Tháng 7
09:08 03/08/2020

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang tháng 7 năm 2020

 

Trong những tháng đầu năm 2020, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh chịu ảnh hưởng do dịch bệnh, lĩnh vực bị tác động lớn nhất là thương mại, dịch vụ. Được sự quan tâm lãnh, chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh và các cấp, các ngành ở địa phương, đến nay đã có nhiều chuyển biến tích cực hơn so với những tháng đầu năm, kinh tế dần dần được phục hồi và phát triển, tình hình đời sống dân cư cũng được đảm bảo sau đại dịch. Cụ thể, kết quả hoạt động từng ngành, từng lĩnh vực như sau:

1. Tài chính, tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu Ngân sách nhà nước tháng 7/2020 được 587,22 tỷ đồng, luỹ kế được 6.499,51 tỷ đồng, đạt 86,18% dự toán Trung ương, đạt 64,95% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Trung ương trợ cấp được 311,13 tỷ đồng, luỹ kế được 2.451,62 tỷ đồng, đạt 62,85% dự toán Trung ương, đạt 59,57% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; thu nội địa được 243,50 tỷ đồng, luỹ kế được 1.890,90 tỷ đồng, đạt 58,34% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi Ngân sách địa phương tháng 7/2020 được 643,54 tỷ đồng, luỹ kế được 4.564,93 tỷ đồng, đạt 66,61% dự toán Trung ương, đạt 49,75% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Chi xây dựng cơ bản được 284,64 tỷ đồng, luỹ kế được 1.992,46 tỷ đồng, đạt 77,66% dự toán Trung ương và đạt 46,81% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; chi thường xuyên được 358,90 tỷ đồng, luỹ kế được 2.512,32 tỷ đồng, đạt 60,18% dự toán Trung ương, đạt 52,26% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 30/6/2020, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 15.043 tỷ đồng, tăng trưởng 4,57% so với cuối năm 2019. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước huy động được 9.657 tỷ đồng (chiếm 64,20%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 4.805 tỷ đồng (chiếm 31,94%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 540 tỷ đồng (chiếm 3,59%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 41 tỷ đồng (chiếm 0,27%). Vốn huy động đáp ứng được 63,11% cho hoạt động tín dụng. Hiện, lãi suất không kỳ hạn đến dưới 1 tháng phổ biến từ 0,1-0,2%/năm; lãi suất từ 01 tháng đến dưới 06 tháng từ mức 4,0-4,25%/năm; lãi suất từ 06 tháng đến dưới 12 tháng từ 4,9-5,1%; lãi suất từ 12 tháng trở lên từ 6,0-6,5%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 7/2020, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn được 15.419 tỷ đồng, tăng trưởng 2,5% so với cuối tháng 6/2020, tương ứng tăng trưởng 7,18% so với cuối năm 2019.

Đến ngày 30/6/2020, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn được 23.838 tỷ đồng, tăng trưởng 1,91% so với cuối năm 2019. Trong tổng dư nợ thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước được 16.635 tỷ đồng (chiếm 69,78%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 4.637 tỷ đồng (chiếm 19,45%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 2.522 tỷ đồng (chiếm 10,58%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 44 tỷ đồng (chiếm 0,19%). Đến thời điểm hiện nay, lãi suất cho vay luôn được giữ ở mức ổn định, đối với các lĩnh vực ưu tiên lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam phổ biến là 5,0%/năm; cho vay trung, dài hạn ở mức 10-11%/năm; các lĩnh vực khác lãi suất cho vay ngắn hạn từ 9,0- 9,5%/năm; trung, dài hạn từ 10,5-13%. Ước thực hiện đến cuối tháng 7/2020, dư nợ được 24.362 tỷ đồng, tăng trưởng 2,2% so với cuối tháng 6/2020, tương ứng tăng trưởng 4,15% so với cuối năm 2019.          

Nợ quá hạn đến ngày 30/6/2020 là 666 tỷ đồng, chiếm 2,8% trên tổng dư nợ; nợ xấu là 421 tỷ đồng, chiếm 1,77% trên tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 245 tỷ đồng, chiếm 40,96% trên tổng nợ quá hạn. Dự báo đến cuối tháng 7/2020, nợ xấu toàn địa bàn vẫn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.

Một số Đề án, Chương trình, Chính sách tín dụng trọng điểm theo Chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và địa phương đạt được kết quả sau:

- Cho vay thu mua lúa, gạo xuất khẩu và tiêu dùng dư nợ 2.120 tỷ đồng, tăng trưởng 3,21% so với cuối năm 2019.

- Cho vay nuôi trồng, chế biến thủy sản dư nợ 2.196 tỷ đồng, giảm 24,69% so với năm 2019, với 882 hộ dân và 12 doanh nghiệp còn dư nợ; nợ xấu 21 tỷ đồng, chiếm 0,96%.

- Các chương trình tín dụng chính sách dư nợ đạt 2.522 tỷ đồng, tăng trưởng 4,91% với cuối năm 2019; với 126.678 món vay còn dư nợ.

- Chương trình kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp dư nợ được 5.989 tỷ đồng, với 323 doanh nghiệp được tiếp cận vốn.

- Cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn dư nợ được 16.593 tỷ đồng, tăng trưởng 3,86% so với cuối năm 2019, chiếm 71,53% trên tổng dư nợ.

- Dư nợ cho vay xây dựng nông thôn mới toàn địa bàn đạt 9.086 tỷ đồng, tương ứng với 124.993 hộ dân, 115 doanh nghiệp và 22 Hợp tác xã.

2. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16/7/2020, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang là 20.495,99 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.326,99 tỷ đồng.

