phủ các nước sẽ dần dần nới lỏng các biện pháp hạn chế xã hội và từ từ mở cửa lại nền kinh tế, khi đó các thị trường nhập khẩu này có thể sẽ gia tăng sản lượng nhập khẩu các mặt hàng nông, lâm, thủy sản và một số mặt hàng thiết yếu khác để phục nhu cầu đời sống cho người dân. Mặt khác, các doanh nghiệp có thể sẽ tăng cường nhập khẩu dự trữ các loại nguyên liệu cần thiết để đảm bảo cho hoạt động sản xuất của nhà máy được liên tục trong thời điểm bị đại dịch toàn cầu như hiện nay, hạn chế rủi ro, không để xảy ra tình trạng ngưng trệ sản xuất. Vì vậy, dự báo trong tháng 5 giá trị xuất, nhập khẩu hàng hóa có thể sẽ tăng so với tháng trước.

Ước thực hiện tháng 5, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp được 70,859 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 100,39% và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,81%. Chia ra: Xuất khẩu được 45,398 triệu USD, so với tháng trước bằng 102,51% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,49%; Nhập khẩu ước thực hiện được 25,461 triệu USD, so với tháng trước bằng 96,81% và so với cùng kỳ năm trước bằng 85,24%.

Ước thực hiện 5 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 356,362 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 104,56% và so với kế hoạch năm đạt 34,13%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 217,571 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 111,71% và so với kế hoạch năm đạt 30,82%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 115,150 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 94,86% và so với kế hoạch năm đạt 42,03%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 1,051 triệu USD, tăng cao so với cùng kỳ năm trước bằng 229,98% và so với kế hoạch năm đạt 105,10%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 22,590 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 93,34% và so với kế hoạch năm đạt 35,86%.

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2020, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 427,660 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 101,62% và so với kế hoạch năm đạt 40,96%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 263,244 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 112,09% và so với kế hoạch năm đạt 37,29%. Nguyên nhân tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do Công ty TNHH Lạc Tỷ II sản xuất giày thể thao xuất khẩu trên địa bàn đã hoàn thành mở rộng phân xưởng mới, tuyển thêm công nhân để tăng công suất sản xuất cho doanh nghiệp đảm bảo hoàn thành được các hợp đồng đã ký kết. Vì vậy, mặc dù chịu ảnh hưởng của dịch bệnh nhưng doanh nghiệp vẫn có giá trị xuất khẩu tăng so với cùng kỳ.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 136,236 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 86,96% và so với kế hoạch năm đạt 49,72%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 1,266 triệu USD, tăng cao so với cùng kỳ năm trước bằng 251,19% và so với kế hoạch năm đạt 126,60%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 26,914 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 93,42% và so với kế hoạch năm đạt 42,72%.

         Nhìn chung trong 6 tháng đầu năm 2020, mặc dù do ảnh hưởng của dịch CoVID-19, giá trị xuất khẩu hiện vẫn có mức tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước. Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu không có sự thay đổi nhiều, mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn là nhóm hàng thủy hải sản chế biến các loại (chiếm tỷ trọng 34,50% tổng giá trị xuất khẩu chung), giày thể thao (chiếm 41,37%), giấy thành phẩm các loại (chiếm 11,35%) và một số nhóm hàng hóa xuất khẩu khác còn lại (chiếm 12,78%). Hiện nay, mặt hàng xuất khẩu giày dép của công ty Lạc Tỷ II đã trở thành nhóm hàng có tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất trên địa bàn thay thế vị trí của nhóm hàng thủy sản.

