Tháng 9
10:41 08/10/2020

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang tháng 9 năm 2020

 

Trong 9 tháng năm 2020, nền kinh tế thế giới chịu tác động rất lớn của dịch bệnh, các nước phải tập trung sức người, sức của để chống dịch, làm cho tình hình kinh tế giảm sút so với những năm trước. Kinh tế trong nước nói chung, tỉnh Hậu Giang nói riêng cũng đã chịu sự ảnh hưởng của dịch bệnh và hạn mặn xâm nhập. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tăng cường chỉ đạo, điều hành, giải quyết những vấn đề cấp bách, kịp thời tháo gỡ khó khăn và được sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp (DN) và Nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã có những chuyển biến tích cực. Kết quả đạt được các lĩnh vực cụ thể như sau:

1.Tài chính, tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu Ngân sách nhà nước tháng 9/2020 được 644,47 tỷ đồng, luỹ kế được 7.742,77 tỷ đồng, đạt 100,58% dự toán Trung ương và đạt 77,37% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Trung ương trợ cấp được 311,13 tỷ đồng, luỹ kế được 3.099,47 tỷ đồng, đạt 76,40% dự toán Trung ương giao, đạt 75,31% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; thu nội địa được 300 tỷ đồng, luỹ kế được 2.438,98 tỷ đồng, đạt 75,25% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi Ngân sách địa phương tháng 9/2020 được 764,97 tỷ đồng, luỹ kế được 5.979,66 tỷ đồng, đạt 87,26% dự toán Trung ương giao, đạt 65,16% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Chi xây dựng cơ bản được 327,60 tỷ đồng, luỹ kế được 2.716,01 tỷ đồng, đạt 105,86% dự toán Trung ương giao, đạt 63,81% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; chi thường xuyên được 437,37 tỷ đồng, luỹ kế được 3.220,58 tỷ đồng, đạt 77,15% dự toán Trung ương và đạt 67% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 31/8/2020, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 15.405 tỷ đồng, tăng trưởng 2,19% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 7,09% so với cuối năm 2019. Vốn huy động đáp ứng được 64,21% cho hoạt động tín dụng. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước huy động được 9.982 tỷ đồng (chiếm 64,80%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 4.823 tỷ đồng (chiếm 31,31%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 559 tỷ đồng (chiếm 3,63%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 41 tỷ đồng (chiếm 0,26%). Hiện, lãi suất không kỳ hạn đến dưới 1 tháng phổ biến từ 0,1-0,2%/năm; lãi suất từ 01 tháng đến dưới 06 tháng từ mức 4,0-4,25%/năm; lãi suất từ 06 tháng đến dưới 12 tháng từ 4,9-5,1%; lãi suất từ 12 tháng trở lên từ 6,0-6,5%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 9/2020, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn đạt 15.850 tỷ đồng, tăng trưởng 2,89% so với cuối tháng 8/2020, tương ứng tăng trưởng 10,18% so với cuối năm 2019.

Đến ngày 31/8/2020, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn được 23.991 tỷ đồng, tăng trưởng 0,60% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 2,56% so với cuối năm 2019. Trong tổng dư nợ thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước được 16.652 tỷ đồng (chiếm 69,41%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 4.706 tỷ đồng (chiếm 19,62%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 2.589 tỷ đồng (chiếm 10,79%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 44 tỷ đồng (chiếm 0,18%). Đến thời điểm hiện nay, lãi suất cho vay luôn được giữ ở mức ổn định, đối với các lĩnh vực ưu tiên lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam phổ biến là 5,0%/năm; cho vay trung, dài hạn ở mức 10-11%/năm; các lĩnh vực khác lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến từ 9,0-9,5%/năm; trung, dài hạn từ 10,5-13%. Ước thực hiện đến cuối tháng 9/2020, dư nợ đạt 24.346 tỷ đồng, tăng trưởng 1,48% so với cuối tháng 8/2020, tương ứng tăng trưởng 4,08% so với cuối năm 2019.         

Nợ quá hạn đến ngày 31/8/2020 là 679 tỷ đồng, chiếm 2,83% trên tổng dư nợ; nợ xấu là 410 tỷ đồng, chiếm 1,71% trên tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 269 tỷ đồng, chiếm 39,62% trên tổng nợ quá hạn. Dự báo đến cuối tháng 9/2020, nợ xấu toàn địa bàn vẫn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.

2. Đầu tư và xây dựng

2.1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16/9/2020, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2020 là 20.964,55 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.795,55 tỷ đồng.

- Vốn vay: 37 tỷ đồng.

- Vốn tự có của DN nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 2.150 tỷ đồng.         

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các DN ngoài nhà nước: 15.982 tỷ đồng.

Đến đầu tháng 9/2020, các Khu công nghiệp và Cụm công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh đã thu hút được 56 dự án đầu tư, gồm 54 nhà đầu tư sản xuất kinh doanh và 02 nhà đầu tư kinh doanh kết cấu hạ tầng, với tổng số vốn đăng ký đầu tư là 73.277,40 tỷ đồng và 448,4 triệu USD, với quy mô diện tích đăng ký khoảng 771,8 ha, trong đó đã giao mặt bằng được 499,7 ha.

Ước tính tháng 9/2020, vốn đầu tư thực hiện được 1.961,03 tỷ đồng, bằng 118,01%[[1]] so với cùng kỳ năm trước và bằng 102,12% so với tháng trước. 

Ước tính 9 tháng, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh thực hiện được 15.930,26 tỷ đồng, bằng 109,50% so với cùng kỳ năm trước và đạt 75,99% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 1.910,96 tỷ đồng, bằng 125,32% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 68,36% so với kế hoạch năm. 

- Vốn vay thực hiện được 16,90 tỷ đồng, đạt 45,68% so với kế hoạch năm.

- Vốn tự có của DN nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện được 1.682,21 tỷ đồng, bằng 127,04% so với cùng kỳ năm trước và đạt 78,24% so với kế hoạch năm.           

 - Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các DN ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 12.320,19 tỷ đồng, bằng 105,31% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 77,09% so với kế hoạch năm.

Để thực hiện hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư Xây dựng cơ bản (XDCB) năm 2020 cần thực hiện một số giải pháp như sau:

        - Một là, các sở, ngành cần kiểm tra, đôn đốc, đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình XDCB, mà đặc biệt là các công trình trọng điểm trên địa bàn; đồng thời cần tăng cường giám sát, kiểm tra chất lượng công trình, nhanh chóng hoàn thành các công trình XDCB đang tồn đọng nhất là các công trình dự án trọng điểm đã bố trí vốn (giao thông, nông nghiệp, y tế, giáo dục, …)

- Hai là, điều chỉnh kế hoạch vốn đối với những công trình dự án triển khai chậm sang các công trình đang thiếu.

        - Ba là, đẩy nhanh tiến độ lập thủ tục XDCB đối với các công trình dự án đã được bố trí vốn, nhanh chóng làm thủ tục quyết toán các công trình đã hoàn thành.

        - Bốn là, lựa chọn những đơn vị tư vấn thiết kế có đủ năng lực thực hiện các hợp đồng đầu tư XDCB nhằm tránh được thời gian thực hiện dự án kéo dài gây thất thoát, lãng phí làm ảnh hưởng lớn đến hiệu quả vốn đầu tư.

        - Năm là, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ban, ngành cấp tỉnh và các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề vướng mắc trong đầu tư XDCB.

2.2. Xây dựng

Ước tính quý III/2020, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh thực hiện được 1.963,16 tỷ đồng, so với quý trước bằng 103,29%[[2]] và so với cùng kỳ năm trước (1.918,09 tỷ đồng) bằng 102,35%. Trong đó, loại hình DN ngoài nhà nước thực hiện được 830,68 tỷ đồng, so với quý trước bằng 102,49% và so với cùng kỳ năm trước bằng 87,32%; loại hình khác gồm xã, phường, thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 1.132,48 tỷ đồng, so với quý trước bằng 103,89% và so với cùng kỳ năm trước bằng 117,14%. Cụ thể, giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 980,40 tỷ đồng, so với quý trước bằng 85,03% và so với cùng kỳ năm trước bằng 94,65%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 450,90 tỷ đồng, so với quý trước bằng 126,19% và so với cùng kỳ năm bằng 133,45%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 481,95 tỷ đồng, so với quý trước bằng 137,73% và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,95%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 49,91 tỷ đồng, so với quý trước bằng 123,86% và so với cùng kỳ năm trước bằng 58,63%.