- Vốn Vay: 37 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 2.150 tỷ đồng.             

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 15.982 tỷ đồng.

        Ước tính tháng 7/2020, vốn đầu tư thực hiện được 1.971,28 tỷ đồng, bằng 116,69% so với cùng kỳ năm trước và bằng 106,07% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn đầu tư thực hiện tăng so với tháng trước là do tình hình dịch Covid-19 trên cả nước đã được kiểm soát tốt, hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh cơ bản trở lại trạng thái bình thường; đồng thời được Lãnh đạo Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh quan tâm chỉ đạo giải quyết nhanh, kịp thời các khó khăn vướng mắc và tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện, sớm đưa các công trình hoàn thành vào khai thác, sử dụng đạt hiệu quả cao, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh; triển khai nhanh việc lập hồ sơ, thủ tục các dự án mới đã được bố trí vốn bổ sung.

Ước tính 7 tháng, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh thực hiện được 12.064,23 tỷ đồng, bằng 108,05% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 58,86% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.270,26 tỷ đồng, bằng 116,11% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 54,59% so với kế hoạch năm. 

- Vốn vay thực hiện được 4,50 tỷ đồng, đạt 12,16% so với kế hoạch năm.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 1.275,76 tỷ đồng, bằng 137,39% so với cùng kỳ năm trước và đạt 59,34% so với kế hoạch năm.            

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 9.513,71 tỷ đồng, bằng 104,06% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 59,53% so với kế hoạch năm.

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong tháng, ngành nông nghiệp tập trung vào công tác thu hoạch lúa hè thu. Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, công tác, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật và kiểm tra vệ sinh thú y, phối hợp thực hiện tốt công tác kiểm tra an toàn vệ sinh thực phẩm trong nông nghiệp. Tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân về phòng chống cháy rừng và tổ chức kiểm tra công tác phòng, chống cháy rừng ở các điểm trọng yếu. Tăng cường chỉ đạo công tác khắc phục thiệt hại do dịch bệnh. Hướng dẫn các địa phương áp dụng các biện pháp chăn nuôi heo an toàn sinh học, để bảo vệ và phát triển tổng đàn hiện có. Kết quả cụ thể từng lĩnh vực như sau:

3.1. Nông nghiệp

Lúa hè thu, đến nay, toàn tỉnh ước xuống giống được 77.340 ha, đạt 100,83% so với kế hoạch (kế hoạch tỉnh 76.700 ha), so với cùng kỳ giảm 0,95% (bằng 742 ha). Các giống lúa được trồng chủ yếu như: OM5451, OM 18, Đài Thơm 8, IR50404,… Hiện nay, diện tích lúa hè thu đã thu hoạch được 44.782 ha, giảm 7,27% (bằng 3.511 ha) so với cùng kỳ, ước năng suất được 60,24 tạ/ha.

Mía niên vụ 2020, toàn tỉnh đã xuống giống được 5.909 ha, giảm 28,94% (giảm 2.406 ha) so với cùng kỳ, mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, thành phố Vị Thanh và thành phố Ngã Bảy. Hiện nay, mía đã thu hoạch được 272 ha, Sản lượng mía thu hoạch được chủ yếu để ép lấy nước mía.

Diện tích gieo trồng ngô, đến nay toàn tỉnh xuống giống được 1.665 ha, giảm 14,77% (bằng 288 ha) so cùng kỳ năm trước, năng suất sơ bộ được 55,20 tạ/ha, tăng 0,18% (bằng 0,1 tạ/ha) so với cùng kỳ, sản lượng sơ bộ được 8.127 tấn, giảm 1,1% (bằng 91 tấn) so với cùng kỳ.

Diện tích gieo trồng rau, đậu các loại được 16.832 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 12,89% (bằng 1.921 ha), nguyên nhân diện tích gieo trồng tăng là do người dân chuyển đổi diện tích từ trồng mía sang.

Về tình hình dịch bệnh: Bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại trên lúa hè thu như sâu cuốn lá, rầy nâu, chuột, nhện gié, bệnh cháy bìa lá, đạo ôn cổ bông và lem lép hạt... Ngành chức năng đang tích cực hướng dẫn bà con nông dân có biện pháp phòng trừ hiệu quả, xử lý theo nguyên tắc 4 đúng để đạt hiệu quả cao. Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đã và đang được ngăn chặn kịp thời.

Tình hình gieo trồng một số loại cây lâu năm chủ yếu của tỉnh như sau:

- Cây mít: Diện tích hiện có ước được 6.432 ha, tăng 84,3% so với cùng kỳ năm trước (bằng 2.943 ha), sản lượng thu hoạch ước được 17.510 tấn. Diện tích cây mít tăng chủ yếu tập trung ở huyện Châu Thành, Thành phố Ngã Bảy và huyện Phụng Hiệp.

- Cây xoài: Diện tích hiện có ước được 3.736,5 ha, tăng 0,74% so với cùng kỳ năm trước (bằng 27,6 ha), sản lượng thu hoạch 7 tháng, ước được 17.254,87 tấn, tăng 4,45% so với cùng kỳ (bằng 735,9 tấn).

- Cây chuối: Diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước được 3.022,6 ha, tăng 0,52% (bằng 15,5 ha) so với cùng kỳ, sản lượng thu hoạch 7 tháng, ước được 19.745,89 tấn, tăng 4,75% so với cùng kỳ năm trước (bằng 894,8 tấn).

- Cây dứa (khóm): Diện tích gieo trồng ước được 2.281,9 ha, giảm 3,09% so với cùng kỳ (bằng 72,7 ha), sản lượng thu hoạch 7 tháng, được 16.307,76 tấn, tăng 4,83% so với cùng kỳ năm trước (bằng 751,1 tấn).