Đối với thị trường xuất khẩu trong những tháng đầu năm có sự sụt giảm về số lượng, nếu như 6 tháng đầu năm 2019 xuất sang 79 thị trường các nước và vùng lãnh thổ thì đến năm 2020 chỉ xuất sang 73 thị trường, giảm 6 thị trường so với năm trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng từ đại dịch COVID-19 chính phủ các nước tiến hành phong tỏa đóng cửa nền kinh tế để ngăn chặn sự lay lan của dịch bệnh khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc ký kết các hợp đồng xuất khẩu đi các nước và tìm kiếm thị trường mới. Về cơ cấu thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp không có sự thay đổi nhiều, các thị trường xuất khẩu lớn vẫn nằm ở các khu vực của Châu Âu, Châu Mỹ (trong đó khu vực Bắc Mỹ là chủ yếu), Châu Á (khu vực Đông Á và Đông Nam Á chiếm giá trị lớn nhất) và một số khu vực khác. Giá trị xuất khẩu của các khu vực này có sự tăng giảm lẫn nhau so với cùng kỳ năm trước nhưng nhìn chung mức tăng vẫn chiếm ưu thế nhiều hơn. Cụ thể, giá trị xuất khẩu của các khu vực trên có sự tăng trưởng lần lượt so với cùng kỳ năm trước là: khu vực Châu Âu bằng 69,40% (chiếm tỷ trọng 19,85% tổng giá trị xuất khẩu chung), Châu Mỹ bằng 132,27% (chiếm 26,58%), Châu Á bằng 89,71% (chiếm tỷ trọng 37,69%) và một số khu vực khác bằng 96,72% (chiếm tỷ trọng 15,88%).

Mặc dù có sự tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước nhưng giá trị xuất khẩu hàng hóa so với kế hoạch đề ra hiện nay vẫn đạt thấp, tính đến 6 tháng đầu năm 2020, ước tính kim ngạch xuất khẩu đạt 37,29%. Do đó, để đảm bảo hoàn thành tốt kế hoạch đề ra trong năm, các ngành hữu quan và các doanh nghiệp cần liên kết chặt chẽ với nhau để tìm hướng đi và đầu ra ổn định cho các sản phẩm xuất khẩu trong tình hình đại dịch COVID-19 như hiện nay, không ngừng đổi mới đầu tư, phương hướng kinh doanh nhằm tạo ra những hướng đi đột phá, bền vững, biến nguy thành cơ giúp ngày càng nâng cao giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu chung trên địa bàn, tiến tới hoàn thành vượt kế hoạch đề ra.

5.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Ước tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện trong tháng 5 được 81,579 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 91,13%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 27,891 tỷ đồng, bằng 76,66% so với cùng kỳ năm trước; đường thủy thực hiện được 30,123 tỷ đồng bằng 74,66% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 23,564 tỷ đồng bằng 184,33% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện 5 tháng được 426,368 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 96,48%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 148,144 tỷ đồng bằng 82,02% so với cùng kỳ năm trước; đường thủy thực hiện được 164,795 tỷ đồng bằng 84,69% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 113,430 tỷ đồng, bằng 170,38% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện 6 tháng được 513,506 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 95,55%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 178,861 tỷ đồng bằng 83,71% so với cùng kỳ năm trước; đường thủy thực hiện được 196,296 tỷ đồng bằng 83,42% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 138,349 tỷ đồng, bằng 156,43% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 6 tháng đầu năm 2020, tình hình hoạt động vận tải trên địa bàn có sự sụt giảm. Nguyên nhân là do ảnh hưởng nhiều của đại dịch COVID-19, ngành vận tải đã chịu ảnh hưởng nhiều từ Chỉ thị số 15/CT-TTg về việc quyết liệt thực hiện đợt cao điểm phòng, chống dịch COVID-19, tiếp theo đó Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 chỉ đạo thực hiện giãn cách xã hội để phòng chống dịch, do đó hầu hết các cơ sở hoạt động vận tải trên địa bàn đều tạm ngưng hoạt động, chỉ riêng các loại hình dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải vẫn hoạt động nhằm giúp lưu giữ hàng hóa của các doanh nghiệp đặc biệt là những doanh nghiệp lớn trong các khu cụm công nghiệp có dự trữ nguồn hàng hóa, nguyên liệu và các sản phẩm tồn kho không bán được trong mùa dịch, do đó chỉ riêng hoạt động kho bãi vận tải có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước ở mức 56,43% trong toàn ngành.