Ước tính 9 tháng, tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh thực hiện được 5.490,60 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (5.136,86 tỷ đồng) bằng 106,89%[[3]]. Trong đó, loại hình DN ngoài nhà nước thực hiện được 2.336,05 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 96,71%; loại hình khác gồm xã, phường, thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 3.154,55 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 115,92%. Cụ thể, giá trị ngành xây dựng chia theo loại công trình như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 3.095,75 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (2.968.027 triệu đồng) bằng 104,30%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 1.205,10 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (994,44 tỷ đồng) bằng 121,18%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 1.060,35 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (987,85 tỷ đồng) bằng 107,34%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 129,40 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (186,54 tỷ đồng) bằng 69,37%.

Đến nay, tình hình xây dựng trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở dân dụng và đường giao thông. Riêng các công trình trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước có quy mô lớn thì hầu hết đều do các DN ngoài tỉnh thi công. Do vậy, Lãnh đạo các cấp, các ngành cần có kế hoạch cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, để các DN xây dựng trong tỉnh được thi công nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành xây dựng của tỉnh.

3. Tình hình hoạt động của DN

Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư (tính từ ngày 17/07/2020 đến ngày 17/08/2020), toàn tỉnh có 99 DN đăng ký thành lập mới, với tổng số vốn 445,334 tỷ đồng; số vốn đăng ký bình quân một DN thành lập mới là 4,50 tỷ đồng; số DN gặp khó khăn tạm ngừng hoạt động là 07 DN, với tổng vốn là 48,1 tỷ đồng; số DN hoàn tất thủ tục giải thể là 07 DN, với tổng số vốn 4 tỷ đồng.

Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 609 DN đăng ký thành lập mới, với tổng vốn 3.487,172 tỷ đồng; số DN gặp khó khăn tạm ngừng hoạt động là 81 DN[[4]], với tổng vốn 276,125 tỷ đồng; số DN hoàn tất thủ tục giải thể là 109 DN[[5]], với tổng vốn 83,454 tỷ đồng.

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong 9 tháng, ngành Nông nghiệp tập trung vào công tác thu hoạch lúa đông xuân và hè thu, xuống giống vụ thu đông. Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm, kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật và kiểm tra vệ sinh thú y. Ngoài ra, ngành còn không ngừng tuyên truyền, nâng cao ý thức người dân về phòng, chống cháy rừng và tổ chức kiểm tra công tác phòng, chống cháy rừng ở các điểm trọng yếu. Tăng cường chỉ đạo công tác khắc phục thiệt hại do dịch bệnh. Hướng dẫn các địa phương áp dụng các biện pháp chăn nuôi lợn an toàn sinh học để bảo vệ và phát triển tổng đàn hiện có. Bên cạnh việc phòng, chống dịch Covid-19, ngành chức năng đã chủ động chỉ đạo, kiểm tra, giám sát các huyện vùng có sản xuất cây ăn trái (Mít, xoài, sầu riêng, dưa hấu,…) gặp khó khăn trong khâu tiêu thụ để tìm biện pháp khắc phục. Kết quả cụ thể từng lĩnh vực như sau:

4.1. Nông nghiệp

Lúa đông xuân 2020, toàn tỉnh đã gieo trồng và thu hoạch dứt điểm được 77.820 ha. Các giống lúa được sử dụng phổ biến như OM 5451 chiếm 32,8%, OM 18 chiếm 22,3%, Đài thơm 8 chiếm 18,4%, RVT chiếm 13,1%, còn lại các giống IR 50404 Jasmine 85. ST24, …chiếm 13,4%. Năng suất thu hoạch chính thức được 76,57 tạ/ha; tăng 4,37% (bằng 3,2 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng chính thức được 595.869 tấn, tăng 3,57% (bằng 20.515 tấn) so với cùng kỳ năm trước.

Lúa hè thu, sơ bộ toàn tỉnh xuống giống được 77.340 ha, đạt 100,83% so với kế hoạch (kế hoạch tỉnh 76.700 ha), so với cùng kỳ giảm 0,95% (bằng 742 ha). Hiện đã thu hoạch dứt điểm, ước năng suất được 60,39 tạ/ha, tăng 0,58% (bằng 0,35 tạ/ha), sản lượng ước cả vụ được 467.054 tấn, so với cùng kỳ giảm 0,37% (bằng 1.748 tấn).

Lúa thu đông, đến nay, toàn tỉnh xuống giống được 39.487 ha, vượt 2,56% so với kế hoạch (kế hoạch tỉnh 38.500 ha), so với cùng kỳ tăng 3,58% (bằng 1.365,8 ha). Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ là do năm nay xuống giống sớm hơn, hiện lúa đang ở giai đoạn mạ đến trổ chín.

Mía niên vụ 2020, toàn tỉnh đã xuống giống được 5.909 ha, giảm 28,94% (giảm 2.406 ha) so với cùng kỳ, mía trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp, thành phố Vị Thanh và thành phố Ngã Bảy. Hiện nay, mía đã thu hoạch ước được 1.042 ha, chủ yếu sản lượng thu hoạch được chỉ để ép lấy nước mía phục vụ tiêu dùng là chính.

Diện tích gieo trồng ngô, ước tính 9 tháng được 2.039 ha, giảm 8,08% (bằng 179 ha) so cùng kỳ năm trước, năng suất sơ bộ được 58,01 tạ/ha, giảm 1,3% (bằng 0,76 tạ/ha) so với cùng kỳ; sản lượng được 10.621 tấn, giảm 0,77% (bằng 82 tấn) so với cùng kỳ.

Diện tích gieo trồng khoai lang 9 tháng, được 57,8 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 3,99% (bằng 2,4 ha).

Diện tích gieo trồng rau, đậu các loại 9 tháng, được 20.120 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 14,35% (bằng 2.525 ha). Trong đó, diện tích gieo trồng tăng chủ yếu là cây rau các loại do chuyển đổi từ những cây trồng khác sang, cây đậu các loại giảm so với cùng kỳ do hiệu quả kinh tế thấp.

Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đã và đang được ngăn chặn kịp thời. Hiện bà con nông dân đang tích cực chú ý các đối tượng gây hại trên lúa như: sâu cuốn lá, rầy nâu, chuột, nhện gié, bệnh cháy bìa lá, đạo ôn cổ bông và lem lép hạt... Ngành chức năng cũng tích cực hướng dẫn bà con nông dân có biện pháp phòng trừ hiệu quả, xử lý theo nguyên tắc 4 đúng để đạt hiệu quả cao.

Tình hình gieo trồng và thu hoạch một số loại cây lâu năm chủ yếu của tỉnh ước tính đến tháng 9/2020 như sau:

- Cây mít: Diện tích được 6.562 ha, tăng 87,38% so với cùng kỳ năm trước (bằng 3.060 ha). Sản lượng thu hoạch được 24.399 tấn, tăng 120,4% (bằng 13.327 tấn). Diện tích cây mít tăng chủ yếu tập trung ở huyện Châu Thành, thành phố Ngã Bảy và huyện Phụng Hiệp, do chuyển đổi diện tích từ cây trồng khác sang.

- Cây xoài: Diện tích được 3.736,5 ha, tăng 0,74% so với cùng kỳ năm trước (bằng 27,6 ha). Sản lượng thu hoạch được 19.317 tấn, tăng 4,74% so với cùng kỳ (bằng 874 tấn).

- Cây chuối: Diện tích được 3.022,6 ha, tăng 0,52% (bằng 15,5 ha) so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch được 24.274 tấn, tăng 5,05% so với cùng kỳ năm trước (bằng 1.166 tấn).

- Cây dứa (khóm): Diện tích được 2.744 ha, tăng 16,54% so với cùng kỳ (bằng 389,4 ha). Sản lượng thu hoạch được 21.187 tấn, tăng 5,17% so với cùng kỳ năm trước (bằng 1.029 tấn).