- Cây cam: Diện tích gieo trồng ước được 10.861,7 ha, tăng 1,11% so với cùng kỳ (bằng 119 ha), sản lượng thu hoạch 7 tháng, ước được 42.784,1 tấn, tăng 4,83% so với cùng kỳ năm trước (bằng 1.970,4 tấn).

- Cây bưởi: Diện tích gieo trồng ước được 1.650,5 ha, tăng 4,51% so với cùng kỳ (bằng 71,2 ha). Sản lượng thu hoạch 7 tháng, ước được 4.195,52 tấn, tăng 4,68% so với cùng kỳ năm trước (bằng 187,7 tấn).

- Cây nhãn: Diện tích gieo trồng ước được 900,4 ha, tăng 2,77% so với cùng kỳ (bằng 24,3 ha), sản lượng thu hoạch ước được 3.237,96 tấn, tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước (bằng 149,4 tấn).

3.2. Chăn nuôi

Ước tính đến thời điểm hiện tại, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

- Đàn lợn (heo): Hiện có 93.849 con (không tính lợn con chưa tách mẹ), giảm 31,32% (giảm 42.805 con) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, heo thịt được 81.396 con, giảm 32,27% (giảm 38.788 con). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng từ đầu năm đến nay được 11.029 tấn, giảm 27,06% (bằng 4.091 tấn).

- Đàn trâu: Hiện có 1.447 con, giảm 3,34% (bằng 50 con) so với cùng kỳ năm trước.

- Đàn bò: Hiện có 3.619 con, tăng 3,85% (bằng 134 con) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tính chung 7 tháng được 140 tấn, tăng 13,61% so với cùng kỳ năm trước.

- Đàn gia cầm: Hiện có 4.308 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 8,29% (tăng 330 ngàn con). Trong đó, đàn gà có 1.379 ngàn con, tăng 10,23% (tăng 128 ngàn con). Sản lượng trứng gia cầm 7 tháng, được 81.247 ngàn quả, tăng 4,17% so với cùng kỳ năm trước (bằng 3.256 ngàn quả).

Ngành chức năng tiếp tục duy trì các chốt kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật tại các điểm trên quốc lộ, các tuyến đường chính để kiểm soát việc vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tiêu độc khử trùng các phương tiện đi qua ổ dịch. Đến nay, dịch cúm gia cầm không xuất hiện trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, ngành Thú y tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh.

3.3. Lâm nghiệp

Tính từ đầu năm đến nay, diện tích rừng trồng mới ước được 111 ha, tăng 3,74% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng gỗ khai thác ước được 6.323 m3 gỗ, tăng 2,38% (bằng 147 m3) so với cùng kỳ, sản lượng củi khai thác ước được 55.679 ste, giảm 1,10% (bằng 621 ste) so với cùng kỳ.    

Công tác bảo vệ và quản lý rừng: Công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định; công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô được ngành chức năng chỉ đạo quyết liệt, đã nâng cấp cảnh báo cháy rừng toàn tỉnh lên cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm) trên tất cả các khu rừng. Ban chỉ đạo tỉnh, các Ban chỉ huy huyện, xã tổ chức các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, kiểm tra công tác tác ứng trực cháy rừng hằng ngày từ Văn phòng Ban chỉ đạo tỉnh đến huyện, xã và chủ rừng xuyên suốt kể cả thứ bảy, chủ nhật, thường xuyên theo dõi kiểm tra và cảnh báo kịp thời đến người dân.

3.4. Thủy sản

Đến nay, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh, ước tính được 6.942 ha, tăng 4,74% so cùng kỳ năm trước (bằng 314 ha). Trong đó: Diện tích cá nuôi được 6.800 ha, tăng 4,80% (bằng 312 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Tổng sản lượng thủy sản 7 tháng, ước được 39.851 tấn, tăng 3,7% (bằng 1.423 tấn) so với cùng kỳ. Chia ra: Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 37.965 tấn, tăng 3,93% (bằng 1.434 tấn); sản lượng thủy sản khai thác được 1.886 tấn, giảm 0,60% (bằng 11 tấn).

4. Tình hình sản xuất công nghiệp

Hiện nay, Nhà nước đã thực hiện nhiều chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao hiệu quả đầu tư sản xuất. Chính sách phù hợp đã tạo môi trường tốt cho các doanh nghiệp phát triển, chủ động trang bị thêm máy móc, thiết bị hiện đại để gia tăng sản lượng sản xuất góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh, thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đảm bảo việc làm cho nguồn lao động của tỉnh nhà và thực hiện tốt các vấn đề an sinh xã hội.

Ước tính tháng 7/2020, giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá so sánh 2010, được 2.513,76 tỷ đồng, tăng 2,61% so với tháng trước và tăng 10,30% so với cùng kỳ. Tính theo giá thực tế, được 3.935,57 tỷ đồng, tăng 3,53% so với tháng trước và tăng 21,66% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 99,17% trong tổng giá trị toàn tỉnh và tăng 21,87% so với cùng kỳ. Hiện nay, tỉnh đã đưa ra nhiều chính sách thuận lợi để chuyển hóa các thách thức thành động lực tăng trưởng mới, tập trung phục hồi các ngành bị ảnh hưởng do dịch bệnh, phát triển mới chuỗi cung ứng nội địa và tăng cường xuất khẩu. Vì vậy, giá trị sản xuất công nghiệp trong thời gian tới có thể sẽ tăng so với cùng kỳ.