Nhìn chung, hoạt động chung của ngành vận tải trên địa bàn trong 6 tháng đầu năm chịu ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 có sự tăng giảm khác nhau giữa các loại hình vận chuyển, mặc dù có chỉ tiêu có mức tăng trưởng cao, nhưng chỉ chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong toàn ngành nên vẫn không thể bù đắp nổi mức sụt giảm của các chỉ tiêu loại hình vận chuyển khác còn lại. Vì vậy, giá trị hoạt động vận tải chung toàn ngành bị giảm nhẹ so với cùng kỳ.

5.3.1 Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Ước thực hiện tháng 5, toàn tỉnh vận chuyển được 556,38 nghìn tấn hàng hóa các loại (40,39 triệu tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 115,25% (137,15%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 82,94% (87,39%). Chia ra:

+ Đường bộ thực hiện được 135,78 nghìn tấn (8,13 triệu tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 119,56% (138,90%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 100,31% (122,61%).

 + Đường sông thực hiện được 420,60 nghìn tấn (32,26 triệu tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 113,92% (136,72%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 78,55% (81,49%).

Ước thực hiện 5 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 2.959,04 nghìn tấn hàng hóa các loại (204,51 triệu tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 96,73% (103,86%). Chia ra:

+ Đường bộ thực hiện được 717,71 nghìn tấn (38,122 triệu tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 104,55% (104,70%).

 + Đường sông thực hiện được 2.241,32 nghìn tấn (166,39 triệu tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 94,47% (103,66%).

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh vận chuyển được 3.545,03 nghìn tấn hàng hóa các loại (246,82 triệu tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 95,41% (99,17%). Chia ra:

+ Đường bộ thực hiện được 858,59 nghìn tấn (46,66 triệu tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 102,54% (105,04%).

+ Đường sông thực hiện được 2.686,44 nghìn tấn (200,16 triệu tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 93,33% (97,89%).

5.3.2 Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Ước thực hiện tháng 5, toàn tỉnh thực hiện được 4.569,96 nghìn lượt hành khách (33,07 triệu HK.km), so với tháng trước bằng 132,42% (195,07%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 73,82% (67,48%). Chia ra:

+ Đường bộ vận chuyển được 2.677,64 nghìn lượt hành khách (21,93 triệu  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 125,39% (210,28%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 64,50% (60,01%).

 + Đường sông vận chuyển được 1.892,32 nghìn lượt hành khách (11,14 triệu HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 143,84% (170,75%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,77% (89,46%).

Ước thực hiện 5 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 33.823,52 nghìn lượt hành khách (192,24 triệu HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 76,30% (75,59%). Chia ra:

+ Đường bộ thực hiện được 23.280,27 nghìn lượt hành khách (132,90 triệu HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 71,65% (72,29%).

 + Đường sông thực hiện được 10.543,25 nghìn lượt hành khách (59,34 triệu HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 89,05% (84,21%).

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2020, toàn tỉnh vận chuyển được 38.827,98 nghìn lượt hành khách (228,49 triệu HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 78,11% (75,24%). Chia ra:

+ Đường bộ thực hiện được 26.262,63 nghìn lượt hành khách (157,56 triệu HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 73,16% (71,16%).

 + Đường sông thực hiện được 12.565,34 nghìn lượt hành khách (70,93 triệu HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 90,99% (86,21%).

6. Các vấn đề về xã hội

6.1. Giáo dục

Thực hiện Chỉ thị 680/CT-UBND ngày 24/4/2020 của Ủy ban Nhân dân tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh trước khi đón học sinh, sinh viên trở lại nhập học. Đối với học sinh từ lớp 9 đến lớp 12, nhập học từ ngày 27/4/2020, học sinh mầm non đến lớp 8, đi học trở lại từ ngày 04/5/2020, sinh viên các trường có thể đi học trở lại từ ngày 04/5/2020 tùy theo quy định riêng của các trường.

Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo tập trung vào hoạt động chuyên môn của các ngành học, cấp học như sau:

- Giáo dục mầm non: Khảo sát các trường đăng ký kiểm định chất lượng giáo dục và chuẩn quốc gia; hướng dẫn các đơn vị về phòng chống dịch COVID-19 khi trẻ tập trung.

- Giáo dục tiểu học: Chỉ đạo các đơn vị lựa chọn sách giáo khoa lớp 1 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối với các môn học được Bộ GD&ĐT phê duyệt ban hành. Hướng dẫn các trường tiểu học có giải pháp ôn tập, củng cố kiến thức cũng như có các hình thức học tập phù hợp trong tình hình phòng chống dịch bệnh COVID-19; hướng dẫn các trường tổ chức kiểm tra cuối kỳ II năm học 2019-2020.

- Giáo dục trung học - giáo dục chuyên nghiệp: Tiếp tục hướng dẫn các trường chuẩn bị kế hoạch tuyển sinh lớp 10 trung học phổ thông và lớp 10 trung học phổ thông chuyên năm học 2020-2021. Chỉ đạo các trường trung học, trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá sau khi tinh giảm chương trình; hướng dẫn tổ chức thi kiểm tra học kỳ II tại các đơn vị. Tổ chức Kỳ thi Nghề phổ thông Khóa tháng 5/2020 dành cho học sinh trung học phổ thông, trung học cơ sở và học viên hệ thường xuyên.

6.2. Tình hình văn hóa, thể thao

Trong tháng, Ngành Văn hóa, Thể thao và du lịch tập trung tuyên truyền: Kỷ niệm 45 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2020), 134 năm Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886 - 1/5/2020), 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2020), chào mừng Đại hội Đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Toàn hệ thống tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền cổ động với 4.350 cờ các loại, 255 băng rol, 2.350m2 pano. Các Đội Tuyên truyền lưu động trong tỉnh xây dựng kịch bản, chương trình nghệ thuật quần chúng tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; đặc biệt, là Đại hội đại biểu Đảng bộ điểm cấp huyện tại thành phố Ngã Bảy; thị xã Long Mỹ và Công an tỉnh. Các xe tuyên truyền lưu động tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền các ngày kỷ niệm lớn của đất nước; tuyên truyền phòng, chống dịch COVID-19; tuyên truyền tháng an toàn vệ sinh thực phẩm năm 2020 với 124 buổi phóng thanh.

Về hoạt động thư viện: Thực hiện mô hình “Gửi trao tri thức” nhằm hưởng ứng Ngày sách Việt Nam (21/4) và Ngày Sách và Bản quyền thế giới (23/4).Trưng bày sách (3 lần), bao gồm: Sách kỷ niệm ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ 7/5; Sách chuyên đề “Cuộc đời và sự nghiệp của Bác” Sách mới các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… và trưng bày thường xuyên Sách chuyên đề về Cải cách hành chính, Tủ sách Bác Hồ. Trong tháng, hệ thống Thư viện tỉnh và huyện, thị xã, thành phố đã phục vụ 56.258 lượt người; cấp 260 thẻ bạn đọc.

Về hoạt động bảo tồn - bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa: Khảo sát thực tế địa điểm xây dựng Nhà tưởng niệm cố Luật sư Nguyễn Hữu Thọ. Điểm tại ấp 6, xã Vĩnh Viễn A, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Khách đến xem triển lãm và tham quan các di tích, nhà truyền thống huyện, phòng truyền thống các xã văn hóa đạt 790 lượt người.

Về sự nghiệp thể dục thể thao: Khảo sát lộ trình chạy 4 cự ly giải Marathon quốc tế “Mekong Delta Marathon” tỉnh Hậu Giang năm 2020. Sắp xếp cho vận động viên tập luyện tại nhà theo giáo án của Huấn luyện viên.