- Cây cam: Diện tích gieo trồng được 10.862 ha, tăng 1,11% so với cùng kỳ (bằng 119 ha). Sản lượng thu hoạch được 82.676 tấn, tăng 5,59% so với cùng kỳ năm trước (bằng 4.379 tấn).

- Cây bưởi: Diện tích được 1.650,5 ha, tăng 4,51% so với cùng kỳ (bằng 71,2 ha). Sản lượng thu hoạch được 9.989 tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước (bằng 393 tấn).

- Cây nhãn: Diện tích được 900,4 ha, tăng 2,77% so với cùng kỳ (bằng 24,3 ha). Sản lượng thu hoạch được 3.696 tấn, tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước (bằng 492 tấn).

4.2. Chăn nuôi

Ngành chức năng tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh. Ước tính đến tháng 9/2020, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

- Đàn trâu: Hiện có 1.450 con, giảm 1,09% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 124 tấn, tăng 2,83% so với cùng kỳ năm trước.

- Đàn bò: Hiện có 3.651 con, tăng 2,85% (bằng 101 con) so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 182 tấn, tăng 15,40% so với cùng kỳ năm trước.

- Đàn lợn (heo): Hiện có 95.503 con heo (không tính lợn con chưa tách mẹ) giảm 9,61% (giảm 10.151 con) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lợn thịt được 83.540 con, giảm 8,65% (bằng 7.913 con). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 14.745 tấn, giảm 21,05% (bằng 3.931 tấn). Do ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu phi, chi phí con giống cao,… làm cho đàn lợn trên địa bàn tỉnh đến nay vẫn chưa thể phục hồi như trước.

- Đàn gia cầm: Hiện có 4.401 ngàn con, so với cùng kỳ năm trước tăng 1,88% (bằng 81 ngàn con). Trong đó, đàn gà được 1.410 ngàn con, tăng 5,90% (bằng 79 ngàn con). Sản lượng trứng gia cầm được 113.379 ngàn quả, tăng 5,21% so với cùng kỳ năm trước (bằng 5.617 ngàn quả). Đàn gia cầm năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước là do ngành thú y thực hiện tốt công tác tiêm phòng, quản lý, giám sát dịch bệnh, dịch cúm gia cầm không để xảy ra trên địa bàn tỉnh; giá cả biến động theo hướng tăng, người chăn nuôi có lãi nên đầu tư tái đàn, mở rộng quy mô sản xuất.

4.3. Lâm nghiệp

Tính từ đầu năm đến nay, diện tích rừng trồng mới ước được 176 ha, tăng 2,50% so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác ước được 11.034 m3 gỗ, tăng 2,03% (bằng 220 m3) so với cùng kỳ, sản lượng củi khai thác ước được 59.486 ste, giảm 0,81% (bằng 485 ste) so với cùng kỳ.    

Nhìn chung, tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung vào công tác chăm sóc và bảo vệ rừng. Công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định; công tác phòng chống cháy rừng trong mùa khô được ngành chức năng chỉ đạo quyết liệt, đã nâng cấp cảnh báo cháy rừng toàn tỉnh lên cấp V (cấp cực kỳ nguy hiểm) trên tất cả các khu rừng, Ban chỉ đạo tỉnh, các Ban chỉ huy huyện, xã tổ chức các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng, kiểm tra công tác tác ứng trực cháy rừng hằng ngày từ Văn phòng Ban chỉ đạo tỉnh đến huyện, xã và chủ rừng xuyên suốt kể cả thứ bảy, chủ nhật, thường xuyên theo dõi kiểm tra và cảnh báo kịp thời đến người dân.

Mặc dù công tác bảo vệ và quản lý rừng được thực hiện nghiêm nhưng vẫn không tránh khỏi xảy ra cháy rừng ở Công ty Du lịch miền Nam quản lý (trước đây là của Trung tâm nông nghiệp Mùa xuân quản lý), với diện tích rừng bị thiệt hại là 1,58 ha.

4.4. Thủy sản

Diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh 9 tháng, ước tính được 7.990 ha, tăng 4,27% so cùng kỳ năm trước (bằng 327 ha). Trong đó, diện tích cá nuôi được 7.837 ha, tăng 4,32% ( bằng 325 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Tổng sản lượng thủy sản 9 tháng, ước được 56.892 tấn, tăng 3,1% (bằng 1.709 tấn) so với cùng kỳ. Chia ra: Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 54.606 tấn, tăng 3,26% (bằng 1.725 tấn); sản lượng thủy sản khai thác được 2.286 tấn, giảm 0,71% (bằng 16 tấn).

5. Tình hình sản xuất công nghiệp

Ước thực hiện tháng 9/2020, giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá so sánh 2010, được 2.893,25 tỷ đồng, tăng 7,74% so với tháng trước và tăng 24,26% so với cùng kỳ. Tính theo giá thực tế, được 4.634,87 tỷ đồng, tăng 8,64% so với tháng trước và tăng 42,15% so với cùng kỳ. Mặc dù, giá trị sản xuất công nghiệp có sự tăng trưởng, tuy nhiên vẫn còn thấp, chưa tương xứng so với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh. Phần lớn các DN hoạt động trong ngành dệt may, xay xát đa số là gia công nên mang lại giá trị thấp. Bên cạnh đó, ngành chế biến thủy sản xuất khẩu rơi vào thế bị động, cụ thể là Công ty cổ phần thủy sản Minh Phú do ảnh hưởng dịch bệnh Covid-19 nên lượng hàng hóa sản xuất ra không xuất khẩu được nhiều so với cùng kỳ, do các tiêu chuẩn chất lượng khắc khe của các thị trường Châu Âu và Mỹ, nên giá trị sản xuất chung toàn tỉnh tăng nhưng không cao so với tháng trước và cùng kỳ.

Ước thực hiện 9 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá so sánh 2010 được 21.145,30 tỷ đồng, tăng 7,09% so với cùng kỳ và đạt 64,78% so với kế hoạch năm. Tính theo giá thực tế được 31.948,99 tỷ đồng, tăng 14,76% so với cùng kỳ và đạt 68,42% so với kế hoạch năm. Nguyên nhân tăng là do có sự đóng góp đáng kể của các DN lớn hoạt động trong các ngành như: Sản xuất đồ uống tăng 228,76%, sản xuất giày dép tăng 24,37%,… Các DN hoạt động trong những ngành này đã đầu tư thêm trang thiết bị, mở rộng nhà máy, đưa công nghệ tiên tiến vào quy trình sản xuất nên sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính tháng 9/2020, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,07% so với tháng trước và tăng 19,14% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do các DN đã cải tiến quy trình sản xuất, mẫu mã sản phẩm và thị trường tiêu thụ được mở rộng nên sản lượng sản xuất tăng. Cụ thể một số ngành như: Sản xuất đồ uống tăng 332,66%; sản xuất hóa chất tăng 49,60%; sản xuất trang phục tăng 26,85%; sản xuất giấy tăng 8,02%,… Bên cạnh những ngành tăng thì cũng có một số ngành giảm so với cùng kỳ như: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 36,85%; sản xuất da giảm 21,72%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 5,02%,… Nguyên nhân là do tình hình dịch bệnh Covid-19 đã bùng phát trở lại nên gây không ít khó khăn trong việc nhập nguyên vật liệu đầu vào, thị trường tiêu thụ thu hẹp nên lượng hàng tồn kho tăng cao.

Dự tính 9 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,72% so với cùng kỳ, một số ngành chủ yếu như sau:

- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tăng 7,71% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do có sự đóng góp đáng kể của các DN có giá trị hoạt động lớn trong các ngành như: Sản xuất đồ uống, sản xuất da, sản xuất giấy, … Cụ thể:

+ Ngành sản xuất đồ uống tăng 300,30% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Number One Hậu Giang sản xuất tăng mạnh. Vì vậy, sản lượng sản xuất của DN trong 9 tháng năm 2020 tăng 449,90% so với cùng kỳ. Ngoài ra, còn có Công Ty TNHH MTV Masan Brewery Hậu Giang với sản phẩm chính là bia Sư Tử Trắng, đã tạo được thương hiệu, DN không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm và ngày càng được người tiêu dùng tin tưởng, lựa chọn sử dụng nhiều hơn trước. Vì vậy, sản lượng sản xuất của DN 9 tháng năm 2020 tăng 159,77% so với cùng kỳ. Mặc dù ảnh hưởng từ Nghị định 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ và dịch Covid-19 nhưng ngành sản xuất đồ uống vẫn tăng cao so với cùng kỳ là do các DN mở rộng thị trường, chủ động, sáng tạo trong kinh doanh và quy trình sản xuất.

