Tháng 6
10:32 30/06/2020

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang tháng 6 và 6 tháng năm 2020

 

Trong 6 tháng đầu năm 2020, kinh tế thế giới chịu tác động lớn của dịch bệnh Covid-19, các nước phải tập trung tất cả các nguồn lực để chống dịch, đã làm cho tình hình kinh tế giảm sút so với những năm trước. Kinh tế trong nước nói chung, tỉnh Hậu Giang nói riêng, ngoài chịu sự ảnh hưởng của dịch bệnh, tỉnh còn bị ảnh hưởng bởi hạn mặn xâm nhập. Mặc dù, tỉnh đã kiểm soát được dịch bệnh, không để  xảy ra trường hợp mắc bệnh trên địa bàn, nhưng do thực hiện các biện pháp phòng chống theo quy định đã làm cho tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh giảm đáng kể so với năm trước. Nhưng được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân (UBND) tỉnh, cùng sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp (DN) và Nhân dân đã làm cho tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh có sự chuyển biến tích cực, dần dần phục hồi và đi vào ổn định. Cụ thể, kết quả hoạt động từng ngành, từng lĩnh vực như sau:

1. Tài chính, tín dụng

1.1. Tài chính

Tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2020 được 5.847,42 tỷ đồng, đạt 75,96% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng Nhân dân tỉnh, tăng 7,70% so với cùng kỳ. Tổng thu ngân sách địa phương được 5.471,95 tỷ đồng, đạt 79,68% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng Nhân dân tỉnh, tăng 6,97% so với cùng kỳ. Nếu loại trừ thu chuyển nguồn năm 2019 sang năm 2020 ngoài dự toán đầu năm là 1.849,95 tỷ đồng thì tổng thu ngân sách địa phương còn lại là 3.622 tỷ đồng, đạt 52,74% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng Nhân dân tỉnh, trong đó:

- Thu nội địa được 1.625 tỷ đồng, đạt 50,14% dự toán Hội đồng Nhân dân tỉnh, giảm 0,97% so với cùng kỳ.

- Thu trợ cấp từ ngân sách Trung ương được 2.092,19 tỷ đồng, đạt 51,57% dự toán Hội đồng Nhân dân tỉnh, tăng 15,72% so với cùng kỳ.

- Thu từ hoạt động xuất nhập khẩu được 209,21 tỷ đồng, đạt 52,30% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng Nhân dân tỉnh.

- Thu chuyển nguồn từ năm 2019 sang năm 2020 được 1.849,95 tỷ đồng.

- Các khoản thu ngoài dự toán Hội đồng Nhân dân tỉnh như: Thu huy động đóng góp được 0,40 tỷ đồng; thu từ Quỹ dự trữ tài chính được 68,52 tỷ đồng; thu từ cấp dưới nộp lên được 2,16 tỷ đồng.

Tổng chi ngân sách địa phương được 3.998,49 tỷ đồng, đạt 58,35% dự toán Trung ương và Hội đồng Nhân dân tỉnh, tăng 7,88% so với cùng kỳ, trong đó:

- Chi đầu tư phát triển được 1.770,93 tỷ đồng, đạt 69,02% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng Nhân dân tỉnh, tăng 1,59% so với cùng kỳ.

- Chi thường xuyên được 2.102,89 tỷ đồng, đạt 50,37% dự toán Trung ương và Hội đồng Nhân dân tỉnh, tăng 8,93% so với cùng kỳ.

- Chi dự phòng được 55,16 tỷ đồng, đạt 50,80% dự toán Trung ương và Hội đồng Nhân dân tỉnh.

- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính được 1 tỷ đồng, đạt 100% Trung ương và Hội đồng Nhân dân tỉnh.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 31 tháng 5, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 14.718 tỷ đồng, tăng trưởng 1,31% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 2,31% so với cuối năm 2019. Vốn huy động đáp ứng được 62,99% cho hoạt động tín dụng. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước huy động được 9.499 tỷ đồng (chiếm 64,54%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 4.661 tỷ đồng (chiếm 31,67%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 517 tỷ đồng (chiếm 3,51%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 41 tỷ đồng (chiếm 0,28%). Hiện, lãi suất không kỳ hạn đến dưới 1 tháng phổ biến từ 0,1-0,2%/năm; lãi suất từ 01 tháng đến dưới 06 tháng từ mức 4,0-4,25%/năm; lãi suất từ 06 tháng đến dưới 12 tháng từ 4,9-5,1%; lãi suất từ 12 tháng trở lên từ 6,0-6,5%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 6/2020, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn được 14.974 tỷ đồng, tăng trưởng 1,74% so với cuối tháng 5/2020, tương ứng tăng trưởng 4,09% so với cuối năm 2019.

Đến ngày 31 tháng 5, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn được 23.365 tỷ đồng, giảm 0,2% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng giảm 0,11% so với cuối năm 2019. Trong tổng dư nợ thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước được 16.296 tỷ đồng (chiếm 69,75%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 4.565 tỷ đồng (chiếm 19,53%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 2.460 tỷ đồng (chiếm 10,53%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 44 tỷ đồng (chiếm 0,19%). Đến thời điểm hiện nay, lãi suất cho vay luôn được giữ ở mức ổn định, đối với các lĩnh vực ưu tiên lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam phổ biến là 5,0%/năm; cho vay trung, dài hạn ở mức 10 -11%/năm; các lĩnh vực khác lãi suất cho vay ngắn hạn từ 9,0 – 9,5%/năm; trung, dài hạn từ 10,5 - 13%. Ước thực hiện đến cuối tháng 6, dư nợ đạt 23.564 tỷ đồng, tăng trưởng 0,85% so với cuối tháng 5/2020, tương ứng tăng trưởng 0,74% so với cuối năm 2019.

Nợ quá hạn đến ngày 31 tháng 5 là 703 tỷ đồng, chiếm 3,01% trên tổng dư nợ; nợ xấu là 415 tỷ đồng, chiếm 1,77% trên tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 288 tỷ đồng, chiếm 40,96% trên tổng nợ quá hạn. Dự báo đến cuối tháng 6, nợ xấu toàn địa bàn vẫn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.

2. Vốn đầu tư và xây dựng

2.1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16 tháng 6, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2020 là 20.357,49 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.188,49 tỷ đồng.

- Vốn vay: 37 tỷ đồng.

- Vốn tự có của DN nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 2.150 tỷ đồng.         

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các DN ngoài nhà nước là: 15.982 tỷ đồng.

Trong năm 2020, với quyết tâm hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư phát triển trên địa bàn, UBND tỉnh đã triển khai đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp và thực hiện kế hoạch xúc tiến đầu tư năm 2020, nhằm tăng cường giới thiệu, quảng bá tiềm năng, thế mạnh và các chính sách ưu đãi đầu tư vào khu, cụm công nghiệp tập trung, đất quy hoạch trên địa bàn tỉnh để hoàn thành chỉ tiêu thu hút đầu tư đạt kế hoạch. Kết quả, đến đầu tháng 6 năm 2020, các Khu công nghiệp và Cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh Hậu Giang đã thu hút được 55 dự án đầu tư, gồm 53 nhà đầu tư sản xuất kinh doanh và 02 nhà đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng, với tổng số vốn đăng ký đầu tư là 73.007,40 tỷ đồng và 448,4 triệu USD, với quy mô diện tích đăng ký khoảng 771,8 ha, trong đó đã giao mặt bằng được 499,7 ha.

        Ước tính tháng 6, vốn đầu tư thực hiện được 1.830,81 tỷ đồng, bằng 101,41% so với cùng kỳ năm trước và bằng 109,52% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư thực hiện tăng so với tháng trước là do:

- Tình hình dịch Covid-19 trên cả nước đã được kiểm soát tốt, hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh cơ bản trở lại trạng thái bình thường. Các dự án, công trình đang được tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện; được sự quan tâm của Tỉnh ủy và UBND tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh trong việc chỉ đạo Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh tiếp tục vận động các hộ dân nhận tiền và bàn giao mặt bằng cho một số DN tại các dự án bức xúc như: Thanh Khôi, Lạc Tỷ II, Đường số 1 và một phần đường số 6 đặc biệt là dự án Thép Sunpro, Nhà máy Xi măng Cần Thơ – Hậu Giang.

- Những dự án khởi công mới, được khẩn trương triển khai thực hiện, phối hợp các bên liên quan đẩy nhanh tiến độ đền bù, giải phóng mặt bằng, công tác đấu thầu; kiên quyết xử lý nghiêm và kịp thời các nhà thầu vi phạm tiến độ xây dựng, chất lượng công trình, vi phạm các điều khoản hợp đồng đã ký kết; chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để đẩy nhanh tiến độ thi công công trình.

- Thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2020 được triển khai nhanh ở các huyện/thị xã/thành phố.

Ước tính 6 tháng đầu năm 2020, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 10.065,35 tỷ đồng, bằng 106,22% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 49,44% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.030,82 tỷ đồng, bằng 114,46% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 47,10% so với kế hoạch năm. 

- Vốn tự có của DN nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện được 1.068,65 tỷ đồng, bằng 143,85% so với cùng kỳ năm trước và đạt 49,70% so với kế hoạch năm.           

 - Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các DN ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 7.965,88 tỷ đồng, bằng 101,70% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 49,84% so với kế hoạch năm.

Để thực hiện hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư Xây dựng cơ bản (XDCB) năm 2020 của tỉnh Hậu Giang, cần thực một số giải pháp như sau:

Một là, các sở, ngành cần kiểm tra, đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình XDCB, mà đặc biệt là các công trình trọng điểm trên địa bàn; đồng thời gắn với việc giám sát, kiểm tra chất lượng công trình, nhanh chóng hoàn thành các công trình XDCB đang tồn đọng, nhất là các công trình dự án trọng điểm đã bố trí vốn (giao thông, nông nghiệp, y tế, giáo dục, v.v…)

Hai là, tập trung hoàn thành các công trình khánh thành và khởi công theo đúng tiến độ.    

Ba là, đẩy nhanh tiến độ lập thủ tục XDCB đối với các công trình dự án đã được bố trí vốn, nhanh chóng làm thủ tục quyết toán các công trình đã hoàn thành.

Bốn là, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban ngành cấp tỉnh và các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề vướng mắc trong đầu tư XDCB.