6.3. Lao động và an sinh xã hội

Trong tháng, Sở Lao động, Thương binh và xã hội đã thiết lập số điện thoại đường dây nóng, nhằm kịp thời giải đáp những vướng mắc, kiến nghị về các chính sách hỗ trợ của người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19. Bên cạnh đó, Sở cũng đã tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi đến người dân và doanh nghiệp về các chính sách hỗ trợ này thông qua Báo Hậu Giang, Đài Phát thanh - Truyền hình Hậu Giang và cập nhật vào Trang Thông tin điện tử của Sở.

Dự kiến tổng số đối tượng được hỗ trợ là: 125.202 người, tổng kinh phí thực hiện là 173.127 triệu đồng.

- Đối với người có công với cách mạng và đối tượng bảo trợ xã hội: Từ ngày 29/4/2020, đồng loạt các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đã tổ chức cấp tiền hỗ trợ cho người có công với cách mạng và đối tượng bảo trợ xã hội. Đến nay, Hậu Giang đã cơ bản hoàn thành việc chi trả hỗ trợ cho tổng cộng 30.587 người đủ điều kiện hưởng, sau khi chống trùng, loại trừ, với tổng kinh phí thực hiện là 45.880,5 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 98,04%. Trong đó: có 5.314 người có công với cách mạng (bao gồm cả thân nhân người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng, thương binh đang hưởng chế độ mất sức lao động lao động hàng tháng) và 25.273 đối tượng bảo trợ xã hội trong danh sách trợ cấp tháng 4/2020. Việc chi hỗ trợ cho các đối tượng đảm bảo kịp thời, công khai, minh bạch, đối tượng hỗ trợ thuộc diện được hưởng từ hai chính sách trở lên thì chỉ được hưởng một chế độ hỗ trợ cao nhất.

- Đối với người thuộc hộ nghèo và cận nghèo: Đến ngày 15/5/2020, Ngành đã trình Ủy ban Nhân dân tỉnh phê duyệt danh sách, kinh phí hỗ trợ người thuộc hộ nghèo, cận nghèo gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 trên địa bàn 07 đơn vị: Châu Thành, Châu Thành A, Vị Thủy, Long Mỹ, thị xã Long Mỹ, thị xã Ngã Bảy và thành phố Vị Thanh. Theo đó, tại các địa phương này có 41.012 người thuộc hộ nghèo, cận nghèo cần hỗ trợ với kinh phí 30.759 triệu đồng (Ủy ban Nhân dân tỉnh đã phê duyệt 06/07 đơn vị).

Trong tháng, giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 890 lao động, đạt 38,8% kế hoạch năm. Ban hành Quyết định giải quyết chế độ Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định cho 741 người với số tiền 8.222,352 triệu đồng.

Về lĩnh vực tư vấn, giới thiệu việc làm: Tư vấn việc làm cho 1.896 lao động; có 461 lao động đăng ký tìm việc làm; giới thiệu việc làm cho 289 lao động.

Về lĩnh vực hỗ trợ tuyển dụng lao động cho doanh nghiệp: đã hỗ trợ tuyển dụng 920 lao động cho 24 doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh.

Tham mưu phê duyệt 34 lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn lĩnh vực phi nông nghiệp với 850 học viên.

Về lĩnh vực người có công với cách mạng: Tiếp nhận mới 64 hồ sơ các loại. Đã xét giải quyết 99 hồ sơ. Trong đó, đạt 72 hồ sơ; không đạt 27 hồ sơ. Còn lại 26 hồ sơ đang tiếp tục xem xét, giải quyết. Giới thiệu 22 trường hợp người có công với cách mạng ra Hội đồng Giám định y khoa tỉnh khám giám định tỷ lệ bị nhiễm chất độc hóa học và vết thương còn sót. Tổ chức Lễ viếng nghĩa trang liệt sĩ tỉnh nhân kỷ niệm 45 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2020). 