+ Ngành sản xuất da tăng 7,38% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Lạc Tỷ II, với sản phẩm chính là giày da thành phẩm các loại, DN cũng đã đầu tư thêm trang thiết bị, mở rộng thêm hai nhà máy, tuyển thêm công nhân nhằm đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu ngay khi tình hình dịch Covid-19 được khống chế tại các thị trường xuất khẩu chính. Vì vậy, sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ. Ngành sản xuất giày dép sẽ tăng trưởng mạnh khi Hiệp định thương mại tự do Việt Nam-Liên minh Châu Âu (EVFTA) có hiệu lực sẽ là đòn bẩy quan trọng để thu hút hàng xuất khẩu giày dép từ thị trường Châu Âu.

+ Bên cạnh đó, có một số ngành giảm so cùng kỳ như: Sản xuất chế biến thực phẩm giảm 17,10%, sản xuất trang phục giảm 3,25%, sản xuất hóa chất giảm 2,54%,… Nguyên nhân chủ yếu là do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên khó khăn trong chuỗi cung ứng nguyên vật liệu, thị trường xuất khẩu và tiêu thụ không ổn định, chi phí đầu vào tăng làm giá thành sản phẩm tăng, khó tìm hợp đồng mới để tiêu thụ,… Vì vậy, các DN đã giảm sản lượng sản xuất để tập trung tiêu thụ, do đó làm ảnh hưởng đến chỉ số sản xuất chung của toàn ngành công nghiệp.

- Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: Tăng 8,05% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty Điện lực đã cung cấp đủ điện, an toàn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, hạn chế tối đa không để tình trạng mất điện đột ngột, đảm bảo nhu cầu sử dụng cho người dân và các DN được hoạt động liên tục, sản lượng truyền tải điện năng 9 tháng năm 2020 tăng 9,23% tương ứng tăng 51,01 triệu kwh so với cùng kỳ.

- Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: Tăng 10,12% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng là do Công ty Cổ phần Cấp Thoát nước - Công trình đô thị Hậu Giang nắm bắt được nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của người dân nông thôn ngày càng cao, nên công ty đã hoàn thiện và khởi công mới các tuyến đường ống dẫn nước đến các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh và khai thác thêm các nguồn nước ngầm, để đảm bảo cung cấp đầy đủ nước sạch phục vụ tốt việc sản xuất kinh doanh và sinh hoạt cho người dân. Vì vậy, sản lượng sản xuất nước sạch dự tính 9 tháng năm 2020 được 9.238,66 ngàn M3, tăng 1.021,23 ngàn M3 so với cùng kỳ.

6. Hoạt động thương mại, dịch vụ

6.1. Bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Ước tính tháng 9/2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 3.753,98 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các DN đóng trên địa bàn tỉnh là 373,47 tỷ đồng), so với thực hiện tháng trước tăng 8,32% và so với cùng kỳ năm trước tăng 7,91%. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa được 2.884,48 tỷ đồng, tăng 9,19% so với tháng trước và tăng 8,70% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành được 557,33 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 5,83% và so với cùng kỳ năm trước tăng 5,87%; doanh thu dịch vụ khác được 312,17 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 5,02% và so với cùng kỳ năm trước tăng 4,57%.

Ước tính 9 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 27.929,25 tỷ đồng (Trong đó, chi nhánh của các DN đóng trên địa bàn tỉnh là  3.271,74 tỷ đồng), so với cùng kỳ năm trước bằng 96,04%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa thực hiện được 21.509,99 tỷ đồng, giảm 1,72% so với cùng kỳ và so kế hoạch đạt 73,21%. Nguyên nhân do các nhóm hàng hóa có tỷ trọng cao giảm so với cùng kỳ như: Xăng, dầu; lương thực, thực phẩm; hàng may mặc, dịch Covid-19 đã làm cho giá xăng, dầu giảm mạnh nên làm giảm doanh thu của nhóm hàng hóa này. Bên cạnh đó, đây là năm có kỷ lục hạn và xâm nhập mặn xảy ra tại nhiều địa phương trong tỉnh, ảnh hưởng đến canh tác, năng suất, sản lượng lúa, rau màu và cây ăn trái. Tuy nhiên, cũng có nhóm tăng nhưng tốc độ tăng thấp, tỷ trọng nhỏ nên không thể kéo doanh thu bán lẻ tăng hơn so với cùng kỳ.

- Doanh thu dịch vụ khác thực hiện được 2.389,34 tỷ đồng, giảm 5,34% so cùng kỳ. Cụ thể: Dịch vụ giáo dục và đào tạo giảm 31,81%, vì ảnh hưởng của dịch Covid-19, học sinh nghỉ học liên tục trong 3 tháng. Các dịch vụ khác cũng giảm vì ảnh hưởng của dịch bệnh. Riêng dịch vụ y tế tăng 0,97% so với cùng kỳ, do trong mùa dịch bệnh thì việc đảm bảo y tế cần được quan tâm nên dịch vụ này vẫn được duy trì.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành thực hiện được 4.029,92 tỷ đồng, giảm 13,73% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Doanh thu dịch vụ lưu trú được 73,21 tỷ đồng, giảm 19,69% so cùng kỳ. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, hoạt động lưu trú gặp nhiều khó khăn, nhu cầu sử dụng thấp, lượng khách giảm mạnh. Trong thời gian thực hiện giản cách xã hội nhiều cơ sở kinh doanh ngưng hoạt động. Sau dịch bệnh các cơ sở kinh doanh mới dần hồi phục lại, tuy nhiên du lịch trên địa bàn tỉnh chưa phát triển, chưa có nhiều điểm nổi bậc thu hút du khách nên lượng khách đến Hậu Giang còn thấp; doanh thu dịch vụ ăn uống được 3.956,71 tỷ đồng, giảm 13,61% so cùng kỳ. Nguyên nhân làm giảm doanh thu ngành ăn uống trên địa bàn tỉnh là do tác động của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có hiệu lực từ ngày 01/01/2020 và ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.

Hoạt động thương mại, dịch vụ ước tính cả năm 2020 có tốc độ tăng trưởng thấp do nhiều nguyên nhân: Ảnh hưởng của dịch Covid-19; hạn mặn và nắng nóng kéo dài ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân. Trong đó, các ngành dịch vụ thì tỷ trọng doanh thu thấp hơn, số lượng DN hoạt động trong lĩnh vực này tương đối ít, nhất là ngành lưu trú, ăn uống. Ngành dịch vụ chủ yếu là hoạt động của các cơ sở kinh doanh cá thể có quy mô nhỏ nên dễ bị tác động bởi dịch bệnh Covid-19. Bên cạnh đó, Hậu Giang là tỉnh có cơ cấu kinh tế với ngành nông, lâm, thủy sản chiếm tỷ trọng cao, du lịch chưa phát triển, chưa có nhiều địa điểm kinh doanh vui chơi, giải trí thu hút khách từ nơi khác đến. Vì vậy, trong những tháng cuối năm cần thực hiện tốt hơn nữa công tác tổ chức hoạt động hội chợ, sự kiện, xúc tiến thương mại và một số công tác cần thiết khác đảm bảo an toàn không để xảy ra dịch bệnh, nhằm phát triển tiềm năng thế mạnh của địa phương, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân, đồng thời thực hiện hoàn thành kế hoạch đề ra trong năm 2020.