2.2. Xây dựng

Ước tính quý II/2020, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 1.826,66 tỷ đồng, so với quý trước bằng 112,28% và so với cùng kỳ năm trước (1.747,55 tỷ đồng) bằng 104,53%. Trong đó, loại hình DN ngoài nhà nước thực hiện được 845,49 tỷ đồng, so với quý trước bằng 121,68% và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,15%; loại hình khác gồm xã, phường, thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 981,17 tỷ đồng, so với quý trước bằng 105,27% và so với cùng kỳ năm trước bằng 106,67%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình ước thực hiện trong quý II/2020 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 1.029,14 tỷ đồng, so với quý trước bằng 106,96% và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,75%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 466,28 tỷ đồng, so với quý trước bằng 117,48% và so với cùng kỳ năm bằng 102,50%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 280,12 tỷ đồng, so với quý trước bằng 122,60% và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,51%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 51,12 triệu đồng, so với quý trước bằng 130,41% và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,77%.

Tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành 6 tháng đầu năm 2020 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang thực hiện được 3.453,54 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (3.218,77 tỷ đồng) bằng 107,29%. Trong đó, loại hình DN ngoài nhà nước thực hiện được 1.540,36 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 105,19%; loại hình khác gồm xã, phường, thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 1.913,18 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 109,05%. Giá trị ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện 6 tháng đầu năm 2020 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 1.991,44 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (1.932,18 tỷ đồng) bằng 103,07%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 863,18 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (656,55 tỷ đồng) bằng 131,47%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 508,61 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (528,63 tỷ đồng) bằng 96,21%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 90,31 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (101,412 tỷ đồng) bằng 89,06%.

Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng thực hiện 6 tháng đầu năm 2020 tăng so với cùng kỳ năm trước là do hiện nay giá cả nhóm hàng vật liệu xây dựng, chi phí máy thi công và chi phí nhân công tăng cao; một số công trình cơ bản đã hoàn thành đưa vào sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư và nhà thầu góp phần làm tăng giá trị sản xuất; tiếp tục thực hiện Nghị quyết 11 của Chính phủ, thắt chặt tiết kiệm chi tiêu, kiềm chế lạm phát, chống lãng phí.

Đến nay, tình hình xây dựng trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở dân dụng và đường giao thông. Riêng các công trình trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước có quy mô lớn thì hầu hết đều do các DN ngoài tỉnh thi công. Do vậy, đề nghị Lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, để các DN xây dựng trong tỉnh được thi công nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành xây dựng của tỉnh tăng cao.

3. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp

Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư trong tháng 6, toàn tỉnh có 77 DN đăng ký thành lập mới, với số vốn đăng ký là 332,61 tỷ đồng, tăng 40% về số DN và tăng 169,58% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước. Số vốn đăng ký bình quân một DN thành lập mới là 4,32 tỷ đồng; số DN gặp khó khăn tạm ngừng hoạt động là 09 DN, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính 6 tháng, có 345 DN đăng ký thành lập mới, với số vốn đăng ký là 1.759,68 tỷ đồng, tăng 13,49% về số DN và tăng 36,51% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; số DN gặp khó khăn tạm ngừng hoạt động là 84 DN[1], tăng 44,83% so với cùng kỳ năm trước; số DN hoàn tất thủ tục giải thể là 67 DN[2], tăng 59,52% so với cùng kỳ năm trước.

Về tình hình sản xuất và xu hướng sản xuất kinh doanh của DN: Xu hướng sản xuất kinh doanh của các DN hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, so với quý trước có 23,68% DN đánh giá tình sản xuất tốt hơn; 44,74% DN đánh giá không có biến động; còn lại 31,58% DN đánh giá tình hình sản xuất gặp khó khăn hơn. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên các quý đầu năm các DN sản xuất gặp khó khăn nhiều hơn. Dự kiến quý tiếp theo, xu hướng sản xuất kinh doanh của các DN sẽ hoạt động sản xuất tốt hơn và dần đi vào ổn định như trước khi có dịch bệnh. Vì vậy, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có thể tăng trong các quý tiếp theo.

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2020, ngành nông nghiệp tập trung vào công tác thu hoạch lúa đông xuân và xuống giống vụ lúa hè thu 2020. Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm; công tác, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật và kiểm tra vệ sinh thú y; phối hợp thực hiện tốt công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm trong nông nghiệp.

 Ngành chức năng thường xuyên kiểm tra mực nước, độ mặn, theo dõi diễn biến tình hình xâm ngập mặn để cảnh báo kịp thời với người dân, thực hiện các giải pháp chống hạn, xâm nhập mặn cho lúa và các loại cây trồng khác. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân về phòng chống cháy rừng và tổ chức kiểm tra công tác phòng, chống cháy rừng ở các điểm trọng yếu. Tăng cường chỉ đạo công tác khắc phục thiệt hại do dịch bệnh. Hướng dẫn các địa phương áp dụng các biện pháp chăn nuôi heo an toàn sinh học để bảo vệ và phát triển tổng đàn hiện có. Kết quả cụ thể các lĩnh vực như sau:

4.1. Nông nghiệp

Lúa đông xuân, toàn tỉnh đã thu hoạch được 77.820 ha. Năng suất thu hoạch chính thức được 76,57 tạ/ha; tăng 4,37% (bằng 3,2 tạ/ha) so với cùng kỳ; sản lượng thu hoạch chính thức lúa đông xuân toàn tỉnh được 595.869 tấn, tăng 3,57% (bằng 20.515 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Lúa hè thu, đến nay toàn tỉnh ước xuống giống được 74.767 ha, đạt 97,48% so với kế hoạch (kế hoạch tỉnh 76.700 ha), so với cùng kỳ giảm 4,25% (bằng 3.315 ha)[3], các giống lúa được trồng chủ yếu như: OM5451, OM 18, Đài Thơm 8, IR50404,…. Hiện nay, diện tích lúa hè thu xuống giống sớm đã thu hoạch được 7.674 ha, giảm 4,85% (bằng 391 ha) so với cùng kỳ, ước năng suất trung bình 60,19 tạ/ha.

Mía niên vụ 2020, toàn tỉnh đã xuống giống được 5.909 ha, giảm 28,94% (giảm 2.406 ha), mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, thành phố Vị Thanh và thành phố Ngã Bảy. Hiện mía đang ở giai đoạn vươn lóng và tích trữ đường.

Diện tích gieo trồng ngô vụ đông xuân, toàn tỉnh ước được 1.472 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 1,28% (bằng 19 ha); năng suất sơ bộ 55,2 tạ/ha, tăng 0,18% (bằng 0,1 tạ/ha) so với cùng kỳ; sản lượng sơ bộ được 8.131 tấn, giảm 0,97% (bằng 80 tấn) so với cùng kỳ.

Diện tích gieo trồng rau, đậu các loại ước được 15.232 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 14,19% (bằng 1.893 ha).

Về tình hình dịch bệnh: Bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại lúa hè thu như sâu cuốn lá, rầy nâu, chuột, nhện gié, bệnh cháy bìa lá, đạo ôn cổ bông và lem lép hạt... Ngành chức năng đang tích cực hướng dẫn bà con nông dân có biện pháp phòng trừ hiệu quả, xử lý theo nguyên tắc 4 đúng để đạt hiệu quả cao. Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đã và đang được ngăn chặn kịp thời.

Tình hình gieo trồng một số loại cây lâu năm chủ yếu của tỉnh như sau:

- Cây mít: Diện tích hiện có ước được 6.432 ha, tăng 84,3% so với cùng kỳ năm trước (bằng 2.943 ha), sản lượng thu hoạch ước được 16.466 tấn. Diện tích cây mít tăng chủ yếu tập trung ở huyện Châu Thành, Thành phố Ngã Bảy và huyện Phụng Hiệp. Nguyên nhân do chuyển đổi diện tích từ cây trồng khác sang, cụ thể:

 + Thành phố Ngã Bảy: Cây mít tăng 333,6 ha, do chuyển đổi từ cây lúa ở xã Hiệp Lợi sang 8,5 ha; chuyển từ cây mía sang 37,6 ha tập trung ở xã Tân Thành, phường Hiệp Thành, phường Lái Hiếu; chuyển đổi từ cây cam 269,5 ha, tập trung ở xã Tân Thành; còn lại là diện tích của các cây khác chuyển sang 18 ha từ xã Đại Thành.

+ Huyện Châu Thành: Tăng 2.216 ha, do chuyển từ cây cam sành sang 933 ha, tập trung ở xã Đông Phước; chanh không hạt chuyển sang 207 ha tập trung ở xã Đông Phước A; chuyển từ cây xoài sang 65 ha ở xã Phú Hữu; chuyển từ cây bưởi sang 43 ha tập trung ở xã Đông Phước, còn lại do chuyển đổi từ diện tích cây ăn quả khác như ổi, mận, cóc....

+ Huyện Phụng Hiệp: Chuyển đổi từ cây mía sang 113 ha, tập trung ở xã Phương Bình, Phương Phú, Long Thạnh,...

- Cây xoài: Diện tích được 3.736,5 ha tăng 0,74% so với cùng kỳ năm trước (bằng 27,6 ha), sản lượng thu hoạch 15.193 tấn, tăng 4,45% so với cùng kỳ (bằng 647 tấn).

- Cây chuối: Diện tích được 3.022,6 ha, tăng 0,52% (bằng 15,5 ha) so với cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 16.924 tấn, tăng 4,78 so với cùng kỳ năm trước (bằng 771 tấn).

- Cây thanh long: Diện tích được 42,4 ha tăng 2,66 % (bằng 1,1 ha) so với cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 342 tấn tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước.

- Cây dứa: Diện tích được 2.281,9 ha, giảm 3,09% so với cùng kỳ (bằng 72,7 ha), sản lượng thu hoạch 13.939 tấn, tăng 4,82% so với cùng kỳ năm trước (bằng 641 tấn).

- Cây cam: Diện tích được 10.861,7 ha, tăng 1,11% so với cùng kỳ (bằng 119 ha), sản lượng thu hoạch 42.784 tấn, tăng 4,83% so với cùng kỳ năm trước (bằng 1.970 tấn).

- Cây bưởi: Diện tích được 1.650,5 ha, tăng 4,51% so với cùng kỳ (bằng 71,2 ha). Cây đang trong giai đoạn sinh trưởng chưa cho trái.

- Cây nhãn: Diện tích được 900,4 ha, tăng 2,77% so với cùng kỳ (bằng 24,3 ha), sản lượng thu hoạch 2.780 tấn, tăng 4,82% so với cùng kỳ năm trước (bằng 128 tấn).