Về lĩnh vực Bảo trợ xã hội – Giảm nghèo: Thực hiện trợ cấp hàng tháng cho 31.648 đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 11.767,005 triệu đồng. Hỗ trợ mai táng phí cho 178 trường hợp với số tiền 961,2 triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho 02 trường hợp với số tiền 15,4 triệu đồng.

Về công tác quản lý đối tượng: tổng số người nghiện ma túy trên địa bàn toàn tỉnh tại thời điểm báo cáo là 1.352 người; số người nghiện đang có mặt tại cơ sở cai nghiện là 170 người.

6.4. Y tế

Trong tháng, theo báo cáo của Sở Y tế có 11 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, giảm 01 ca so với tháng trước, cộng dồn là 74 ca, giảm 30 ca so với cùng kỳ; bệnh tay chân miệng có 07 ca mắc mới, tương đương tháng trước, cộng dồn là 77 ca, giảm 60 ca so với cùng kỳ; bệnh sởi, bệnh viêm gan do vi rút, bệnh quai bị trong tháng không ghi nhận ca mắc mới; bệnh dịch lạ như EBOLI, H5N1, MERS-CoV, Zika và các bệnh truyền nhiễm khác chưa ghi nhận ca mắc trên địa bàn tỉnh.

Về dịch COVID-19: Hiện tại tỉnh Hậu Giang chưa có phát hiện ca bệnh, công tác tuyên truyền luôn được thực hiện, các Sở, ban, ngành đã cấp 476.186 tờ rơi các loại về phòng, chống dịch bệnh; 4.831 áp phích; 100 bản nội quy cho đối tượng thực hiện cách ly; 100 đĩa thông điệp phát thanh; 100 đĩa thông điệp truyền hình và nhiều hình thức khác. Đến ngày 08/5/2020 tổng số người nước ngoài và người Việt Nam từ nước ngoài trở về đang theo dõi, cách ly tại Hậu Giang là: 5.140 trường hợp, Trong đó:

- Đủ thời gian theo dõi, cách ly 14 ngày là: 5.138 trường hợp

- Cách ly tập trung: 02 trường hợp.

- Theo dõi sức khỏe tại nhà, nơi cư trú: 00 trường hợp

Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 1.569 trẻ, cộng dồn là 4.372 trẻ, đạt 38,56%; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 1.548 trẻ, cộng dồn là 4.276 trẻ, đạt 37,57%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 906 thai phụ, cộng dồn là 3.520, đạt 31,05%. Số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng là 12 ca, cộng dồn là 28 ca (tăng 01 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.774 ca (còn sống 1.186 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng là 01 ca, cộng dồn là 04 ca (giảm 04 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.026 ca; số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 00 ca, cộng dồn là 03 ca (tăng 01 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 588 ca. Trong tháng khám và cấp thuốc cho 493 lượt bệnh nhân. Số người hiện đang điều trị Methadone là 56 người, tổng số bệnh nhân điều trị ARV là 790 người.

Về công tác Bảo hiểm y tế: Tính đến ngày 30/4/2020 đã có 84,85% dân số trên địa bàn tỉnh tham gia BHYT.

Trong tháng, Sở Y tế đã triển khai thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh, tình hình dịch bệnh trong tỉnh vẫn nằm trong tầm kiểm soát, dịch bệnh mới không xuất hiện, không có dịch lớn xảy ra. Bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng giảm so với cùng kỳ, Hậu Giang là địa phương có số ca mắc mới thấp nhất trong 20 tỉnh thành phía Nam. Tham mưu Ban Chỉ đạo tỉnh triển khai các giải pháp phòng, chống dịch bệnh COVID-19, phối hợp với các đơn vị có liên quan triển khai tốt công tác quản lý và cách ly người nước ngoài về địa bàn tỉnh (có liên quan đến dịch bệnh). Tuyên truyền, vận động người dân thực hiện tốt các Chị thị của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch bệnh COVID-19, đến thời điểm hiện tại không ghi nhận trường hợp nào nhiễm COVID-19 trên địa bàn tỉnh.