6.2. Tình hình xuất nhập khẩu

         Ước thực hiện tháng 9/2020, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp được 93,63 triệu USD, so với thực hiện tháng trước bằng 97,93% và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,80%. Chia ra:

+ Xuất khẩu được 60,64 triệu USD, so với tháng trước bằng 101,91% và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,19%. Nguyên nhân ước giá trị xuất khẩu tăng so với tháng trước là do hiện nay tình hình dịch bệnh trong nước cơ bản đã được kiểm soát và dần ổn định. Mặt khác, Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và EU (EVFTA) bắt đầu có hiệu lực đã mở ra nhiều cơ hội lớn cho các DN có thể tìm kiếm thêm nhiều đối tác, ký kết các hợp động xuất khẩu mới. Do đó, dự báo trong thời gian tới các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như thủy hải sản, giày dép, may mặc sẽ được xuất ngày càng nhiều hơn sang thị trường các nước Châu Âu. Vì vậy, giá trị xuất khẩu trong tháng tới sẽ có mức tăng.

+ Nhập khẩu ước thực hiện được 32,99 triệu USD, so với tháng trước bằng 91,37% và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,12%. Nguyên nhân là do trong tháng DN đã nhập khẩu một lượng lớn nguồn nguyên liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất. Mặt khác, tình hình dịch bệnh Covid-19 tại các thị trường nhập khẩu vẫn còn diễn biến phức tạp. Vì vậy, dự báo trong tháng tiếp theo giá trị nhập khẩu có thể giảm.

Ước thực hiện 9 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 751,21 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 106,47% và so với kế hoạch năm đạt 71,95%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 437,80 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,35% và so với kế hoạch năm đạt 62,01%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 268,92 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 104,27% và so với kế hoạch năm đạt 98,15%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 1,63 triệu USD, tăng cao so với cùng kỳ năm trước bằng 202,74% và so với kế hoạch năm vượt 62,60%

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 42,86 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 100,23% và so với kế hoạch năm đạt 68,03%.

Nhìn chung, tình hình xuất khẩu trong 9 tháng năm 2020 vẫn giữ được sự tăng trưởng ổn định ở mức 8,35% so với cùng kỳ năm trước và đã đạt được 71,95% so với kế hoạch đề ra. Các nhóm hàng xuất khẩu thủy sản, giày thể thao, các sản phẩm giấy thành phẩm vẫn là ba mặt hàng xuất khẩu chủ lực và chiếm tỷ trọng cao nhất trên địa bàn. Tính chung giá trị xuất khẩu của ba nhóm hàng này trong 9 tháng đã thực hiện được 386,37 triệu USD chiếm hơn 88% tổng giá trị xuất khẩu chung của toàn ngành. Trong 9 tháng, các DN đã xuất đi được sang 103 nước và vùng lãnh thổ. Các khu vực xuất khẩu vẫn giữ ổn định được các thị trường truyền thống và khu vực có giá trị xuất khẩu lớn vẫn là khu vực Bắc Mỹ, Châu Âu, Đông Á và các quốc gia Đông Nam Á. Trong đó chiếm tỷ trọng cao vẫn là khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu, thị trường Mỹ vẫn chiếm tỷ trọng lớn được các DN trên địa bàn xuất khẩu sang nhiều nhất.

Về nhập khẩu trong 9 tháng, sản phẩm nhập khẩu chủ yếu vẫn là các nguồn nguyên liệu, hóa chất, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất chế biến cho các DN. Đặc biệt, trong 9 tháng năm 2020 có thêm hai sản phẩm nhập khẩu mới tham gia vào danh sách các mặt hàng nhập khẩu chung trên địa bàn là Dầu cọ, Bơ sữa và các sản phẩm khác được sản xuất từ sữa. Giá trị nhập khẩu của hai mặt hàng này cũng có giá trị tương đối lớn, trung bình mỗi tháng đạt gần 7 triệu USD.

Hiện nay, mặc dù tình hình dịch bệnh có nhiều diễn biến phức tạp nhưng tính chung từ đầu năm đến nay giá trị xuất khẩu so với cùng kỳ năm trước không giảm mà còn có sự tăng trưởng nhẹ. Trong những tháng còn lại của năm, khi Hiệp định Thương mại tự do EVFTA có hiệu lực thi hành sẽ là cơ hội thuận lợi cho các DN có thể tìm kiếm mở rộng thị trường, gia tăng giá trị xuất khẩu. Vì vậy, trong thời gian tới các DN cần chủ động tìm kiếm tạo sự liên kết đồng bộ giữa các nhà, tạo ra chuỗi giá trị bền vững, đồng thời thực hiện định hướng, xây dựng kế hoạch sản xuất phù hợp với tình hình của thị trường, đảm bảo tạo ra được những sản phẩm phù hợp với nhu cầu tiêu dùng của người dân ở các nước nhập khẩu. DN chủ động giới thiệu và bán những sản phẩm mà thị trường cần, không bán những sản phẩm mà thị trường đang có để tạo đột phá, mở rộng đường cho sản phẩm Việt Nam xuất khẩu sang nhiều thị trường khác hơn nữa, giúp gia tăng giá trị xuất khẩu chung và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn.

6.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Ước tính tháng 9/2020, tổng doanh thu vận tải, kho bãi được 90,60 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 91,64%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 31,46 tỷ đồng bằng 89,23% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 33,21 tỷ đồng bằng 93,86% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 25,93 tỷ đồng, bằng 91,89% so với cùng kỳ năm trước.

Ước tổng doanh thu vận tải, kho bãi thực hiện 9 tháng được 780,62 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 93,11%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 271,93 tỷ đồng bằng 85,16% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 292,63 tỷ đồng bằng 83,93% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 216,06 tỷ đồng, bằng 126,78% so với cùng kỳ năm trước.

6.3.1. Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Ước thực hiện tháng 9/2020, toàn tỉnh vận chuyển được 634,42 nghìn tấn hàng hóa các loại (46.491,15 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,42% (104,23%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 95,74% (96,42%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 140,68 nghìn tấn (8.768,13 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,80% (103,43%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 93,41% (96,29%).

 - Đường sông thực hiện được 493,74 nghìn tấn (37.723,02 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,32% (104,41%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,42% (96,45%).

Ước thực hiện 9 tháng năm 2020, toàn tỉnh vận chuyển được 5.436,82 nghìn tấn hàng hóa các loại (380.020,32 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 95,05% (93,27%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 1.262,18 nghìn tấn (70.909,38 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 98,31% (97,39%).

- Đường sông thực hiện được 4.174,63 nghìn tấn (309.110,94 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 94,11% (92,37%).

6.3.2. Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Ước thực hiện tháng 9/2020, toàn tỉnh thực hiện được 3.105,99 nghìn lượt hành khách (39.636,26 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 105,64% (103,44%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 93,39% (89,50%). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 916,47 nghìn lượt hành khách (27.710,27 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 103,42% (103,36%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 85,93% (90,20%).

 - Đường sông vận chuyển được 2.189,52 nghìn lượt hành khách (11.925,99 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 106,60% (103,64%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,91% (87,91%).

Ước thực hiện 9 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 49.632,04 nghìn lượt hành khách (349.636,67 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 80,68% (80,55%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 30.683,18 nghìn lượt hành khách (243.751,77 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 74,76% (77,90%).

 - Đường sông thực hiện được 18.948,86 nghìn lượt hành khách (105.884,89 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 92,55% (87,39%).

7. Các vấn đề về xã hội

7.1. Giáo dục

Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo tập trung vào hoạt động chuyên môn của các ngành học, cấp học như sau:

- Giáo dục tiểu học - mầm non:  Hướng dẫn nhiệm vụ năm học; hướng dẫn thực hiện chuyên môn, hướng dẫn tổ chức hội thi năm học 2020- 2021. Tổ chức tập huấn bồi dưỡng thường xuyên cho cán bộ quản lý và giáo viên mầm non năm học 2020-2021. Phối hợp Phòng Quản lý chất lượng – Cơ sở vật chất kiểm định chất lượng giáo dục mầm non, tiểu học, kiểm tra công nhận trường đạt chuẩn quốc gia. Thành lập Hội đồng nghiệm thu tài liệu giáo dục địa phương lớp 1; bồi dưỡng chuyên môn thay sách giáo khoa lớp 1 (mô đun 1).