4.2. Chăn nuôi

Ước tính tháng 6, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

- Đàn lợn (heo): Hiện có 93.834 con heo (không tính lợn con chưa tách mẹ), giảm 31,33% (giảm 42.805 con) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, heo thịt được 81.389 con heo, giảm 32,27% (giảm 37.780 con). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng đầu năm được 9.430,88 tấn, giảm 28,27% (bằng 3.716,2 tấn). Đàn heo giảm do ảnh hưởng dịch tả heo Châu phi.

- Đàn trâu: Có 1.449 con, giảm 3,27% so với cùng kỳ năm trước.

- Đàn bò: Có 3.618 con, tăng 3,91% (bằng 136 con) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tính đến tháng 6, ước được 121 tấn, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước.

- Đàn gia cầm: Hiện có 4.306,8 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 8,37% (tăng 332,6 ngàn con)[4]. Trong đó, đàn gà có 1.378 ngàn con, tăng 8,42% (tăng 107 ngàn con). Sản lượng trứng gia cầm 6 tháng đầu năm được 69.907 ngàn quả, tăng 5,04% so với cùng kỳ năm trước (bằng 3.355 ngàn quả).

Về tình hình dịch bệnh 6 tháng đầu năm 2020: Dịch tả heo Châu phi trên địa bàn tỉnh, tính đến ngày 13/01/2020, có 02 xã tái phát dịch tại huyện Phụng Hiệp, tổng số heo chết và tiêu hủy là 08 con với trọng lượng 509 kg, cho đến nay dịch tả đã được khống chế, không có heo chết và tiêu hủy do bệnh. Ngành chức năng tiếp tục duy trì các chốt kiểm dịch động vật - sản phẩm động vật tại các điểm trên quốc lộ, các tuyến đường chính để kiểm soát việc vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tiêu độc khử trùng các phương tiện đi qua ổ dịch; Đến nay, dịch cúm gia cầm không xuất hiện trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên ngành Thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh.

4.3. Lâm nghiệp

Trong 6 tháng đầu năm 2020, diện tích rừng trồng mới ước được 111 ha, sản lượng gỗ khai thác ước được 5.696 m3, tăng 2,58% (bằng 143,1 m3) so với cùng kỳ, sản lượng củi khai thác ước được 50.015 ste, giảm 1,23% (bằng 622,4 ste) so với cùng kỳ.    

Công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định; công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô được ngành chức năng chỉ đạo quyết liệt, đã nâng cấp cảnh báo cháy rừng toàn tỉnh lên cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm) trên tất cả các khu rừng, Ban chỉ đạo tỉnh, các Ban chỉ huy huyện, xã tổ chức các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, kiểm tra công tác tác ứng trực cháy rừng hằng ngày từ Văn phòng Ban chỉ đạo tỉnh đến huyện, xã và chủ rừng xuyên suốt kể cả thứ bảy, chủ nhật, thường xuyên theo dõi kiểm tra và cảnh báo kịp thời đến người dân.

4.4. Thủy sản

Trong 6 tháng năm 2020, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 2.591,66 ha, tăng 3,92% so cùng kỳ năm trước (bằng 97,71 ha). Trong đó: Diện tích nuôi cá ước tính được 2.453,74 ha, tăng 4,05% ( bằng 95,6 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Tổng sản lượng thủy sản 6 tháng, ước được 34.018,58 tấn, tăng 3,54% (bằng 1.164 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng được 32.410,44 tấn, tăng 3,75% (bằng 1.171,69 tấn); sản lượng thủy sản khai thác được 1.608,14 tấn, giảm 0,47% (bằng 7,64 tấn).

5. Tình hình sản xuất công nghiệp

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 182 DN và có 4.967 cơ sở cá thể hoạt động ngành công nghiệp. Mặc dù, ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 nhưng đến thời điểm hiện nay các DN, cơ sở cá thể hoạt động ngành công nghiệp đang dần hoạt động ổn định trở lại và có xu hướng tăng trong những tháng cuối năm, đặc biệt là ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được coi là điểm sáng, là động lực để tăng trưởng cho sản xuất công nghiệp của toàn tỉnh.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 6, tính theo giá so sánh 2010, được 2.452,06 tỷ đồng, tăng 5,10% so với tháng trước và tăng 8,40% so với cùng kỳ. Tính theo giá thực tế, được 3.884,29 tỷ đồng, tăng 9,12% so với tháng trước và tăng 14,83% so với cùng kỳ.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 6 tháng, tính theo giá so sánh 2010, được 12.998,45 tỷ đồng, tăng 3,01% so với cùng kỳ và đạt 39,82% so với kế hoạch năm. Tính theo giá thực tế, được 19.173,97 tỷ đồng, tăng 6,11% so với cùng kỳ và đạt 41,06% so với kế hoạch năm.

Nhờ được sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các sở, ban ngành với nhiều chính sách hỗ trợ kịp thời, ưu đãi tạo cơ hội cho các DN phục hồi hậu Covid-19. Vì vậy, một số DN có giá trị lớn vẫn duy trì tình trạng hoạt động ổn định trong 6 tháng đầu năm như: Công ty TNHH Lạc Tỷ II, Công ty TNHH Number One Hậu Giang, Công ty TNHH MTV Masan Brewery HG, Công ty TNHH giấy Lee & Man, Công ty TNHH MTV xi măng Cần Thơ, đã tạo ra giá trị sản xuất trên 6.395.992 tỷ đồng (theo giá thực tế), chiếm 33,36% trong tổng giá trị toàn tỉnh và tăng 28,48% so với cùng kỳ. Ngoài ra, các doanh nghiệp trên đã ký các hợp đồng mới và có được nguồn cung ứng nguyên, vật liệu sản xuất từ cuối năm 2019, nên khi dịch Covid - 19 xảy ra các DN trên vẫn duy trì được lượng hàng hóa sản xuất ổn định.

Nhìn chung, 6 tháng năm 2020, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tăng nhưng vẫn chưa cao là do bị tác động bởi dịch bệnh Covid-19. Do vậy, để hoàn thành kế hoạch năm 2020, các DN cần tập trung khắc phục tồn tại, hạn chế, nỗ lực cải thiện hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững mang lại hiệu quả cao trong hoạt động. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các DN đang đầu tư sớm đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của DN đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Trong bối cảnh thế giới hiện nay đang tạo ra nhiều cơ hội và thách thức lớn đối với Việt Nam. Một mặt, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những đột phá và ứng dụng công nghệ 4.0 trong đời sống và đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh đã tạo nên một xã hội năng động, thông minh, phát triển. Mặt khác, khủng hoảng do đại dịch Covid-19 đang tác động mạnh mẽ đến hầu hết các quốc gia trên toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Do đó, Việt Nam đang chuyển sang giai đoạn xúc tiến đầu tư hậu Covid-19 và thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng dịch, vừa nổ lực cao nhất để phục hồi và phát triển kinh tế, bảo đảm mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2020. Thời gian qua, lãnh đạo tỉnh luôn lắng nghe và giải quyết các ý kiến của người dân và tổ chức các buổi tiếp xúc trực tiếp khi DN có vấn đề khó khăn cần giải quyết kịp thời. Trong công tác hỗ trợ cho DN, ngoài việc tập trung triển khai thực hiện tốt các cơ chế, chính sách, hỗ trợ đã có của Trung ương, tỉnh cũng đã xây dựng và ban hành những chính sách ưu đãi đặc thù cho các ngành nghề, lĩnh vực được địa phương ưu tiên đầu tư phát triển.

Dự tính tháng 6, chỉ số sản xuất công nghiệp, tăng 3,95% so với tháng trước và tăng 4,73% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do các DN đang trong giai đoạn phục hồi hậu Covid-19, nên trong tháng 6 có một số DN đã mạnh dạng đầu tư thêm máy móc thiết bị, mở rộng nhà máy, tuyển thêm công nhân, tăng cường sản xuất để đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Những ngành có giá trị sản xuất lớn hoạt động hiệu quả, góp phần tăng giá trị của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo toàn tỉnh như: Ngành sản xuất chế biến thực phẩm, ngành sản xuất đồ uống, ngành sản xuất trang phục,… tăng so với tháng trước lần lượt là: 7,34%; 6,72%; 5,32%; … Bên cạnh đó, vẫn có những ngành tăng thấp như: Ngành dệt, ngành sản xuất hóa chất, ngành sản xuất giấy,… tăng lần lượt là: 4,26%; 3,11%; 1,78%;… Vì vậy, cần tập trung đầu tư và khôi phục sản xuất để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chung cho toàn tỉnh.

Dự tính 6 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, tăng 3,18% so với cùng kỳ. Cụ thể:

- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: tăng 3,15% so với cùng kỳ. Trong đó, các ngành có mức tăng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như: Ngành sản xuất đồ uống, ngành sản xuất da, ngành sản xuất giấy, ngành in sao chép bản ghi các loại,… Cụ thể:

+ Ngành sản xuất đồ uống tăng 314,47% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Number One Hậu Giang với sản phẩm chính là các loại nước uống không cồn đóng chai, đầu tư hoàn thành chạy thử từ tháng 3/2019 và hoạt động ổn định, đến nay thị trường tiêu thụ của DN đã được mở rộng hơn. Vì vậy, sản lượng sản xuất của doanh nghiệp 6 tháng 2020 tăng đột biến 485,30% so với cùng kỳ. Ngoài ra, còn có Công Ty TNHH Mtv Masan Brewery Hậu Giang với sản phẩm chính là bia Sư Tử Trắng, đã tạo được thương hiệu, DN không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm nên được người tiêu dùng chấp nhận. Vì vậy, sản lượng sản xuất của DN tăng 193,01% so với cùng kỳ, nhưng sản lượng vẫn chưa đạt kế hoạch của DN đã đề ra và còn rất thấp so với công suất thiết kế của nhà máy. Mặc dù ảnh hưởng từ Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ và dịch Covid-19 nhưng ngành sản xuất đồ uống đã mở rộng được thị trường tiêu thụ nên sản lượng sản xuất tăng cao so với cùng kỳ.