Công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm được tăng cường với nhiều biện pháp quyết liệt nên không xảy ra trường hợp ngộ độc thực phẩm trên địa bàn tỉnh (không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm trên 30 người/vụ).

6.5. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 5, trên địa bàn tỉnh xảy ra 06 vụ tai nạn giao thông, làm chết 05 người và làm bị thương 01 người. So với tháng trước, tăng 02 vụ tai nạn, số người chết tăng 01 người và số người bị thương là tương đương, tất cả đều tập trung ở đường bộ (đường thủy không xảy ra tai nạn giao thông). So với cùng kỳ năm trước, giảm 01 vụ, số người chết giảm 01 người và số người bị thương giảm 01 người, tất cả tập trung ở đường bộ.

Trong 5 tháng đầu năm 2020, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra tổng cộng 21 vụ tai nạn giao thông, làm chết 17 người và làm bị thương 05 người, tất cả tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước giảm 22 vụ (đường bộ giảm 21 vụ, đường thủy giảm 01 vụ, số người chết giảm 22 người (đường bộ giảm 21 người, đường thủy giảm 01 người) và số người bị thương giảm 04 người (tập trung ở đường bộ).

6.6. Tình hình môi trường, thiên tai và phòng, chống cháy, nổ

Ngành chức năng tiếp tục giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các cơ sở có thông tin phản ánh để kịp thời xử lý theo quy định. Tính đến tháng 5, ngành chức năng đã phát hiện và xử lý 13 vụ vi phạm môi trường, với số tiền xử phạt là 61 triệu đồng.

Về tình hình hạn mặn: Công tác phòng chống hạn mặn trên địa bàn tỉnh luôn được theo dõi sát sao, phân công cán bộ Trạm Thủy lợi thường xuyên theo dõi tình hình xâm nhập mặn ở huyện Long Mỹ, Phụng Hiệp, Châu Thành, thị xã Long Mỹ và thành phố Vị Thanh mỗi ngày một lần để kịp thời thông báo đến người dân. Tình hình xâm nhập mặn tại huyện Châu Thành trên sông Cái Côn với nồng độ là 0,2‰ (ngày 14/5/2020); tại thành phố Ngã Bảy trên kênh Mang Cá nồng đồ cao nhất đo được là 0,2 ‰ (ngày 08/5/2020); thành phố Vị Thanh với nồng đồ cao nhất đo được là 3,3 ‰ (ngày 08/5/2020) tại cống kênh Lầu xã Hỏa Tiến; tại đầu kênh 10 Thước của huyện Long Mỹ độ mặn đo được cao nhất là 2,1‰ (ngày 12/5/2020), tại Ủy ban nhân dân xã Lương Nghĩa độ mặn 10,2‰ (ngày 09/5/2020).

Về tình hình sạt lở và dông lốc: Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 12 điểm sạt lở (cụ thể là ở huyện Châu Thành). Chiều dài sạt lở là 257 m, diện tích mất đất 1.031 m2. Ước tổng thiệt hại khoảng 677 triệu đồng; dông lốc làm sập 02 căn nhà, ước thiệt hại khoảng 23,3 triệu đồng. Tổng thiệt hại đến nay khoảng 700,3 triệu đồng.

Về công tác phòng, chống cháy, nổ luôn được các ngành chức năng quan tâm thực hiện, định kỳ có kiểm tra, hướng dẫn người dân, các cơ sở kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy. Mặc dù được quan tâm thực hiện tốt nhưng tính từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 4 vụ cháy, may mắn không thiệt hại về người, ước tổng tài sản thiệt hại khoảng 807 triệu đồng./.