- Giáo dục trung học – Giáo dục thường xuyên: Hướng dẫn cán bộ quản lý, giáo viên tham gia bồi dưỡng trực tuyến mô đun 1 thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018; hướng dẫn giảm tải chương trình. Phân bổ số lượng bánh xà phòng Colgate rửa tay đảm bảo vệ sinh cá nhân học sinh trong phòng, chống dịch Covid-19 cho các đơn vị Phòng Giáo dục và Đào tạo. Triển khai cài đặt và sử dụng ứng dụng Bluezone để phòng chống dịch Covid-19 trong toàn ngành.

7.2. Tình hình văn hóa, thể thao

Toàn hệ thống tổ chức thực hiện công tác cổ động trực quan phục vụ tuyên truyền kỷ niệm 75 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945-19/8/2020) và Quốc Khánh nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945- 02/9/2020), tuyên truyền Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2020-2025 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng với 4.700 cờ các loại, 100 băng rol, 2.404m2 pano cố định và 30 pano di động. Các Đội Tuyên truyền lưu động trong tỉnh xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng phục vụ Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hậu Giang lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2020-2025 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng với 36 buổi, phục vụ 18.270 lượt người xem. Tiếp tục thực hiện phóng thanh tuyên truyền cổ động phòng, chống dịch Covid -19, tuyên truyền an toàn giao thông trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 02/9 và khai giảng năm học mới 2020 – 2021 với 51 buổi phóng thanh.

Trong tháng, hệ thống Thư viện tỉnh và huyện, thị xã, thành phố đã phục vụ được 70.119 lượt người; cấp 406 thẻ bạn đọc. Tổ chức “Trải nghiệm ngoại khóa” cho 40 học sinh tại Thư viện tỉnh gồm các hoạt động: Triển lãm sách, các trò chơi tìm hiểu kiến thức qua sách, tham quan, tìm hiểu các dịch vụ phục vụ bạn đọc của Thư viện tỉnh; phục vụ sách lưu động tại 06 trường học thuộc huyện Vị Thủy với 2.000 quyển sách, thu hút trên 5.000 học sinh tham gia.

Về hoạt động bảo tồn - bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa: Triển lãm ảnh thường xuyên và lưu động tại Trung tâm Hội nghị tỉnh và di tích Đền thờ Bác Hồ phục vụ lễ kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9/2020 với các chuyên đề: Đảng Cộng sản Việt Nam - Những mốc son lịch sử; thành tựu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh tỉnh Hậu Giang năm 2019.  Sưu tầm và viết lý lịch 20 hiện vật. Khách đến xem triển lãm và tham quan các di tích, nhà truyền thống huyện, phòng truyền thống các xã văn hóa được 17.560 lượt người.

Về sự nghiệp thể dục thể thao: Kiểm tra việc tập luyện của Bộ môn Vovinam nhằm chuẩn bị lực lượng tham dự giải vô địch trẻ Vovinam toàn quốc lần thứ XVIII năm 2020 do Hậu Giang đăng cai tổ chức. Cử 02 vận động viên môn Judo đi tập huấn dài hạn tại Trung tâm Huấn luyện Thể thao quốc gia thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự nghiệp du lịch: Xây dựng kế hoạch tổ chức Hội thảo tham vấn ý kiến về Đề án Tạo dựng hình ảnh tỉnh Hậu Giang. Xây dựng các chương trình du lịch trải nghiệm phục vụ nhu cầu cho đối tượng học sinh tại các khu, điểm du lịch, các nhà vườn... trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Chuẩn bị các điều kiện cần thiết hỗ trợ đoàn khảo sát của Công ty du lịch Saigontourist làm việc tại Hậu Giang nhằm thực hiện Chương trình liên kết hợp tác phát triển du lịch giữa thành phố Hồ Chí Minh và 13 tỉnh thành vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

7.3. Lao động và an sinh xã hội

7.3.1. Về tình hình đời sống dân cư và giải quyết việc làm

Nhìn chung, trong 9 tháng năm 2020 nhờ được sự quan tâm của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương và sự nổ lực vươn lên của bản thân mỗi người dân, nên đời sống của hầu hết các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định.

Vấn đề giải quyết việc làm cũng được Lãnh đạo tỉnh đặc biệt quan tâm, do tỉnh Hậu Giang là một tỉnh nông nghiệp, nguồn lao động trẻ, dồi dào nhưng chưa được đào tạo đúng mức, tay nghề thấp chiếm tỷ lệ lớn nên chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội, người lao động gặp không ít khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm. Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi vẫn còn khá cao (Nguồn Niên giám Thống kê điều chỉnh 10 năm 2009-2019 do Tổng Cục gửi là 3,07%).

Vì vậy, thời gian qua, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành các chủ trương, chính sách cụ thể, thiết thực, phù hợp, nhằm khuyến khích, kêu gọi sự đầu tư của DN trong và ngoài tỉnh, kể cả DN nước ngoài xây dựng các cơ sở mới, quy mô hiện đại hơn, việc quy hoạch các khu, cụm công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp được tỉnh rất chú trọng. Do đó, phần nào giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động, đồng thời làm tăng thu nhập ổn định cuộc sống của người dân.

Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chủ trưởng, chính sách giải quyết việc làm cho người lao động, ngành LĐTBXH phối hợp với các ngành có liên quan, thông qua các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tư vấn giới thiệu việc làm, tạo việc làm trong và ngoài tỉnh. Cụ thể một số kết quả đạt được trong 9 tháng năm 2020 như sau:

- Giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 13.234/15.000 lao động, đạt 88,22% kế hoạch năm. Ban hành Quyết định giải quyết chế độ Bảo hiểm thất nghiệp theo quy định cho 5.271 người với số tiền gần 64 tỷ đồng.

- Tư vấn, giới thiệu việc làm: Trong quý III, tổ chức 16 cuộc giao dịch việc làm trên địa bàn các huyện Vị Thủy, Long Mỹ và thành phố Vị Thanh với gần 650 người lao động tham dự, có 111 người lao động đăng ký tìm việc làm.

- Giáo dục nghề nghiệp: Đào tạo được 7.197/6.500 lao động, đạt 110,7% kế hoạch năm. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 56,93/57,68%. Trong đó:

+ Đào tạo Trung cấp, Cao đẳng: đã tuyển sinh được 262 học viên cho năm học 2020-2021 (Trường Cao đẳng Luật Miền Nam 67 học viên, Trường Cao đẳng Cộng đồng Hậu Giang 195 học viên);

+ Về đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Lĩnh vực phi nông nghiệp (đào tạo nghề cho doanh nghiệp) đào tạo được 64 lớp, với 1.585 học viên; lĩnh vực nông nghiệp đào tạo được 54 lớp, với 1.350 học viên.

+ Đào tạo nghề cho thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an: đã đào tạo được 352 thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an có thẻ học nghề năm 2020.

+ Đào tạo nghề từ các chương trình, dự án khác: đã đào tạo được 3.648 lao động.

7.3.2. An sinh xã hội

Trong 9 tháng, ngành LĐTBXH đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh năm 2020; triển khai thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid -19 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Bằng nhiều biện pháp hỗ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất như hỗ trợ vốn và các chương trình lồng ghép khác của dự án xóa đói giảm nghèo và sự nỗ lực vươn lên từ các hộ nghèo, đến nay số hộ nghèo đã giảm đáng kể. Tổng hợp kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2019 theo chuẩn tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, cụ thể như sau:

- Tổng số hộ nghèo: 10.088 hộ, chiếm tỷ lệ 4,98% (so với năm 2018 giảm 2,2%, năm 2018 là 14.489 hộ, chiếm tỷ lệ 7,18%).

- Tổng số hộ cận nghèo: 8.832 hộ, chiếm tỷ lệ 4,36% (so với năm 2018 giảm 0,66%, năm 2018 là 10.123 hộ, chiếm tỷ lệ 5,02%).

Công tác bảo trợ xã hội luôn được quan tâm thực hiện: Hàng tháng trợ cấp cho 253.462 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 106,54 tỷ đồng; hỗ trợ mai táng phí cho 1.651 trường hợp với số tiền 8,92 tỷ đồng; hỗ trợ đột xuất cho 178 trường hợp với số tiền 1,1 tỷ đồng; thăm và tặng 332 phần quà (mỗi phần trị giá 300.000 đồng) cho 332 người khuyết tật nhân Ngày người khuyết tật Việt Nam 18/4/2020, tổng kinh phí 99,6 triệu đồng.