+ Ngành sản xuất da tăng 28,16% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Lạc Tỷ II, với sản phẩm chính là giày da thành phẩm các loại, tỷ trọng của công ty này chiếm trên 96,50% giá trị sản xuất của toàn ngành này. Trong 6 tháng đầu năm 2020, mặc dù ảnh hưởng từ dịch Covid-19, nhưng sản lượng của DN vẫn tăng ổn định, là do công ty đã ký hợp đồng với khách hàng trước 6 tháng và nguồn nguyên, vật liệu do đối tác cung ứng. Vì vậy, sản lượng sản xuất của ngành này không bị ảnh hưởng bởi chuỗi cung ứng nguyên, vật liệu nhập từ nước ngoài. 

+ Ngành sản xuất giấy tăng 19,00% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Giấy Lee & Man Việt Nam với sản phẩm chính là giấy cuộn và bìa giấy. Do Trung Quốc là bên cung cấp nguyên liệu chính cho DN, nhưng hiện nay nguồn nguyên, phụ liệu tồn kho tại DN còn đủ để sản xuất đến hết tháng 05 và DN đã chủ động tìm nguồn nguyên, vật liệu từ các nước khác trong khu vực. Vì vậy, không làm ảnh hưởng đến sản lượng sản xuất của DN nên chỉ số sản xuất dự tính 6 tháng tăng so với cùng kỳ.

+ Ngành In, sao chép bản ghi các loại tăng 41,23% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty TNHH TM Dịch vụ In Hậu Giang là DN lớn trên địa bàn tỉnh hoạt động trong ngành này. Do DN này không ảnh hưởng nhiều từ dịch Covid-19 nên đã hoạt động ổn định từ đầu năm đến nay. Vì vậy, chỉ số sản xuất công nghiệp của ngành này tăng cao so với cùng kỳ.

+ Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sản xuất 6 tháng đầu năm giảm hoặc giảm sâu so với cùng kỳ như : Ngành sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic; ngành sản xuất chế biến thực phẩm; ngành sản xuất trang phục;…giảm lần lượt là: 35,06%; 21,7%; 8,62%;… Do ảnh hưởng từ dịch Covid-19 nên các DN chưa xuất được hàng hóa và chưa tìm kiếm được nhiều hợp đồng mới.

- Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: Tăng 6,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chỉ số sản xuất, truyền tải và phân phối điện tăng 7,37% so với cùng kỳ. Ngành điện đã cung cấp đủ điện, an toàn phục vụ phát triển kinh tế xã hội, đã hạn chế tối đa không để mất điện, đảm bảo nhu cầu sử dụng cho người dân và các DN được hoạt động liên tục.

 - Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: Tăng 6,28% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty Cổ phần Cấp thoát nước – Công trình đô thị Hậu Giang nắm được nhu cầu sử dụng nước sạch trong sinh hoạt của người dân nông thôn ngày càng cao, nên công ty đã hoàn thiện và khởi công mới các tuyến đường ống, dẫn nước đến các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh, để phục vụ tốt hơn cho người dân, DN, cơ quan xí nghiệp được hoạt động liên tục. Sản lượng sản xuất nước sạch sinh hoạt 6 tháng năm 2020 được 5.961,83 ngàn m3 tăng 8,02% so với cùng kỳ năm trước.

6.  Hoạt động thương mại, dịch vụ

6.1. Bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Ước tính tháng 6, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 3.002,70 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các DN đóng trên địa bàn tỉnh là: 344,76 tỷ đồng), so với thực hiện tháng trước bằng 111,93% và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,16%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước thực hiện được 2.291,32 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 106,60% và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,62%. Bước qua tháng 6, tình hình dịch Covid-19 ở nước ta đã được kiểm soát tốt, hoạt động thương mại diễn ra sôi động hơn. Hầu hết các nhóm hàng hóa tiêu dùng tăng trở lại, cụ thể một số nhóm như: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm được 596,34 tỷ đồng, tăng 7,12% so tháng trước, do giá cả một số mặt hàng trong nhóm này vẫn còn ở mức cao như: Thịt heo, rau xanh, lúa gạo …; nhóm hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình được 340,85 tỷ đồng, tăng 7,28% so tháng trước, do sau thời gian cách ly người dân mua sắm nhiều hơn để phục vụ sinh hoạt hàng ngày; nhóm hàng xăng, dầu được 347,86 tỷ đồng, so tháng trước tăng 21,54%, do trong tháng giá xăng đã được điều chỉnh tăng (vào ngày 12/6), nhu cầu đi lại tăng và các cơ sở kinh doanh vận tải đã hoạt động ổn định.

- Doanh thu dịch vụ khác thực hiện được 257,42 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 123,29% và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,12%. Ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính trong tháng sẽ tăng so với tháng trước, nhưng so cùng kỳ vẫn còn giảm. Cụ thể:

+ Dịch vụ kinh doanh bất động sản được 3,83 tỷ đồng, so tháng trước tăng 17,87%, do các công trình xây dựng, các cơ sở cho thuê nhà ở dài hạn dành cho sinh viên, người lao động đã hoạt động ổn định, nhưng so cùng kỳ vẫn còn giảm 20,25%.

+ Dịch vụ hành chính và hỗ trợ được 11,03 tỷ đồng, so tháng trước tăng 18,27%, do nhu cầu các dịch vụ cho thuê máy móc trong xây dựng, dịch vụ hành chính văn phòng cũng sẽ tăng sau khi trường học, hoạt động công sở trở lại hoạt động ổn định.

+ Dịch vụ giáo dục và đào tạo được 0,83 tỷ đồng, so tháng trước tăng 2,46%, dịch vụ này trong tháng đã hoạt động ổn định, việc học của học sinh các cấp trên địa bàn tỉnh đã đi vào nề nếp, các trung tâm giáo dục nghề nghiệp, trung tâm ngoại ngữ, và các dịch vụ giáo dục khác cũng đã hoạt động bình thường.

+ Dịch vụ y tế được 14,13 tỷ đồng, so tháng trước tăng 5,23%, do hoạt động của dịch vụ này trong tháng trước vẫn hoạt động bình thường, nên ước tính tháng này tăng không cao so tháng trước như các ngành dịch vụ khác.

+ Dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí ước tính được 172,14 tỷ đồng, so tháng trước tăng 30,16%. Tháng 6 năm 2020, một số dịch vụ vui chơi, giải trí, đặc biệt là hoạt động xổ số đã hoạt động bình thường, karaoke được phép hoạt động trở lại sau thời gian tạm ngừng. Vì vậy, doanh thu dịch vụ ngành này tăng khá cao so tháng trước, nhưng so cùng kỳ vẫn còn giảm 12,58%.

+ Một số ngành dịch vụ khác, ước tính trong tháng được 55,46 tỷ đồng, so tháng trước tăng 11,55%, do các ngành dịch vụ phục vụ cá nhân và gia đình trong tháng đã hoạt động bình thường, nhu cầu người dân cũng tăng hơn tháng trước, nhất là hoạt động của các cơ sở làm đẹp, hớt tóc, dịch vụ sửa chữa đồ dùng gia đình,…

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước tính được 453,95 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 139,93% và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,68%.

+ Ngành lưu trú, ước tính được 7,87 tỷ đồng, so tháng trước tăng 36,30%, so cùng kỳ giảm 28,43%. Hoạt động kinh doanh của cơ sở lưu trú đã dần ổn định, nhưng do nhu cầu sử dụng dịch vụ và du lịch của tỉnh chưa có điểm nổi bậc nên chưa thu hút được nhiều khách du lịch. Vì vậy, mức tăng của ngành lưu trú chưa cao mà vẫn còn giảm sâu so với cùng kỳ.

+ Ngành ăn uống, ước tính được 446,08 tỷ đồng, so tháng trước tăng 39,99%, so cùng kỳ giảm 10,94%. Nhà hàng, cơ sở kinh doanh hàng ăn uống, … đã hoạt động ổn định. Tuy nhiên, vì tác động của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/01/2020 và phần lớn người dân vẫn còn e ngại trong việc đi ăn uống hàng quán nên doanh thu ngành ăn uống vẫn chưa phục hồi được so với cùng kỳ.

Ước tính 6 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 17.564,89 tỷ đồng (Trong đó, chi nhánh của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh là: 2.149,75 tỷ đồng), so với cùng kỳ năm trước bằng 89,18% (giảm 10,82%) và so kế hoạch đạt 44,25%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa thực hiện được 13.588,53 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 91,66% và so kế hoạch đạt 46,25%. Hầu hết các nhóm hàng hóa có tỷ trọng cao đều giảm so cùng kỳ như: Lương thực, thực phẩm; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình; gỗ, vật liệu xây dựng; xăng dầu. Dịch bệnh Covid-19 đã làm cho giá xăng, dầu giảm nhiều nhất trong 13 năm qua, giá xăng, dầu giảm đã làm giảm doanh thu của nhóm hàng hóa này. Dịch bệnh cũng tác động mạnh mẽ lên nhóm gỗ và vật liệu xây dựng khi các công trình thi công phải tạm ngưng hoạt động, nhà đầu tư lẫn người dân hạn chế đầu tư xây dựng, sửa chữa dẫn đến mặt hàng này tiêu thụ chậm hơn so cùng kỳ. Ngoài ra, đây là năm có kỷ lục hạn hán, xâm nhập mặn cao trong nhiều năm qua, xảy ra tại nhiều địa phương trong tỉnh làm cho canh tác gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng lúa và nhiều loại cây ăn trái khác. Tuy nhiên, cũng có một số ít nhóm có tăng nhưng tốc độ tăng thấp, tỷ trọng nhỏ nên không thể kéo tổng mức bán lẻ tăng hơn so cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ khác thực hiện được 1.492,17 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 87,89% và so kế hoạch đạt 41,47%. Giảm điển hình là: dịch vụ giáo dục, đào tạo giảm 46,98% so cùng kỳ vì ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, học sinh nghỉ liên tục trong 3 tháng; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ giảm 25,94%; dịch vụ vui chơi, giải trí giảm 12,16%. Các dịch vụ còn lại hầu hết cũng giảm so cùng kỳ vì ảnh hưởng của dịch bệnh. Riêng dịch vụ y tế so cùng kỳ tăng 2,17%, do trong tình hình dịch bệnh thì vấn đề phát triển và đảm bảo y tế càng được quan tâm nên hoạt động của dịch vụ này vẫn được duy trì. Tuy nhiên, đối với các cơ sở y tế tư nhân vẫn có một phần bị hạn chế hoạt động trong thời gian cao điểm xảy ra dịch bệnh nên mức tăng so cùng kỳ không cao.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 2.484,19 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 74,29% và so kế hoạch đạt 37%. Cụ thể:

+ Ngành lưu trú được 47,24 tỷ đồng, giảm 29,70% so cùng kỳ. Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên hoạt động lưu trú gặp nhiều khó khăn. Trong thời gian giãn cách xã hội để phòng, chống dịch nhiều cơ sở kinh doanh ngưng hoạt động. Sau khi giãn cách xã hội được nới lỏng, dịch bệnh được kiểm soát thì nhu cầu đi lại, du lịch vẫn ở mức thấp, người dân còn tâm lý e ngại sử dụng các dịch vụ công cộng như nhà trọ qua đêm, nhà nghỉ, khách sạn,… Thêm vào đó, du lịch trên địa bàn tỉnh chưa phát triển, chưa có nhiều địa điểm nổi bậc thu hút được du khách nên trong những tháng đầu năm hầu như lượng khách đến Hậu Giang là rất thấp.