Ước tính 7 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá so sánh 2010, được 15.509,87 tỷ đồng, tăng 4,11% so với cùng kỳ và đạt 47,52% so với kế hoạch năm. Tính theo giá thực tế, được 23.026,56 tỷ đồng, tăng 8,08% so với cùng kỳ và đạt 49,31% so với kế hoạch năm. Nhìn chung, 7 tháng năm 2020, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối đồng đều và ổn định. Tuy nhiên, dù đã có sự tăng trưởng trở lại, nhưng một số ngành nghề vẫn chưa được phục hồi như trước, do bị ảnh hưởng từ dịch Covid-19, thị trường xuất khẩu và giá cả một số yếu tố không ổn định như: Điện, xăng dầu, nguồn nguyên liệu,… Do đó, để hoàn thành kế hoạch năm 2020, các doanh nghiệp cần tập trung khắc phục những tồn tại, hạn chế, đồng thời cần đưa ra nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững, đem lại hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp đang đầu tư sớm đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính tháng 7/2020, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh tăng 2,77% so với tháng trước và tăng 8,26% so với cùng kỳ. Kết quả từng ngành như sau:

- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tăng 2,82% so với tháng trước và tăng 8,23% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do có sự đóng góp đáng kể của các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành như: Sản xuất đồ uống, chế biến gỗ, sản xuất giấy, in sao chép bản ghi các loại,… Những doanh nghiệp này trong thời gian qua đã đầu tư mở rộng quy mô diện tích sản xuất, đầu tư máy móc, trang thiết bị nâng cao năng suất, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm tăng tính cạnh tranh trên thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh. Do đó, sản lượng sản xuất của các doanh nghiệp này tăng và làm tăng chỉ số sản xuất ngành công nghiệp của tỉnh. Cụ thể:

+ Ngành sản xuất đồ uống tăng 11,17% so với tháng trước và tăng 323,25% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Number One Hậu Giang với sản phẩm chính là các loại nước uống không cồn đóng chai, đầu tư hoàn thành chạy thử từ tháng 3/2019 và hoạt động ổn định, đến nay thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp đã được mở rộng hơn. Vì vậy, sản lượng sản xuất của doanh nghiệp tháng 7 năm 2020 tăng đột biến 419,03% so với cùng kỳ. Ngoài ra, còn có Công Ty TNHH Mtv Masan Brewery Hậu Giang với sản phẩm chính là bia Sư Tử Trắng, đã tạo được thương hiệu, doanh nghiệp không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm nên được người tiêu dùng chấp nhận. Vì vậy, sản lượng sản xuất của doanh nghiệp tăng 273,30% so với cùng kỳ, nhưng sản lượng vẫn chưa đạt kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra và còn rất thấp so với công suất thiết kế của nhà máy. Mặc dù ảnh hưởng từ Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ và dịch Covid-19 nhưng ngành sản xuất đồ uống vẫn tăng cao so với cùng kỳ là do thay đổi về phương thức, cơ cấu lại sản phẩm, đa dạng hóa thị trường, chiến lược phát triển nguồn lao động, maketing, phương thức bán hàng,…

+ Ngành chế biến gỗ tăng 3,69% so với tháng trước và tăng 4,76% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng là do các doanh nghiệp và các cơ sở cá thể công nghiệp đã đầu tư thêm máy móc thiết bị, mở rộng được thị trường tiêu thụ. Vì vậy, sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước và cùng kỳ.

+ Ngành sản xuất giấy tăng 14,35% so với tháng trước và tăng 1,74% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Giấy Lee & Man Việt Nam với sản phẩm chính là giấy cuộn và bìa giấy. Theo tình hình hiện nay, các thị trường xuất nhập khẩu đã nới lỏng chính sách giãn cách xã hội, doanh nghiệp cũng đã chủ động được nguồn nguyên vật liệu, thị trường tiêu thụ có xu hướng ổn định lại. Vì vậy, sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước và cùng kỳ.

+ Ngành In, sao chép bản ghi các loại tăng 18,56% so với tháng trước và tăng 3,65% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty TNHH TM Dịch vụ In Hậu Giang là doanh nghiệp lớn trên địa bàn tỉnh hoạt động trong ngành này, đã tăng sản lượng sản xuất để phục vụ nhu cầu thị trường tiêu thụ trong nước nên chỉ số ngành này tăng so với tháng trước và cùng kỳ.

+ Bên cạnh đó, có một số ngành tăng so với tháng trước như: Sản xuất da tăng 7,33%; sản xuất trang phục tăng 5,29%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 4,14% và các ngành trên cũng giảm lần lượt so với cùng kỳ là: 17,04%; 14,51%; 13,82%. Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 nên khó khăn trong chuỗi cung ứng nguyên vật liệu, thị trường xuất khẩu và tiêu thụ không ổn định, chi phí đầu vào tăng làm giá thành sản phẩm tăng, khó tìm hợp đồng mới để tiêu thụ,… Vì vậy, các doanh nghiệp đã giảm sản lượng sản xuất làm ảnh hưởng đến chỉ số sản xuất chung của toàn ngành công nghiệp.

- Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: Giảm 6,36% so với tháng trước và tăng 9,58% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty Điện lực đã cung cấp đủ điện, an toàn phục vụ phát triển kinh tế xã hội, hạn chế tối đa không để tình trạng mất điện, đảm bảo nhu cầu sử dụng cho người dân và các doanh nghiệp được hoạt động liên tục. Tuy nhiên, hiện nay đã qua đợt cao điểm nắng nóng, nên người dân cũng hạn chế sử dụng các đồ dùng, trang thiết bị gia đình bằng điện trong sinh hoạt, nhất là sử dụng máy điều hòa. Vì thế, sản lượng truyền tải và phân phối điện giảm 7% so với tháng trước và tăng 10,95% so với cùng kỳ.

- Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: Giảm 0,48% so với tháng trước và tăng 13,45% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm so với tháng trước là do hiện nay đang bước vào mùa mưa, nên một số người dân đã dùng nước mưa thay cho một phần nước sạch trong sinh hoạt. Vì vậy, sản lượng sản xuất nước sạch sinh hoạt tháng 7 giảm so với tháng trước.

Tính chung 7 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trên địa bàn tỉnh, tăng 4,23% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, tăng 4,20%; ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,41%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,89%.

5 Hoạt động thương mại, dịch vụ

5.1. Bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Ước tính tháng 7/2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 3.147,06 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh là 368,67 tỷ đồng), so với thực hiện tháng trước bằng 106,66% và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,17%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước thực hiện được 2.392,60 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 105,92% và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,06%. Bước qua tháng 7, tình hình dịch Covid-19 ở nước ta đã được kiểm soát tốt, hoạt động thương mại diễn ra sôi động hơn. Hầu hết các nhóm hàng hóa tiêu dùng tăng trở lại, cụ thể một số nhóm hàng tăng so với tháng trước như: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 6,33%; nhóm hàng may tăng 3,71%; nhóm đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 4,91%; nhóm hàng xăng, dầu tăng 9,7%,… Doanh thu bán lẻ tăng so với tháng trước là do trong tháng có diễn ra Hội chợ Nông nghiệp và Thương mại tổng hợp (ở thị xã Long Mỹ và thành phố Vị Thanh) nên kích thích nhu cầu mua sắm của người dân.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước tính được 472,89 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 109,47% và so với cùng kỳ năm trước bằng 100,83%. Hiện nay, hoạt động kinh doanh của cơ sở lưu trú đã dần ổn định, nhà hàng, cơ sở kinh doanh hàng ăn uống, … đã hoạt động nhộn nhịp hơn, đa dạng hóa hình thức bán hàng vừa bán tại chổ vừa giao hàng tận nơi theo yêu cầu, để phát triển kinh doanh phục hồi sau dịch bệnh.

- Doanh thu dịch vụ khác thực hiện được 281,57 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 108,46% và so với cùng kỳ năm trước bằng 100,95%. Hầu hết ngành dịch vụ trên địa bàn tỉnh ước tính tăng so với tháng trước. Cụ thể: Dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 8,43%; dịch vụ hành chính và hỗ trợ tăng 8,78%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng 10,45%,… do các công trình xây dựng, các cơ sở cho thuê nhà ở dài hạn dành cho sinh viên, người lao động đã hoạt động ổn định, nhu cầu các dịch vụ cho thuê máy móc trong xây dựng, dịch vụ hành chính văn phòng cũng sẽ tăng khi các công trình xây dựng và hoạt động hành chính trở lại bình thường, đặc biệt tháng 7 cũng là kỳ nghỉ hè của học sinh, sinh viên nên nhu cầu sử dụng dịch vụ vui chơi, giải trí nhiều hơn nên làm cho doanh thu tăng khá cao so với tháng trước.

Ước tính 7 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 20.659,72 tỷ đồng (Trong đó, chi nhánh của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh là 2.518,42 tỷ đồng), so với cùng kỳ năm trước bằng 89,41%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa thực hiện được 15.948,70 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 92,09%.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành thực hiện được 2.935,11 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 76,97%.

- Doanh thu dịch vụ khác thực hiện được 1.775,92 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 89,84%.

Dịch bệnh Covid-19 tác động sâu rộng đến nền kinh tế, trong đó lĩnh vực thương mại, dịch vụ được đánh giá là chịu thiệt hại nặng nề nhất. Tuy nhiên, thời gian qua lĩnh vực này từng bước được phục hồi và ưu tiên phát triển. Vì vậy, đòi hỏi các cấp, các ngành của tỉnh cần có những phương hướng tích cực, phù hợp hơn nữa với tình hình hiện nay để ổn định kinh tế địa phương và phát triển tiềm năng thế mạnh trong thời gian tới.

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu

        Ước thực hiện tháng 7, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp được 77,184 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 90,77% và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,93%. Chia ra:

- Xuất khẩu được 46,049 triệu USD, so với tháng trước bằng 99,67% và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,29%. Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu giảm so với tháng trước là do hiện nay tình hình dịch bệnh ở những thị trường nhập khẩu chính của các doanh nghiệp ở Hoa Kỳ, các nước EU, Nhật Bản.... đang có nhiều diễn biến phức tạp và có nguy cơ cao đối mặt với làn sóng bùng phát dịch lần hai. Gần đây, nhiều nước cũng đã tiến hành thực hiện trở lại các biện pháp phong tỏa cục bộ một số khu vực để phòng chống dịch bệnh. Vì vậy, dự báo nhận định trong tháng tới giá trị xuất khẩu có thể sẽ giảm nhẹ.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 31,135 triệu USD, so với tháng trước bằng 80,17% và so với cùng kỳ năm trước bằng 75,34%.

        Ước thực hiện 7 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 528,951 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 103,33% và so với kế hoạch năm đạt 50,67%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 311,424 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 111,10% và so với kế hoạch năm đạt 44,11%.

       

- Nhập khẩu ước thực hiện được 182,965 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 92,41% và so với kế hoạch năm đạt 66,78%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 1,460 triệu USD, tăng cao so với cùng kỳ năm trước bằng 265,94% và so với kế hoạch năm đạt 146,00%

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 33,102 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 100,11% và so với kế hoạch năm đạt 52,54%.