Công tác thực hiện chính sách Người có công luôn được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo sâu sát, uốn nắn kịp thời, nhất là việc triển khai tổ chức thực hiện các quy định mới về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, công tác rà soát thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công. Ủy ban nhân dân tỉnh đã phê duyệt danh sách, kinh phí hỗ trợ 760 người là vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc lấy vợ khác đang hưởng trợ cấp hàng tháng gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh, với số tiền 1,14 tỷ đồng; tiếp nhận mới 1.706 hồ sơ các loại. Đã xét giải quyết 1.636 hồ sơ. Trong đó, đạt 1.289 hồ sơ; không đạt 347 hồ sơ. Còn lại 70 hồ sơ đang tiếp tục xem xét, giải quyết; nhân dịp kỷ niệm 73 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947- 27/7/2020): Toàn tỉnh đã tổ chức họp mặt, thăm, tặng gần 36.000 phần quà cho người có công với cách mạng trên địa bàn tỉnh với số tiền gần 13 tỷ đồng; thăm, tặng 250 phần quà cho người có công với cách mạng đang điều trị tại các Bệnh viện, Trung tâm y tế trên địa bàn tỉnh với số tiền 125 triệu đồng,… Nhìn chung, được sự quan tâm của các cấp, các ngành đối với người có công, đã góp phần vào công tác xoa dịu nỗi đau, khích lệ tinh thần và ổn định cuộc sống của người dân.

Về kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09/4/2020 của Chính phủ và Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 như sau: Đến thời điểm báo cáo, đã chi hỗ trợ cho 119.362 người bị ảnh hưởng do đại dịch Covid-19 với tổng kinh phí 117,9 tỷ đồng (bao gồm 5.333 người có công với cách mạng; 25.683 đối tượng bảo trợ xã hội; 33.056 người thuộc hộ nghèo; 32.931 người thuộc hộ cận nghèo; 22.359 lao động tự do mất việc làm (trong đó có 3.645 người bán lẻ vé số lưu động và 499 người bán vé số hỗ trợ theo Công văn số 630/UBND-NCTH ngày 02/4/2020 của UBND tỉnh); 08 người lao động bị chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp; 92 hộ kinh doanh cá thể khai báo thuế dưới 100 triệu đồng.

7.4. Y tế

Theo báo cáo của Sở Y tế, trong tháng có 16 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, tăng 08 ca so với tháng trước, cộng dồn là 112 ca, giảm 268 ca so với cùng kỳ;  bệnh tay chân miệng có 18 ca mắc mới, giảm 01 ca so với tháng trước, cộng dồn là 130 ca, giảm 213 ca so với cùng kỳ; bệnh sởi, bệnh viêm gan do virut, quai bị trong tháng không có ca mắc; bệnh dịch lạ như EBOLI, H5N1, MERS-CoV, Zika và các bệnh truyền nhiễm khác chưa ghi nhận ca mắc trên địa bàn tỉnh.

Về tình hình dịch Covid-19: Hiện tại tỉnh Hậu Giang chưa có phát hiện ca bệnh. Các Sở, ban, ngành đã cấp 476.186 tờ rơi các loại về phòng, chống dịch bệnh; 4.831 áp phích; 100 bản nội quy cho đối tượng thực hiện cách ly; 100 đĩa thông điệp phát thanh; 100 đĩa thông điệp truyền hình và nhiều hình thức khác.

- Sở Y tế tổng hợp kinh phí chống dịch từ các đơn vị. Tổng nhu cầu kinh phí khoảng 152,43 tỷ đồng; đã được cấp là 115, 67 tỷ đồng, đang trình Ủy ban nhân dân tỉnh bổ sung 36,75 tỷ đồng.

 - Tính đến ngày 13/8/2020: 

+ Tổng số người được cách ly là 5.594 người (cách ly tập trung: 956 người; cách ly tại nhà: 4.638); số đủ thời gian cách ly 14 ngày là 5.416 người (cách ly tập trung: 788; cách ly tại nhà: 4.628), đang cách ly tập trung: 166 người (về từ Singapore, Camphuchia, Đà Nẵng, Quảng Nam, Hà Nội), theo dõi sức khoẻ tại nhà: 12 người. Tất cả trường hợp cách ly có kết quả xét nghiệm âm tính lần 1.

+ Số người về từ  Đà Năng, Quảng Nam, Hà nội mới cập nhật là: 25 người (có 12 người về từ Đà Nẵng và các địa điểm có dịch), cộng dồn là: 1.833 người (trong đó có 77 người của các Sở Ban ngành tỉnh); có 853 người đủ thời gian theo dõi 14 ngày, hiện còn 980 người đang theo dõi. Tất cả đã cập nhật khai báo y tế.

+ Tổng số xét nghiệm Sars-CoV-2 tại Hậu Giang đến nay là 669 mẫu, 557 mẫu có kết quả âm tính, 12 mẫu đang chờ kết quả.

Thành lập được 11 địa điểm cách ly tập trung với số giường là 1.379 (120 giường tại TTYT; 1.259 giường tại các cơ sở ngoài Trung tâm y tế); hoàn chỉnh kế hoạch thành lập Bệnh viện dã chiến tại Trung tâm y tế huyện Vị Thủy, với cơ số 60 giường, đã chuẩn bị sẵn sàng nhân sự, trang thiết bị, thuốc, vật tư y tế,… Chỉ đạo các cơ sở y tế thực hiện nghiêm túc việc phân luồng, cách ly các trường hợp khám bệnh viêm đường hô hấp cấp; bố trí cán bộ trực 24/24.

Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 1.038 trẻ, cộng dồn là 8.585 trẻ, đạt 75,72%; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 978 trẻ, cộng dồn là 8.378 trẻ, đạt 73,62%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 936 thai phụ, cộng dồn là 7.964 thai phụ, đạt 70,24%; số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng 04 ca, cộng dồn là 65 ca (giảm 46 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.811 ca (người còn sống 1.209 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng 02 ca, cộng dồn là 11 ca (giảm 09 ca với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.039 ca; Số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 02 ca, cộng dồn là 17 ca (tăng 03 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 602 ca. Khám và cấp thuốc cho 448 lượt bệnh nhân. Số người hiện đang điều trị Methadone là 60 người. Tổng số bệnh nhân điều trị ARV là 816 người.

Kết quả thực hiện khám chữa bệnh đến tháng 9/2020: Tổng số lần khám 144.196 lượt, cộng dồn là 1.454.522 lượt, đạt 71,45% Kế hoạch, giảm 5,24% so với cùng kỳ. Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú là 8.464 lượt, cộng dồn là 84.868 lượt, đạt 58,69% Kế hoạch, giảm 10,99% so với cùng kỳ. Ngày điều trị trung bình là 5,87 ngày, giảm 0,14 ngày so với cùng kỳ. Tỷ lệ tử vong là 0,03%,  giảm 0,02 cùng kỳ. Tổng số tai nạn ngộ độc, chấn thương là 672 trường hợp, cộng dồn là 7.280 trường hợp, giảm 921 trường hợp so với cùng kỳ. 

Chữa bệnh bằng Y học dân tộc: Tổng số khám bệnh là 33.482 lượt, cộng dồn là 199.331 lượt, chiếm tỷ lệ 13,70% tổng số lượt khám chữa bệnh chung, giảm 6,57% so với cùng kỳ.

Trong thời gian tới, Sở Y tế tiếp tục triển khai chiến dịch phòng, chống dịch bệnh; tăng cường chỉ đạo thực hiện tốt kế hoạch phòng, chống dịch bệnh chủ động, hạn chế tối đa số ca mắc mới, phòng chống các bệnh dịch xâm nhập từ bên ngoài, tăng cường công tác giám sát, phát hiện sớm, dập dịch kịp thời, không để dịch bệnh lớn xảy ra; từng bước kiểm soát các yếu tố có hại đến sức khỏe liên quan đến môi trường, an toàn thực phẩm, lối sống và hành vi của người dân. Tăng cường quản lý nhà nước về công tác bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về an toàn, vệ sinh thực phẩm, đẩy mạnh công tác phối hợp liên ngành nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm trong dịp Tết Trung thu và trước Tết Nguyên đán 2021, không để xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm (trên 30 người mắc) trên địa bàn tỉnh.