+ Ngành ăn uống được 2.436,95 triệu đồng giảm 25,63% so cùng kỳ. Tác động làm giảm doanh thu ngành ăn uống là ảnh hưởng của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có hiệu lực từ ngày 01/01/2020 và dịch bệnh Covid-19.

Dịch bệnh Covid-19 tác động sâu rộng đến nền kinh tế, trong đó lĩnh vực thương mại, dịch vụ được đánh giá là chịu thiệt hại nặng nề nhất, nhưng cũng được nhận định là khu vực có khả năng phục hồi nhanh nhất sau dịch nếu DN, hộ kinh doanh tận dụng thời cơ để phát triển. Trong thời gian qua, tỉnh Hậu Giang đã thực hiện tốt Nghị định số 41/2020/NĐ-CP về gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền thuê đất; tích cực triển khai thực hiện gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng của Chính phủ nhằm hỗ trợ DN và hộ sản xuất, kinh doanh cá thể giảm bớt khó khăn, phục hồi sau đại dịch Covid-19. Qua đó, giúp giải quyết được việc làm cho người lao động, góp phần an sinh xã hội cho tỉnh nhà và hoàn thành kế hoạch đề ra trong những tháng cuối năm.

6.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Ước thực hiện tháng 6, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp được 67,310 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 95,74% và so với cùng kỳ năm trước bằng 89,32%. Chia ra:

- Xuất khẩu được 44,069 triệu USD, so với tháng trước bằng 93,76% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,97%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 23,241 triệu USD, so với tháng trước bằng 99,72% và so với cùng kỳ năm trước bằng 65,86%.

Tình hình chiến tranh Mỹ - Trung ngày càng leo thang căng thẳng và diễn biến phức tạp không lường cùng với sự bất ổn chính trị tại một số khu vực nóng như Hồng Kông, Đài Loan, Hoa Kỳ và dịch bệnh Covid-19 đang có dấu hiệu bùng phát trở lại tại Trung Quốc (đây đều là những thị trường có giá trị xuất khẩu lớn của Việt Nam) có thể sẽ khiến hoạt động xuất, nhập khẩu của các DN trên địa bàn nói riêng và các DN của Việt Nam nói chung sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc ký kết các đơn hàng, hợp đồng xuất khẩu mới cũng như nhập khẩu các nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất. Vì vậy, dự báo giá trị xuất, nhập khẩu trực tiếp hàng hóa trong tháng tới sẽ không tăng.

Hiện nay, phân theo loại hình kinh tế thì giá trị xuất, nhập khẩu của các DN FDI chiếm tỷ trọng cao nhất. Trong tháng 6, giá trị xuất khẩu khu vực này đạt 22,320 triệu USD, chiếm 50,65% tổng giá trị xuất khẩu chung đã vượt qua tổng giá trị xuất khẩu của các DN khác ngoài nhà nước cộng lại, (chỉ đạt giá trị 21,749 triệu USD), kinh tế nhà nước không có DN xuất nhập khẩu nào. Trong khu vực FDI, đáng chú ý nhất là quy mô đầu tư của 02 DN lớn: Công ty TNHH Lạc Tỷ II và Công ty TNHH Giấy Lee&Man ở khu công nghiệp Tân Phú Thạnh và Nam Sông Hậu 1, nhiều nhất là DN Lạc Tỷ II, trong những năm trở lại đây đã không ngừng mở rộng xây dựng phân xưởng mới để mở rộng quy mô sản xuất nhằm gia tăng sản lượng kịp hoàn thành tiến độ các đơn hàng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân ở các thị trường xuất khẩu, do đó giá trị xuất khẩu qua từng năm của DN này không ngừng tăng lên, giá trị năm sau luôn cao hơn năm trước.

Về cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu không có sự thay đổi nhiều, xuất khẩu chủ lực vẫn là các nhóm hàng thủy hải sản chế biến các loại (chiếm tỷ trọng khoảng 30,42% tổng giá trị xuất khẩu chung); giày thể thao (chiếm 38,22%); giấy thành phẩm các loại (chiếm 11,62%) và một số nhóm hàng hóa xuất khẩu khác còn lại (chiếm 19,74%).

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 427,660 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 101,62% và so với kế hoạch năm đạt 40,96%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 263,244 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 112,09% và so với kế hoạch năm đạt 37,29%. Nguyên nhân tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do Công ty TNHH Lạc Tỷ II sản xuất giày thể thao xuất khẩu trên địa bàn đã hoạt động ổn định và mở rộng phân xưởng mới để tăng công suất sản xuất đảm bảo hoàn thành được các hợp đồng đã ký kết. Vì vậy, mặc dù chịu ảnh hưởng của dịch bệnh nhưng DN vẫn có giá trị xuất khẩu tăng so với cùng kỳ.

Thị trường xuất khẩu trong những tháng đầu năm có sự sụt giảm về số lượng, nếu như 6 tháng đầu năm 2019 xuất sang 79 thị trường các nước và vùng lãnh thổ thì đến năm 2020 chỉ xuất sang 73 thị trường, giảm 6 thị trường so với năm trước. Nguyên nhân do ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19, chính phủ các nước tiến hành phong tỏa đóng cửa nền kinh tế để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh khiến các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong việc ký kết các hợp đồng xuất khẩu đi các nước và tìm kiếm thị trường mới. Về cơ cấu thị trường xuất khẩu của các DN không có sự thay đổi nhiều, các thị trường xuất khẩu lớn vẫn nằm ở các khu vực của Châu Âu, Châu Mỹ (trong đó khu vực Bắc Mỹ là chủ yếu), Châu Á (khu vực Đông Á và Đông Nam Á chiếm giá trị lớn nhất) và một số khu vực khác. Giá trị xuất khẩu của các khu vực này có sự tăng giảm lẫn nhau so với cùng kỳ năm trước nhưng nhìn chung mức tăng vẫn chiếm ưu thế nhiều hơn. Cụ thể, giá trị xuất khẩu của các khu vực trên có sự tăng trưởng lần lượt so với cùng kỳ năm trước là: khu vực Châu Âu bằng 78,30% (chiếm tỷ trọng 18,50% tổng giá trị xuất khẩu chung), Châu Mỹ bằng 168,46% (chiếm 27,98%), Châu Á bằng 109,86% (chiếm tỷ trọng 47,15%) và một số khu vực khác bằng 56,38% (chiếm tỷ trọng 6,37%).

Ngoài ra, vừa qua Quốc hội vừa biểu quyết thông qua Hiệp định hợp tác Thương mại EVFTA giữa Việt Nam với khối các nước EU đã mở ra một cơ hội lớn và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất, nhập khẩu không chỉ đối với các DN xuất khẩu các mặt hàng chủ lực mà còn đối với tất cả các DN đã và đang có dự định đầu tư kinh doanh vào lĩnh vực xuất, nhập khẩu. Hiện nay, hiệp định đã có hiệu lực cũng là lúc hàng hóa của Việt Nam sẽ rộng cửa hơn khi đi vào tiêu thụ tại thị trường Châu Âu và ngược lại các DN sản xuất trong nước sẽ có thể dễ dàng hơn trong việc tiếp cận các trang thiết bị, máy móc, công nghệ hiện đại và cả các nguồn nguyên, nhiên liệu tổng hợp phục vụ sản xuất các sản phẩm trong và ngoài nước. Đồng thời, cũng là cơ hội để các DN có thể tăng cường quảng bá hình ảnh sản phẩm, hình ảnh đất nước con người Việt Nam đến với quốc tế nhằm thu hút đầu tư của các DN Châu Âu, xúc tiến thương mại và du lịch trong tương lai, đặc biệt trong mùa dịch Covid-19 như hiện nay.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 136,236 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 86,96% và so với kế hoạch năm đạt 49,72%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 1,266 triệu USD, tăng cao so với cùng kỳ năm trước bằng 251,19% và so với kế hoạch năm đạt 126,60%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 26,914 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 93,42% và so với kế hoạch năm đạt 42,72%.

Nhìn chung trong 6 tháng đầu năm 2020, mặc dù do ảnh hưởng của dịch Covid-19, giá trị xuất khẩu hiện vẫn có mức tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước. Cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu không có sự thay đổi nhiều, mặt hàng xuất khẩu chủ lực vẫn là nhóm hàng thủy hải sản chế biến các loại (chiếm tỷ trọng 34,62% tổng giá trị xuất khẩu chung), giày thể thao (chiếm 41,37%), giấy thành phẩm các loại (chiếm 11,35%) và một số nhóm hàng hóa xuất khẩu khác còn lại (chiếm 12,66%). Hiện nay, mặt hàng xuất khẩu giày dép của công ty Lạc Tỷ II đã trở thành nhóm hàng có tỷ trọng xuất khẩu lớn nhất trên địa bàn thay thế vị trí của nhóm hàng thủy sản.

Mặc dù có sự tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước nhưng giá trị xuất khẩu hàng hóa so với kế hoạch đề ra hiện nay vẫn đạt thấp, tính đến 6 tháng đầu năm 2020, ước tính kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 37,29% so với kế hoạch. Dịch Covid-19 ở các nước đang diễn biến vẫn còn rất phức tạp và có nguy cơ cao bùng phát dịch lần 2 ở các quốc gia trong khối Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản,.... Thêm vào đó, tình hình bất ổn chính trị tại Hoa Kỳ, Hồng Kông (Trung Quốc), cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung cũng đang có nhiều diễn biến phức tạp có thể sẽ tác động lớn đến giá trị xuất khẩu chung trên địa bàn trong thời gian tới. Ngoài ra, do sự bất ổn về chính trị cùng với dịch bệnh đang diễn ra cũng đã tác động mạnh mẽ làm nhu cầu tiêu dùng của người dân ở các nước nhập khẩu bị sụt giảm mạnh, khiến các DN Việt Nam gặp nhiều khó khăn trong việc tìm thị trường thay thế.