Tình hình dịch bệnh trên thế giới đang có nhiều diễn biến phức tạp khi gần đây trên toàn thế giới liên tục ghi nhận số ca nhiễm bệnh mới tăng cao kỷ lục trong một ngày. Dịch bệnh diễn ra không chỉ ảnh hưởng đến kinh tế, đời sống của người dân mà còn tác động mạnh mẽ đến mối quan hệ địa chính trị giữa các quốc gia, mối quan hệ giữa hai cường quốc kinh tế Mỹ và Trung Quốc đang ngày càng leo thang căng thẳng khiến hoạt động kinh tế giao thương giữa hai nước bị ảnh hưởng nặng đồng thời tác động lớn đến nhiều quốc gia khác trong đó có Việt Nam.

Do đó, đứng trước thách thức trước mắt đồng thời cũng là cơ hội, các doanh nghiệp cần chủ động xây dựng kịch bản, chương trình kế hoạch ứng phó, tìm kiếm cơ hội trong nguy khó để bức phá, tạo động lực tăng trưởng cho hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa, không chỉ của riêng doanh nghiệp mà còn cho sự tăng trưởng kinh tế chung của tỉnh. Doanh nghiệp cần tạo mối liên kết chặt chẽ với các ngành chức năng để kịp thời nắm bắt các thông tin diễn biến về tình hình dịch bệnh, thiên tai tác động đến thị trường của các nước. Từ đó, đón đầu tạo ra sản phẩm phù hợp theo nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu, tạo điều kiện cho sản phẩm được xuất khẩu sang nhiều thị trường hơn nhằm tăng giá trị xuất khẩu, đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung của nền kinh tế.

5.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Trong tháng tình hình vận tải, kho bãi có chuyển biến tăng nhẹ trở lại so với tháng trước nhưng vẫn giảm so với cùng kỳ năm trước, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19. Hiện nay, các cơ sở cá thể và các doanh nghiệp hoạt động vận tải trên địa bàn đang dần dần khôi phục hoạt động vận chuyển, do dịch bệnh trong nước đã được kiểm soát tốt nên sinh hoạt của người dân đã trở lại bình thường, nhu cầu đi lại vì thế cũng tăng lên so với những tháng trước đó.

Ước thực hiện tháng 7/2020, tổng doanh thu vận tải, kho bãi thực hiện được 88,78 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 89,27%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 30,88 tỷ đồng, bằng 90,57% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 32,02 tỷ đồng bằng 87,09% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 25,88 tỷ đồng bằng 90,54% so với cùng kỳ năm trước.

Ước thực hiện 7 tháng, tổng doanh thu vận tải, kho bãi được 601,50 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 93,78%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 209,08 tỷ đồng bằng 84,56% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 227,33 tỷ đồng bằng 82,04% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 165,09 tỷ đồng, bằng 141,08% so với cùng kỳ năm trước.

5.3.1. Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Ước thực hiện tháng 7/2020, toàn tỉnh vận chuyển được 578,09 nghìn tấn hàng hóa các loại (42.929,82 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 103,83% (103,62%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,79% (87,29%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 135,80 nghìn tấn (8.017,81 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 102,47% (104,07%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,12% (89,98%).

- Đường sông thực hiện được 442,29 nghìn tấn (34.912 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 104,26% (103,51%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,99% (86,69%).

Ước thực hiện 7 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 4.127,36 nghìn tấn hàng hóa các loại (287.483,57 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 94,04% (93,26%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 978,72 nghìn tấn (53.004,97 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 99,39% (99,02%).

 - Đường sông thực hiện được 3.148,64 nghìn tấn (234.478,60 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 92,50% (92,05%).

5.3.2. Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Ước thực hiện tháng 7/2020, toàn tỉnh thực hiện được 4.853,15 nghìn lượt hành khách (39.039,89 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 101,94% (103,41%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 93,97% (93,90%). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 2.751,06 nghìn lượt hành khách (27.437,61 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 101,18% (104,01%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 90,72% (93,06%).

 - Đường sông vận chuyển được 2.102,09 nghìn lượt hành khách (11.602,28 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 102,95% (102,02%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,59% (95,95%).

Ước thực hiện 7 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 43.495,54 nghìn lượt hành khách (272.147,33 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 79,12% (78,78%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 28.768,31 nghìn lượt hành khách (189.647,39 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 73,90% (75,55%).

- Đường sông thực hiện được 14.727,23 nghìn lượt hành khách (82.499,94 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 91,81% (87,33%).

6. Các vấn đề về xã hội

6.1. Giáo dục

Trong tháng, Sở giáo dục và Đào tạo tập trung vào hoạt động chuyên môn của các ngành học, cấp học như sau:

- Giáo dục mầm non: Tiếp tục khảo sát các trường đăng ký kiểm định chất lượng giáo dục và chuẩn quốc gia theo kế hoạch; tổng hợp sản phẩm tham gia Cuộc thi “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016-2020 (chọn 3 tập thể đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo khen tổng kết 5 năm thực hiện chuyên đề).

- Giáo dục tiểu học: Tiếp tục phối hợp tổ chức tập huấn, bồi dưỡng chương trình giáo dục phổ thông 2018 và hướng dẫn sử dụng sách giáo khoa lớp 1 cho cán bộ quản lý, giáo viên. Hướng dẫn các trường tiểu học tổ chức Ngày hội ”Chấp cánh ước mơ” cho học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình tiểu học.