7.5. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Trong tháng 9/2020, theo số liệu của Ban An toàn giao thông trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ tai nạn giao thông, làm chết 03 người, không có trường hợp bị thương (tập trung ở đường bộ). So với tháng trước, giảm 05 vụ (đường bộ 04 vụ, đường thủy 01 vụ), số người chết tương đương (đường bộ tăng 01 người, đường thủy giảm 01 người) và số người bị thương giảm 07 người (tập trung đường bộ). So với cùng kỳ năm trước, số vụ giảm 01 vụ, số người chết tương đương và số người bị thương giảm 01 người (tập trung đường bộ).

Tính chung 9 tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra tổng cộng 47 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 46 vụ, đường thủy 01 vụ), làm chết 32 người (đường bộ 31 người, đường thủy 01 người) và làm bị thương 20 người (tập trung ở đường bộ). So với cùng kỳ năm trước giảm 23 vụ (đường bộ 22 vụ, đường thủy 01 vụ), số người chết giảm 34 người (đường bộ 33 người, đường thủy 01 người) và số người bị thương tăng 05 người (tập trung ở đường bộ).

7.6. Tình hình môi trường, thiên tai và phòng, chống cháy, nổ

Ngành chức năng tiếp tục giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các cơ sở có thông tin phản ánh để kịp thời xử lý theo quy định. Tính đến tháng 9/2020, ngành chức năng phát hiện 41 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 38 vụ, với số tiền xử phạt là 351,5 triệu đồng.

Về tình hình thiên tai:

- Sạt lở: Trên địa bàn tỉnh đã xảy ra: 46 điểm (huyện Châu Thành 39 điểm, huyện Châu Thành A 03 điểm, thành phố Ngã Bảy 04 điểm. Trong đó, 02 điểm sụp lún đê bao). So với cùng kỳ tăng 03 điểm (năm 2019 là 43 điểm). Tổng chiều dài 1.198,5 m, diện tích mất đất 5.789,5 m2. Ước tổng thiệt hại 2.542 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2019 (960,7 m) tăng 219,8 m, diện tích mất đất năm 2019 (5.184,7 m2 ) tăng 532,8 m2, thiệt hại năm 2019 (2.229,9 triệu đồng) tăng 287,1 triệu đồng.

- Dông lốc: Nhà sập 64 căn (thành phố Vị Thanh 14 căn; huyện Châu Thành 01 căn; huyện Châu Thành A 02 căn, huyện Vị Thủy 04 căn, huyện Long Mỹ 08 căn, huyện Phụng Hiệp 14 căn, thị xã Long Mỹ 15 căn, thành phố Ngã Bảy 06 căn). Tốc mái: 245 căn (thành phố Vị Thanh 47 căn; huyện Châu Thành 03 căn; huyện Châu Thành A 09 căn, huyện Vị Thủy 15 căn, huyện Long Mỹ 36 căn, huyện Phụng Hiệp 88 căn, thị xã Long Mỹ 17 căn, thành phố Ngã Bảy 30 căn), ước thiệt hại 4.402,5 triệu đồng. Trong đó: 01 trường hợp sét đánh chết ở phường Thuận An, thị xã Long Mỹ; tốc mái 02 nhà kho, đỗ ngã 1.174 cây các loại như: mít, cóc, xoài). So với cùng kỳ thiệt hại năm 2019 (2.291 triệu đồng) tăng 2.111,5 triệu đồng.

Về công tác phòng, chống cháy, nổ luôn được các ngành chức năng quan tâm thực hiện, định kỳ có kiểm tra, hướng dẫn người dân, các cơ sở kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy. Mặc dù được quan tâm thực hiện tốt nhưng tính từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 5 vụ cháy, may mắn không thiệt hại về người, ước tổng tài sản thiệt hại khoảng 854 triệu đồng.

8. Đề xuất giải pháp

Trong 9 tháng năm 2020, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sản xuất, kinh doanh của tỉnh. Vì vậy, để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2020, trong những tháng cuối năm các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị cần tập trung cao trong công tác chỉ đạo, điều hành, nghiêm túc quán triệt, thực hiện các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh về triển khai thực hiện nhiệm vụ, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

- Một là, tiếp tục tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư, giải quyết khó khăn cho DN.

- Hai là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

- Ba là, tái cơ cấu nông nghiệp, thủy sản, cây ăn trái gắn với xây dựng nông thôn mới: Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nền nông nghiệp có giá trị gia tăng cao và phát triển bền vững trên cơ sở tập trung cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới.

- Bốn là, phát triển công nghiệp - xây dựng, nâng cao hiệu quả đầu tư công: Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu công nghiệp; kêu gọi thu hút đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp, phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp; tăng cường xúc tiến thu hút đầu tư nhằm nâng cao tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp. đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình xây dựng cơ bản, mà đặc biệt là các công trình trọng điểm trên địa bàn; đồng thời gắn với việc giám sát, kiểm tra chất lượng công trình, nhanh chóng hoàn thành các công trình xây dựng cơ bản đang tồn đọng nhất là các công trình dự án trọng điểm đã bố trí vốn (giao thông, nông nghiệp, y tế, giáo dục, v.v…).

- Năm là, phát triển dịch vụ và đẩy mạnh xuất khẩu: Tăng cường công tác xúc tiến thương mại, liên kết vùng, kết nối cung cầu nhằm đưa các sản phẩm chủ lực, hàng thủ công mỹ nghệ của tỉnh Hậu Giang vào hệ thống phân phối hiện đại, các điểm tham quan du lịch trong tỉnh và các tỉnh thành trong cả nước. Theo dõi diễn biến giá cả thị trường và công tác bình ổn thị trường. Tăng cường công tác quản lý thị trường, kịp thời phát hiện những trường hợp đầu cơ, gây mất cân bằng cung cầu, xử lý nghiêm những trường hợp kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng; quản lý giá bán theo giá niêm yết, xử lý các vi phạm về giá.

- Sáu là, đẩy mạnh khai thác thế mạnh tiềm năng về du lịch trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là du lịch nông nghiệp

[[1]] Vốn đầu tư thực hiện tăng so với tháng trước là do: Triển khai nhanh việc lập hồ sơ, thủ tục các dự án mới đã được bố trí vốn bổ sung; chủ đầu tư triển khai nhanh các dự án thuộc nguồn vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ; được sự quan tâm của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo giải quyết nhanh, kịp thời các khó khăn, vướng mắc và đảm bảo đúng tiến độ, sớm đưa các công trình hoàn thành vào khai thác sử dụng đạt hiệu quả cao, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các DN hoạt động đầu tư trên địa bàn. 

[[2]] Giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng so với quý trước là do tình hình dịch Covid-19 đã được kiểm soát tốt, hoạt động ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh cơ bản trở lại trạng thái bình thường; được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của lãnh đạo các cấp, các sở, ngành và các chủ đầu tư đẩy nhanh việc đền bù, giải phóng mặt bằng, đấu thầu, chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm tiến độ thi công các công trình, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN hoạt động đầu tư trên địa bàn đã góp phần làm tăng giá trị sản xuất.

[[3]] Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng so với cùng kỳ năm trước là do hiện nay giá cả nhóm hàng vật liệu xây dựng, chi phí máy thi công và chi phí nhân công tăng cao; một số công trình cơ bản đã hoàn thành đưa vào sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư và nhà thầu góp phần làm tăng giá trị sản xuất.

[[4]] Các DN tạm ngừng hoạt động là do điều kiện kinh doanh khó khăn, kinh doanh không hiệu quả, cần có thời gian sắp xếp lại bộ máy và phương thức kinh doanh cho phù hợp điều kiện của tỉnh.

[[5]] Các DN giải thể là các DN siêu nhỏ, nguồn vốn, công nghệ lạc hậu, năng lực quản trị rất hạn chế; kinh doanh không hiệu quả, không có khả năng mở rộng quy mô; các DN giải thể thuộc các lĩnh vực xây dựng, vận tải và bán buôn trong các cửa hàng chuyên doanh khác.