Do đó, để đảm bảo hoàn thành tốt kế hoạch đề ra trong năm, các ngành hữu quan và các DN cần liên kết chặt chẽ với nhau để tìm hướng đi và đầu ra ổn định cho các sản phẩm xuất khẩu trong tình hình bất ổn về chính trị và dịch bệnh như hiện nay, tận dụng tối đa cơ hội của Hiệp định thương mại EVFTA mang lại để tiếp cận đổi mới đầu tư, trang thiết bị và công nghệ, đồng thời tìm kiếm cơ hội mở ra phương hướng kinh doanh đột phá mới nhưng bền vững, biến nguy thành cơ giúp ngày càng nâng cao giá trị xuất khẩu chung trên địa bàn, tiến tới hoàn thành và vượt kế hoạch đề ra.

6.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Ước tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện tháng 6, được 84,78 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 88,84%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 29,52 tỷ đồng bằng 89,86% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 30,70 tỷ đồng bằng 75,41% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 24,56 tỷ đồng, bằng 112,30% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi thực hiện 6 tháng, được 511,69 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 95,30%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 177,95 tỷ đồng bằng 83,48% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 195,19 tỷ đồng bằng 82,95% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 138,55 tỷ đồng, bằng 156,65% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 6 tháng đầu năm 2020, tình hình hoạt động vận tải, kho bãi hầu hết các ngành đều có mức sụt giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước, trong đó hoạt động vận chuyển hành khách có mức sụt giảm nhiều nhất chỉ bằng 77,36% so với 6 tháng năm 2019, nguyên nhân là do các cơ sở chịu ảnh hưởng nhiều từ đại dịch Covid-19, trong giai đoạn cao điểm của dịch bệnh, tất cả các cơ sở hoạt động vận tải đều ngưng hoạt động (không chỉ riêng vận chuyển hành khách mà cả những cơ sở vận chuyển hàng hóa) theo chỉ thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện giãn cách toàn xã hội để phòng, chống dịch bệnh đã làm cho giá trị hoạt động kinh doanh của các ngành vận tải trên bị sụt giảm mạnh, trực tiếp làm giảm giá trị chung của toàn ngành. Mặt khác, theo dự báo, tình hình thời tiết không thuận lợi mưa bão nhiều kèm theo giông lốc cũng đã làm hạn chế khả năng vận chuyển hàng hóa của các cơ sở kinh doanh và nhu cầu đi lại của người dân. Vì vậy, đã góp phần làm giảm thêm giá trị chung của toàn ngành vận tải trong 6 tháng đầu năm.

Mặc dù chịu sự ảnh hưởng nặng nề từ các yếu tố dịch bệnh, thời tiết nhưng không phải ngành hoạt động vận tải nào cũng đều sụt giảm. Trong 6 tháng vừa qua, chỉ riêng giá trị kinh doanh hoạt động ngành dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải là có mức tăng trưởng cao (tăng 63,66% so với cùng kỳ). Do tình hình dịch bệnh các DN hoạt động kinh doanh trên địa bàn không ký được nhiều hợp đồng xuất, nhập khẩu cũng như hàng hóa sản xuất ra gặp vấn đề khó khăn trong tiêu thụ, vì thế lượng hàng tồn kho của các DN tương đối nhiều, diện tích kho của đa số DN không đủ khả năng đáp ứng được, buộc các DN phải thuê kho, sử dụng các dịch vụ hỗ trợ vận tải từ các DN hoạt động logistic. Vì vậy, giá trị của ngành này tăng cao so với cùng kỳ. Mặt khác, trong quý II/2020 Công ty TNHH Hàng Hải Hậu Giang mở rộng dịch vụ kinh doanh khai thác cảng và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ cũng đã phần nào làm tăng đáng kể giá trị hoạt động của ngành dịch vụ vận tải. Mặc dù có chỉ tiêu có mức tăng trưởng cao, nhưng chỉ chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong toàn ngành nên vẫn không thể bù đắp mức sụt giảm của các chỉ tiêu loại hình vận chuyển khác còn lại. Vì vậy, giá trị hoạt động vận tải chung toàn ngành bị giảm nhẹ so với cùng kỳ.

6.3.1 Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Ước thực hiện tháng 6, toàn tỉnh vận chuyển được 599,52 nghìn tấn hàng hóa các loại (40.398,10 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,64% (103,58%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 91,29% (77,44%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 133,06 nghìn tấn (7.723,17 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 103,59% (105,97%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,22% (94,09%).

- Đường sông thực hiện được 466,47 nghìn tấn (32.674,93 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,09% (103,03%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,21% (74,33%).

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh vận chuyển được 3.592,05 nghìn tấn hàng hóa các loại (243.520,68 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 96,67% (97,77%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 843,45 nghìn tấn (45.006,17 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 100,73% (100,87%).

- Đường sông thực hiện được 2.748,60 nghìn tấn (198.514,50 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 95,49% (97,09%).

6.3.2 Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Ước thực hiện tháng 6, toàn tỉnh thực hiện được 4.802,54 nghìn lượt hành khách (37.772,52 nghìn lượt HK.km), so với tháng trước bằng 103,77% (104,38%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 87,70% (76,32%). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 2.763,02 nghìn lượt hành khách (25.920,87 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 102,50% (104,26%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 81,09% (68,96%).

- Đường sông vận chuyển được 2.039,52 nghìn lượt hành khách (11.851,65 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 105,54% (104,66%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,57% (99,51%).

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2020, toàn tỉnh vận chuyển được 38.684,05 nghìn lượt hành khách (233.127,21 nghìn lượt HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 77,67% (76,74%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 26.061,17 nghìn lượt hành khách (161.749,99 nghìn lượt HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 72,60% (73,05%).

 - Đường sông thực hiện được 12.622,88 nghìn lượt hành khách (71.377,21 nghìn lượt HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 90,75% (86,65%).

7. Các vấn đề về xã hội

7.1. Giáo dục

Năm học 2019-2020, toàn tỉnh ước có 160.745 học sinh mầm non và phổ thông. Trong đó, Mầm non có 27.170 trẻ, với tổng số 1.002 lớp; Tiểu học có 68.695 học sinh trên 2.444 lớp; Trung học (bao gồm trung học cấp 2 và cấp 2-3) có 45.656 học sinh trên 1.182 lớp; Trung học phổ thông có 19.279 học sinh trên 478 lớp.

Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo tập trung vào hoạt động chuyên môn của các ngành học, cấp học như sau:

- Giáo dục mầm non: Tiếp tục khảo sát các trường đăng ký kiểm định chất lượng giáo dục và chuẩn quốc gia theo kế hoạch; chấm sản phẩm dự thi xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm; tổng hợp báo cáo Đề án tăng cường tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số.

- Giáo dục tiểu học: Phối hợp với Nhà xuất bản có các đầu sách giáo khoa lớp 1 được các trường chọn lựa tổ chức tập huấn cho cán bộ quản lý - giáo viên. Chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện công tác kiểm tra cuối kỳ II năm học 2019-2020 cấp tiểu học. Kiểm tra công tác dạy học một số cơ sở giáo tiểu học.

- Giáo dục trung học - giáo dục chuyên nghiệp: Kiểm tra tình hình dạy học tại một số trường trung học; chỉ đạo tổ chức thi kiểm tra học kì II tại các trường, các Trung tâm giáo dục thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên.

7.2. Tình hình văn hóa, thể thao

Trong 6 tháng, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục duy trì và triển khai nhiều hoạt động, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của các tầng lớp dân cư. Xây dựng các chương trình phục vụ như: chương trình Họp mặt Nhà báo, Văn nghệ sĩ và họp mặt Kiều bào, chương trình Họp mặt Nhà doanh nghiệp, Nhà khoa học, Nông dân tiêu biểu; phục vụ lễ hội giao thừa mừng Đảng quang vinh – mừng Xuân Canh Tý năm 2020; Biểu diễn chương trình nghệ thuật chào mừng lễ công nhận thị xã Long Mỹ đạt tiêu chuẩn đô thị loại III… được 48 suất, phục vụ 30 ngàn lượt người xem; phóng thanh cổ động 526 buổi; xe tuyên truyền cổ động của các huyện, thị xã, thành phố tổ chức tuyên truyền tại các xã, phường, thị trấn được 11 buổi, phục vụ 152.310 lượt người xem. In và lắp mới 6.360m2 pano các loại, treo 335 băng rol, 14.850 cờ các loại.

Đội chiếu phim lưu động: Tổ chức chiếu phim lưu động tuyên truyền tại các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc trên địa bàn tỉnh nhân tết Dương lịch và Mừng Đảng - Mừng Xuân Canh Tý năm 2020; tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng gắn với kỷ niệm 45 năm Giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2020), 134 năm ngày Quốc tế lao động (01/05/1886 - 01/05/2020), với 47 buổi chiếu, thu hút khoảng 17.250 lượt người xem.

Về hoạt động thư viện: Tổ chức các hoạt động trong Hội báo Xuân Canh Tý năm 2020: Với 400 loại báo xuân của các báo Trung ương và ấn phẩm xuân của 63 tỉnh, thành phố cả nước, ấn phẩm xuân của các sở, ban ngành, địa phương, đơn vị của tỉnh Hậu Giang tham gia Cuộc thi bình chọn ấn phẩm xuân 2020; Triển lãm sách chuyên đề: 600 quyển sách chuyên đề về Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2020); 52 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968; sách về Biển đảo Việt Nam; sách Địa chí Hậu Giang. Thực hiện mô hình “Gửi trao tri thức” nhằm hưởng ứng Ngày sách Việt Nam (21/4) và Ngày Sách và Bản quyền thế giới (23/4): Phục vụ cán bộ, công chức, viên chức đọc sách miễn phí mà không có thời gian đến trực tiếp Thư viện. Thư viện đã gửi 180 quyển sách đến 6 cơ quan, ban ngành tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2020, hệ thống Thư viện công cộng tỉnh Hậu Giang đã phục vụ được 339.007 lượt người với 678.014 lượt sách báo, cấp mới 1.627 thẻ bạn đọc.