- Giáo dục trung học - giáo dục chuyên nghiệp: Tổ chức kiểm tra chéo hồ sơ thi Tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2020 (từ 08/7 đến 11/7/2020). Chỉ đạo và tổ chức kiểm tra, đánh giá nội dung bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý, giáo viên tại các đơn vị; hướng dẫn tổ chức Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 trung học phổ thông và trung học phổ thông chuyên năm học 2020-2021. Khen thưởng học sinh giỏi trong Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh các môn văn hóa trung học phổ thông năm học 2019 – 2020. Kết quả trao: 09 giải nhất, 45 giải nhì và 64 giải ba.

6.2. Tình hình văn hóa, thể thao

Trong tháng, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tiếp tục duy trì và triển khai nhiều hoạt động, đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của các tầng lớp dân cư. Xây dựng các chương trình phục vụ như: Đại hội Đảng bộ tại thành phố Ngã Bảy, thị xã Long Mỹ, thành phố Vị Thanh và các huyện trong tỉnh; dàn dựng chương trình kỷ niệm 73 năm ngày Thương binh- Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2020);… biểu diễn được 18 suất, phục vụ 12 ngàn lượt người xem. Các Đội Tuyên truyền lưu động xây dựng và biểu diễn chương trình nghệ thuật quần chúng phục vụ Đại hội Đảng bộ cấp huyện tại các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh, với 82 buổi biểu diễn, phục vụ 50.800 lượt người xem. Tổ chức 68 buổi phóng thanh.

Toàn hệ thống tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, với 3.700 cờ các loại, 85 băng rol, 2.410m2 pano.

Về hoạt động thư viện: Trong tháng, hệ thống Thư viện tỉnh và huyện, thị xã, thành phố đã phục vụ  được 57.213 lượt người; cấp 225 thẻ bạn đọc. Tổ chức hoạt động trải nghiệm ngoại khóa cho 60 em học sinh Trường trung học phổ thông Chuyên Vị Thanh bao gồm: Triển lãm trên 300 quyển sách mới, sách giáo dục, sách rèn luyện kỹ năng; tổ chức các trò chơi trí tuệ về sách và trò chơi vận động nhằm tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích cho các em. Hoạt động được tổ chức định kỳ hàng tháng. Trưng bày sách tại Thư viện tỉnh 3 lần, bao gồm: Chuyên đề “Sách về các nhân vật chính trị”; Sách kỷ niệm Ngày Thương binh liệt sĩ 27/7; Sách mới các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,…

Về hoạt động bảo tồn - bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa: Trong tháng, khách đến xem triển lãm và tham quan các di tích, nhà truyền thống huyện, phòng truyền thống các xã văn hóa được 16.480 lượt người. Triển lãm ảnh 04 cuộc tại Trung tâm Hội nghị tỉnh và phục vụ Đại hội Đảng bộ thành phố Ngã Bảy, thị xã Long Mỹ, thành phố Vị Thanh nhiệm kỳ 2020 - 2025 với chuyên đề: Thành tựu 15 năm xây dựng và phát triển tỉnh Hậu Giang; Đảng Cộng sản Việt Nam - Những chặng đường lịch sử; Thành tựu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh tỉnh Hậu Giang năm 2019.

Về sự nghiệp thể dục thể thao: Tham gia môn Quần vợt trong chương trình thi đấu của Đại hội thể thao đồng bằng sông Cửu Long lần thứ VIII – Vĩnh Long năm 2020. Kết quả đạt được 01 Huy chương vàng và 01 Huy chương bạc.

Về sự nghiệp du lịch: Tham gia gian hàng quảng bá du lịch tại “Ngày hội kích cầu du lịch thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng Sông Cửu Long” (từ ngày 03 tháng 7 đến ngày 04 tháng 7 năm 2020).

6.3. Lao động và an sinh xã hội

Về kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ và Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 như sau: Tính đến hết ngày 30/6/2020, toàn tỉnh đã chi hỗ trợ cho 119.432 người bị ảnh hưởng do đại dịch Covid-19 (bao gồm 5.339 người có công với cách mạng; 25.544 đối tượng Bảo trợ xã hội; 33.135 người thuộc hộ nghèo và 32.957 người thuộc hộ cận nghèo; 18.280 lao động tự do mất việc làm; 06 người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp; 92 hộ kinh doanh cá thể khai báo thuế dưới 100 triệu đồng; 4.079 người bán vé số) với tổng kinh phí 117.533,7 triệu đồng.

Trong tháng, giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 2.736 lao động, đạt 83,3% kế hoạch năm. Tham mưu phê duyệt 14 lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn lĩnh vực phi nông nghiệp với 350 học viên (trong đó có 04 lớp đào tạo tại doanh nghiệp với 100 học viên). Đến nay, đã khai giảng được 30 lớp với 750 học viên.

Về lĩnh vực người có công với cách mạng: Tiếp nhận mới 95 hồ sơ các loại. Đã xét giải quyết 109 hồ sơ. Trong đó, đạt 81 hồ sơ; không đạt 28 hồ sơ. Còn lại 27 hồ sơ đang tiếp tục xem xét, giải quyết. Giới thiệu 06 trường hợp người có công với cách mạng ra Hội đồng Giám định y khoa tỉnh khám giám định tỷ lệ bị nhiễm chất độc hóa học và vết thương còn sót và tổ chức đưa, đón 72 người có công với cách mạng đi tham quan, điều dưỡng tập trung tại thành phố Hà Tiên và huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Về lĩnh vực Bảo trợ xã hội – Trẻ em và Bình đẳng giới: Thực hiện trợ cấp hàng tháng cho 31.892 đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 11.898,36 triệu đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 169 trường hợp với số tiền 912,6 triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho 8 trường hợp với số tiền 98,1 triệu đồng. Tổ chức 06 lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về Bảo vệ, chăm sóc trẻ em và Bình đẳng giới với gần 400 đại biểu tham dự.