Về hoạt động bảo tồn - bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa: Triển lãm thường xuyên và lưu động 11 cuộc, phục vụ các sự kiện: kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 - 22/12/2019) và 30 năm xây dựng nền Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 - 22/12/2019), 15 năm lực lượng vũ trang tỉnh Hậu Giang xây dựng và trưởng thành tại trung tâm Hội nghị tỉnh; Triển lãm ảnh phục vụ Họp mặt Nhà báo, Văn nghệ sĩ, Nhà doanh nghiệp, Nhà khoa học, Nông dân sản xuất giỏi, Kiều bào nhân dịp Xuân Canh Tý 2020; Hội báo Xuân; Triển lãm ảnh và Cuộc thi bình chọn ấn phẩm Xuân Canh Tý 2020 tại di tích Chiến thắng Chương Thiện, TP.Vị Thanh; Lễ công bố Thành phố Vị Thanh mở rộng đạt tiêu chí đô thị loại II và hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới,… với các chuyên đề: Thành tựu 30 năm xây dựng nền Quốc phòng toàn dân, 15 năm lực lượng vũ trang tỉnh Hậu Giang xây dựng và trưởng thành; thành tựu 15 năm xây dựng và phát triển tỉnh Hậu Giang; Đảng Cộng sản Việt Nam - Những chặng đường lịch sử; thành tựu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh tỉnh Hậu Giang năm 2019; triển lãm bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”…Tiếp 22 đoàn khách tham quan tại các di tích cấp Quốc gia đặc biệt Chiến thắng Chương Thiện tại thành phố Vị Thanh; Căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ, Chiến thắng Tầm Vu; Đền thờ Bác Hồ; Chiến thắng Chương Thiện tại Vĩnh Viễn; Khu trù Mật Vị Thanh - Hỏa Lựu,…

Về sự nghiệp thể dục thể thao: Tổ chức 7 giải ở cấp tỉnh, với 839 vận động viên, phục vụ gần 8.200 lượt người xem; tham dự giải Lân Sư Rồng toàn quốc lần thứ VII năm 2020 tại thành phố Cần Thơ. Kết quả đạt: 01 huy chương bạc, 01 huy chương đồng; tham dự giải quốc tế: 1 giải, đạt: 02 huy chương đồng (02 vận động viên Điền kinh tham gia cùng Đoàn thể thao Việt Nam dự Đại hội thể thao Đông Nam Á (SEA Games) lần thứ 30 tại Philippines); tham dự giải toàn quốc: 04 giải (04 huy chương vàng, 05 huy chương bạc, 08 huy chương đồng;…

Về sự nghiệp du lịch: Thực hiện tiếp nhận các tác phẩm dự thi, giải đáp và cung cấp các thông tin cho các đối tượng tham gia cuộc thi sáng tác mẫu quà tặng lưu niệm du lịch tỉnh Hậu Giang. Xây dựng kế hoạch tham gia quảng bá, xúc tiến du lịch tỉnh Hậu Giang tại Hội chợ Thương mại Công nghiệp trong chuỗi sự kiện giải Marathon quốc tế tỉnh Hậu Giang năm 2020.

7.3. Lao động và an sinh xã hội

7.3.1. Về tình hình đời sống dân cư và giải quyết việc làm

Đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương trên địa bàn tỉnh trong những tháng đầu năm 2020 được cải thiện đáng kể do chính sách thưởng Tết của các DN và sự hỗ trợ từ nguồn ngân sách địa phương đối với cán bộ công chức nhà nước. Theo báo cáo tình hình tiền lương, tiền thưởng cho người lao động của các DN trên địa bàn tỉnh và qua khảo sát của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐTBXH). Tổng số DN trên địa bàn tỉnh là 1.679 DN; tổng số người lao động là 46.391 lao động. Trong đó, số DN có thưởng Tết Nguyên đán Canh Tý năm 2020 là 24 doanh nghiệp. Mức thưởng bình quân từ 7,5 triệu đồng đến 18 triệu đồng, mức thưởng cao nhất là 177 triệu đồng, mức thưởng thấp nhất là 1,2 triệu đồng.

Nhìn chung cuộc sống của người dân nông thôn vẫn tương đối ổn định. Tuy nhiên, để đời sống của người dân ngày càng được nâng chất thì các cấp Đảng, chính quyền cần có những cơ chế, chính sách phù hợp hơn cho lĩnh vực nông nghiệp như: hỗ trợ các DN trong việc nắm bắt thông tin, hiểu rõ hơn những quy định mới từ các nước nhập khẩu đặt ra để từ đó có thể chủ động lên kế hoạch sản xuất hợp lý, nâng cao chất lượng hàng nông sản giúp nông dân có đầu ra sản phẩm ổn định.

Vấn đề giải quyết việc làm là một trong những vấn đề được Lãnh đạo tỉnh đặc biệt quan tâm, do tỉnh Hậu Giang là một tỉnh nông nghiệp, nguồn lao động trẻ, dồi dào nhưng chưa được đào tạo đúng mức, tay nghề thấp chiếm tỷ lệ lớn nên chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội, người lao động gặp không ít khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi vẫn còn khá cao (Nguồn niên giám Thống kê điều chỉnh 10 năm 2009-2019 do Tổng Cục gửi là 3,07%).

Vì vậy, thời gian qua, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành các chủ trương, chính sách cụ thể, thiết thực, phù hợp nhằm khuyến khích, kêu gọi sự đầu tư của DN trong và ngoài tỉnh, kể cả DN nước ngoài xây dựng các cơ sở mới, quy mô hiện đại hơn, việc quy hoạch các khu, cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp được tỉnh rất chú trọng. Do đó, phần nào giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động, đồng thời làm tăng thu nhập ổn định cuộc sống của người dân.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trưởng, chính sách giải quyết việc làm cho người lao động, ngành LĐTBXH phối hợp với các ngành có liên quan, thông qua các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tư vấn giới thiệu việc làm, tạo việc làm trong và ngoài tỉnh. Cụ thể trong 6 tháng đầu năm 2020 như sau:

- Toàn tỉnh đã giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 9.754/15.000 lao động, đạt 65% kế hoạch năm. Trong đó, đưa lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài là 08 lao động.

- Tư vấn việc làm cho 12.393 lao động; có 2.012 lao động đăng ký tìm việc làm; giới thiệu việc làm cho 1.335 lao động.

- Về lĩnh vực hỗ trợ tuyển dụng lao động cho DN: đã hỗ trợ tuyển dụng 952 lao động cho 26 DN trong và ngoài tỉnh.

- Tổ chức Hội nghị triển khai hỗ trợ tuyển dụng và đào tạo lao động cho doanh nghiệp năm 2020 với hơn 100 đại biểu tham dự. Tại Hội nghị, đã ký kết các Bản Ghi nhớ giữa các bên về công tác hỗ trợ tuyển dụng và đào tạo lao động cho DN. Kết quả, trong năm 2020, tổng nhu cầu hỗ trợ tuyển dụng lao động cho DN là 10.000 lao động, đưa lao động tỉnh Hậu Giang đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài theo hợp đồng 500 lao động và hỗ trợ đào tạo nghề cung ứng cho DN là 5.090 lao động.

7.3.2. An sinh xã hội

Trong 6 tháng đầu năm 2020, Ngành LĐTBXH đã tham mưu UBND tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh năm 2020; triển khai thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid -19 trên địa bàn tỉnh. Bằng nhiều biện pháp hỗ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất như hỗ trợ vốn và các chương trình lồng ghép khác của dự án xóa đói giảm nghèo và sự nỗ lực vươn lên từ các hộ nghèo, đến nay số hộ nghèo đã giảm đáng kể. Tổng hợp kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2019 theo chuẩn tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, cụ thể như sau:

- Tổng số hộ nghèo: 10.088 hộ, chiếm tỷ lệ 4,98% (so với năm 2018 giảm 2,2%, năm 2018 là 14.489 hộ, chiếm tỷ lệ 7,18%).

- Tổng số hộ cận nghèo: 8.832 hộ, chiếm tỷ lệ 4,36% (so với năm 2018 giảm 0,66%, năm 2018 là 10.123 hộ, chiếm tỷ lệ 5,02%).

Công tác bảo trợ xã hội luôn được quan tâm thực hiện: Hàng tháng trợ cấp cho 189.574 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền gần 70,7 tỷ đồng. Hỗ trợ mai táng phí cho 1.119 trường hợp với số tiền hơn 6 tỷ đồng; hỗ trợ đột xuất cho 16 trường hợp với số tiền 186,4 triệu đồng. Cấp trên 24.300 thẻ BHYT cho đối tượng bảo trợ xã hội với kinh phí khoảng 12 tỷ đồng. Bên cạnh đó, ngành LĐTBXH đã phối hợp với Hội Bảo trợ Người khuyết tật - Trẻ mồ côi - Bệnh nhân nghèo tỉnh và Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh tổ chức thăm, tặng 332 phần quà (mỗi phần trị giá 300.000 đồng) cho 332 người khuyết tật nhân Ngày người khuyết tật Việt Nam 18/4/2020, tổng kinh phí 99,6 triệu đồng.

Công tác thực hiện chính sách Người có công luôn được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo sâu sát, uốn nắn kịp thời, nhất là việc triển khai tổ chức thực hiện các quy định mới về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, công tác rà soát thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công. Trợ cấp thường xuyên cho 7.458 (44.748 lượt) người có công với cách mạng với kinh phí gần 60,75 tỷ đồng.

Tình hình thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ và Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 như sau:

- Ngay sau khi Chính phủ dự thảo Nghị quyết lấy ý kiến các Bộ, ngành Trung ương, các địa phương và xã hội về gói an sinh xã hội hỗ trợ các tổ chức, cá nhân bị ảnh hưởng và thiệt hại do đại dịch Covid-19. UBND tỉnh đã chủ động giao nhiệm vụ cho các Sở, ngành và địa phương nghiên cứu, tham khảo và tham mưu để chủ động triển khai thực hiện.

- Tổ chức 08 đoàn đi làm việc với 08 địa phương trên địa bàn tỉnh, sau đó tham mưu UBND tỉnh tổ chức Hội nghị trực tuyến với các huyện, thị xã, thành phố; cũng như tham dự và phục vụ Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết số 42-NQ-CP của Chính phủ và dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19.

- Tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành và triển khai thực hiện Kế hoạch số 840/KH-UBND ngày 27/4/2020 về việc triển khai thực hiện quy định về chính sách hỗ trợ người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh. Đến ngày 20/5/2020, toàn tỉnh đã chi hỗ trợ cho 96.243 người bị ảnh hưởng do đại dịch Covid-19 (bao gồm 5.292 người có công với cách mạng; 25.053 đối tượng Bảo trợ xã hội; 33.094 người thuộc hộ nghèo và 32.804 người thuộc hộ cận nghèo) với tổng kinh phí gần 95 tỷ đồng; đang tiếp tục thực hiện hỗ trợ đối với nhóm lao động tự do và hộ kinh doanh cá thể khai báo thuế dưới 100 triệu đồng, cụ thể đến thời điểm báo cáo:

+ UBND tỉnh đã có Quyết định phê duyệt 82 hộ kinh doanh khai báo thuế dưới 100 triệu/năm với số tiền 82 triệu đồng (đã chi hỗ trợ xong);

+ Sở LĐTBXH đã tiếp nhận 9.265 hồ sơ đề nghị hỗ trợ đối với lao động tự do, đã thẩm định 4.339 hồ sơ, xét đạt trình UBND tỉnh 4.284 hồ sơ, còn 4.926 hồ sơ đang tiếp tục thẩm định. Tính đến ngày 16/6/2020, UBND tỉnh đã có Quyết định phê duyệt 2.484 lao động tự do với số tiền 2.484 triệu đồng và 01 trường hợp người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp với số tiền 01 triệu đồng.

7.4. Y tế

Trong tháng, theo báo cáo của Sở Y tế có 10 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, giảm 01 ca so với tháng trước, cộng dồn là 84 ca, giảm 44 ca so với cùng kỳ; bệnh tay chân miệng có 04 ca mắc mới, giảm 03 ca so với tháng trước, cộng dồn là 81 ca, giảm 84 ca so với cùng kỳ; bệnh sởi, bệnh viêm gan do vi rút, bệnh quai bị trong tháng không ghi nhận ca mắc mới; bệnh dịch lạ như EBOLI, H5N1, MERS-CoV, Zika và các bệnh truyền nhiễm khác chưa ghi nhận ca mắc trên địa bàn tỉnh.

Về dịch Covid-19: Hiện tại tỉnh Hậu Giang chưa có phát hiện ca bệnh, số người được cách ly là 5.278 người; số đủ thời gian cách ly là 5.146 người. Số hiện đang theo dõi cách ly là 132 người (128 người về từ Singapore và 02 nhân viên y tế, 01 người về từ Trung Quốc và 01 là mẹ của người về từ Trung Quốc). Người về từ Trung Quốc đi từ tỉnh Giang Tây qua cửa khẩu tỉnh Hà Giang bằng đường bộ, không khai báo y tế, sau đó đi xe về Hậu Giang, đã được tiến hành cách ly và xét nghiệm kết quả âm tính với virut Sars-Cov-2 lần thứ 1. Hiện tại sức khỏe các trường hợp cách ly đều ổn định, riêng 02 ca ung thư giai đoạn cuối có thể trạng suy kiệt, đau nhiều, đang điều trị nâng đỡ thể trạng và giảm đau.

Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 1.109 trẻ, cộng dồn là 5.481 trẻ, đạt 48,34%; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 1.079 trẻ, cộng dồn là 5.355 trẻ, đạt 47,04%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 1.430 thai phụ, cộng dồn là 4.950 thai phụ, đạt 43,66%; số nhiễm HIV mới phát hiện trong kỳ là 50 ca (giảm 09 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.796 ca (còn sống 1.203 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong kỳ là 08 ca (tăng 02 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.030 ca; Số bệnh nhân tử vong do AIDS trong kỳ là 08 ca (tương đương cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 593 ca. Khám và cấp thuốc cho 493 lượt bệnh nhân. Số người hiện đang điều trị Methadone là 59 người. Tổng số bệnh nhân điều trị ARV là 812 người.

Trong thời gian tới, Sở Y tế tiếp tục triển khai chiến dịch phòng, chống dịch bệnh; tăng cường chỉ đạo thực hiện tốt kế hoạch phòng, chống dịch bệnh chủ động, hạn chế tối đa số ca mắc mới. Chủ động phòng chống các bệnh dịch xâm nhập từ bên ngoài, tăng cường công tác giám sát, phát hiện sớm, dập dịch kịp thời, không để dịch bệnh lớn xảy ra; từng bước kiểm soát các yếu tố có hại đến sức khỏe liên quan đến môi trường, an toàn thực phẩm, lối sống và hành vi của người dân.

7.5. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, trong tháng 6, trên địa bàn tỉnh xảy ra 09 vụ tai nạn giao thông, làm chết 06 người và làm bị thương 04 người. So với tháng trước, tăng 03 vụ tai nạn, số người chết tăng 01 người và số người bị thương tăng 03 người, tất cả đều tập trung ở đường bộ (đường thủy không xảy ra tai nạn giao thông). So với cùng kỳ năm trước, giảm 01 vụ (đường thủy), số người chết giảm 03 người (đường bộ giảm 02 người, đường thủy giảm 01 người) và số người bị thương tăng 02 người (đường bộ tăng 03 người, đường thủy giảm 01 người).

Trong 6 tháng đầu năm 2020, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra tổng cộng 30 vụ tai nạn giao thông, làm chết 23 người và làm bị thương 08 người, tất cả tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước, giảm 20 vụ (đường bộ giảm 18 vụ, đường thủy giảm 02 vụ), số người chết giảm 22 người (đường bộ giảm 20 người, đường thủy giảm 02 người) và số người bị thương giảm 03 người (tập trung ở đường bộ).

7.6. Tình hình môi trường, thiên tai và phòng, chống cháy, nổ

Ngành chức năng tiếp tục giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các cơ sở có thông tin phản ánh để kịp thời xử lý theo quy định. Tính đến tháng 6, ngành chức năng phát hiện 20 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 18 vụ, với số tiền xử phạt là 164 triệu đồng.

Về tình hình thiên tai: Tính từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 27 điểm sạt lở (huyện Châu Thành 26 điểm, huyện Châu Thành A 01 điểm). So với cùng kỳ tăng 3 điểm. Tổng chiều dài sạt lỡ là 693 m, diện tích mất đất là 3.619 m2. Ước tổng thiệt hại khoảng 2.023 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2019, tăng 205,3 m về chiều dài sạt lỡ, tăng 730,3 m2 về diện tích mất đất và thiệt hại tăng 655,1 triệu đồng; dông lốc làm sập 03 căn nhà, tốc mái 01 căn, ước tổng thiệt hại khoảng 44,3 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 190,7 triệu đồng. Tổng thiệt hại do thiên tai từ đầu năm đến nay khoảng 2.067,3 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước tăng 464,4 triệu đồng.

Về công tác phòng, chống cháy, nổ luôn được các ngành chức năng quan tâm thực hiện, định kỳ có kiểm tra, hướng dẫn người dân, các cơ sở kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy. Mặc dù được quan tâm thực hiện tốt nhưng tính từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 5 vụ cháy, may mắn không thiệt hại về người, ước tổng tài sản thiệt hại khoảng 854 triệu đồng.

8. Đề xuất giải pháp

Trong 6 tháng đầu năm 2020, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sản xuất, kinh doanh của tỉnh. Vì vậy, để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020, trong các tháng cuối năm các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị cần tập trung cao trong công tác chỉ đạo, điều hành, nghiêm túc quán triệt, thực hiện các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân tỉnh về triển khai thực hiện nhiệm vụ, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

- Một là, tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư, giải quyết khó khăn cho doanh nghiệp.

- Hai là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

- Ba là, tái cơ cấu nông nghiệp, thủy sản, cây ăn trái gắn với xây dựng nông thôn mới: Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nền nông nghiệp có giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững trên cơ sở tập trung cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới.

- Bốn là, phát triển công nghiệp - xây dựng, nâng cao hiệu quả đầu tư công: Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu công nghiệp; kêu gọi thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp, phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp; tăng cường xúc tiến thu hút đầu tư nhằm nâng cao tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp. đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình xây dựng cơ bản, mà đặc biệt là các công trình trọng điểm trên địa bàn; đồng thời gắn với việc giám sát, kiểm tra chất lượng công trình, nhanh chóng hoàn thành các công trình xây dựng cơ bản đang tồn đọng nhất là các công trình dự án trọng điểm đã bố trí vốn (giao thông, nông nghiệp, y tế, giáo dục, v.v…).

- Năm là, phát triển dịch vụ và đẩy mạnh xuất khẩu: Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, liên kết vùng, kết nối cung cầu nhằm đưa các sản phẩm chủ lực, hàng thủ công mỹ nghệ của tỉnh Hậu Giang vào hệ thống phân phối hiện đại, các điểm tham quan du lịch trong tỉnh và các tỉnh thành trong cả nước. Theo dõi diễn biến giá cả thị trường và công tác bình ổn thị trường. Tăng cường công tác quản lý thị trường, kịp thời phát hiện những trường hợp đầu cơ, gây mất cân bằng cung cầu, xử lý nghiêm những trường hợp kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng; quản lý giá bán theo giá niêm yết, xử lý các vi phạm về giá.

- Sáu là, đẩy mạnh khai thác thế mạnh tiềm năng về du lịch trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là du lịch nông nghiệp.

 

[1]  Nguyên nhân các DN tạm ngừng hoạt động là do điều kiện kinh doanh khó khăn, kinh doanh không hiệu quả, cần có thời gian sắp xếp lại bộ máy và phương thức kinh doanh của công ty cho phù hợp với điều kiện của tỉnh

[2] Các DN giải thể là các DN siêu nhỏ, nguồn vốn, công nghệ lạc hậu, năng lực quản trị rất hạn chế, kinh doanh không hiệu quả, không có khả năng mở rộng quy mô. Các DN giải thể thuộc các lĩnh vực xây dựng, vận tải và bán buôn trong các cửa hàng chuyên doanh khác.

[3] Diện tích gieo trồng lúa hè thu giảm so với cùng kỳ năm trước là do ảnh hưởng của hạn mặn, nên bà con nông dân xuống giống muộn hơn so với cùng kỳ.

[4] Nguyên nhân đàn gia cầm tăng là do ngành thú y thực hiện tốt công tác tiêm phòng, quản lý, giám sát dịch bệnh, dịch cúm gia cầm, không để dịch bệnh xảy ra trên địa bàn tỉnh; giá cả biến động theo hướng tăng, người chăn nuôi có lãi nên đầu tư tái đàn, mở rộng quy mô sản xuất.