Về lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội:

- Tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nội bộ và ra dân được 106 cuộc với 4.410 lượt người tham dự.

- Thực hiện Kế hoạch của Ban Chỉ đạo 138 tỉnh về việc kiểm tra xử lý vi phạm về trật tự xã hội, tệ nạn xã hội. Đội, tổ kiểm tra liên ngành các cấp đã kiểm tra được 81lượt cơ sở; phát hiện 02 cơ sở vi phạm, phạt hành chính 02 cơ sở với số tiền 03 triệu đồng.

 

- Về công tác quản lý đối tượng: tổng số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý trên địa bàn tỉnh tại thời điểm báo cáo là 1.480 người; số người nghiện đang có mặt tại cơ sở cai nghiện là 186 người.

6.4. Y tế

Theo báo cáo của Sở Y tế, trong tháng có 03 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, giảm 07 ca so với tháng trước, cộng dồn là 86 ca, giảm 88 ca so với cùng kỳ; bệnh tay chân miệng có 15 ca mắc mới, tăng 11 ca so với tháng trước, cộng dồn là 96 ca, giảm 118 ca so với cùng kỳ; bệnh sởi, bệnh viêm gan do virut, bệnh quai bị trong tháng không có ca mắc mới; bệnh dịch lạ như EBOLI, H5N1, MERS-CoV, Zika chưa phát hiện ca mắc trên địa bàn tỉnh.

Hiện tại, tỉnh Hậu Giang chưa phát hiện có ca mắc dịch bệnh Covid-19. Tổng số người được cách ly là 5.283 người; số đủ thời gian cách ly 14 ngày là 5.280 người. Số hiện đang theo dõi cách ly là 03 người (01 người về từ Malaysia bằng đường tàu, cập cảng Vinaline Hậu giang được cách ly ngay tại Khoa Nhiễm - Trung tâm Y tế huyện Châu Thành và 02 người cách ly tại Khoa Nhiễm - Trung tâm Y tế huyện Châu Thành A) kết quả xét nghiệm âm tính lần thứ 1. Hiện tại các trường hợp cách ly sức khoẻ ổn định. Số người dân Hậu Giang được cách ly tập trung tại các tỉnh khác là 234 người, tất cả đã đủ thời gian cách ly.

Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 1.046 trẻ, cộng dồn là 6.527 trẻ, đạt 57,57%; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 1.073 trẻ, cộng dồn là 6.248 trẻ, đạt 54,9%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 1.087 thai phụ, cộng dồn là 6.037 thai phụ, đạt 53,24%; số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng là 05 ca, cộng dồn là 55 ca (giảm 36 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.801 ca (còn sống 1.202 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng là 07 ca, cộng dồn là 15 ca (tăng 03 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.036 ca; Số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 06 ca, cộng dồn là 14 ca (tăng 09 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 599 ca. Khám và cấp thuốc cho 512 lượt bệnh nhân. Số người hiện đang điều trị Methadone là 63 người. Tổng số bệnh nhân điều trị ARV là 821 người.

Trong thời gian tới, Sở Y tế tiếp tục triển khai chiến dịch phòng, chống dịch bệnh; tăng cường chỉ đạo thực hiện tốt kế hoạch phòng, chống dịch bệnh chủ động, hạn chế tối đa số ca mắc mới. Chủ động phòng chống các bệnh dịch xâm nhập từ bên ngoài, tăng cường công tác giám sát, phát hiện sớm, dập dịch kịp thời, không để dịch bệnh lớn xảy ra; từng bước kiểm soát các yếu tố có hại đến sức khỏe liên quan đến môi trường, an toàn thực phẩm, lối sống và hành vi của người dân. Tăng cường quản lý nhà nước về công tác bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh thực phẩm, đẩy mạnh công tác phối hợp liên ngành về an toàn thực phẩm, không để xảy ra vụ ngộc độc thực phẩm (trên 30 người mắc) trên địa bàn tỉnh.

6.5. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Trong tháng 7/2020, theo số liệu của Ban An toàn giao thông, trên địa bàn tỉnh xảy ra 06 vụ tai nạn giao thông, làm chết 03 người và làm bị thương 04 người. So với tháng trước, giảm 03 vụ tai nạn, số người chết giảm 03 người và số người bị thương là tương đương, tất cả đều tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước, giảm 01 vụ, số người chết giảm 05 người và số người bị thương tăng 04 người, tất cả tập trung ở đường bộ.

Tính chung 7 tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra tổng cộng 36 vụ tai nạn giao thông, làm chết 26 người và làm bị thương 13 người, tất cả tập trung ở đường bộ. So với cùng kỳ năm trước giảm 21 vụ (đường bộ giảm 19 vụ, đường thủy giảm 02 vụ), số người chết giảm 27 người (đường bộ giảm 25 người, đường thủy giảm 02 người) và số người bị thương tăng 01 người (tập trung ở đường bộ).

6.6. Tình hình môi trường và phòng, chống cháy, nổ

Ngành chức năng tiếp tục giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các cơ sở có thông tin phản ánh để kịp thời xử lý theo quy định. Tính đến tháng 7/2020, ngành chức năng phát hiện 22 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 19 vụ, với số tiền xử phạt là 175 triệu đồng.

Về công tác phòng, chống cháy, nổ luôn được các ngành chức năng quan tâm thực hiện, định kỳ có kiểm tra, hướng dẫn người dân, các cơ sở kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy nên trong tháng không xảy ra cháy, nổ trên địa bàn tỉnh. Nhưng tính từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 5 vụ cháy, may mắn không thiệt hại về người, ước tổng tài sản thiệt hại khoảng 854 triệu đồng.