Tháng 01
19:25 29/01/2021

BÁO CÁO 

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hậu Giang tháng 01 năm 2021

 

Năm 2020, mặc dù chịu ảnh hưởng của thiên tai, dịch bệnh nhưng với quyết tâm thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hậu Giang đã chung sức, đồng lòng phấn đấu thực hiện vượt và đạt hầu hết các chỉ tiêu Kế hoạch đã đề ra. Tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được, ngay từ đầu năm, Tỉnh đã khẩn trương triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm của năm 2021. Nhờ vậy, trong tháng 01/2021, các chỉ tiêu kinh tế duy trì ở mức tăng trưởng khá cao so với cùng kỳ năm trước: Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,69%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 18,05%; trị giá hàng hóa xuất khẩu tăng 57,34%; trị giá hàng hóa nhập khẩu tăng 56%. Cụ thể kết quả hoạt động của từng ngành, lĩnh vực như sau:

1. Tài chính, tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu Ngân sách nhà nước tháng 01/2021 được 762,70 tỷ đồng, đạt 15,83% dự toán Trung ương, đạt 9,62% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Trung ương trợ cấp 420,20 tỷ đồng, đạt 10,42% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; thu nội địa được 305 tỷ đồng, đạt 9,17% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi Ngân sách địa phương tháng 01/2021 được 567,29 tỷ đồng, đạt 8,17% dự toán Trung ương, đạt 8,19% dự toán toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chia ra: Chi xây dựng cơ bản được 231,05 tỷ đồng, đạt 8,21% dự toán Trung ương, đạt 8,33% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; chi thường xuyên được 336,24 tỷ đồng, đạt 8,37% dự toán Trung ương, đạt 8,33% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 31/12/2020, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 15.982 tỷ đồng[[1]], tăng trưởng 11,09% so với cuối năm 2019. Vốn huy động đáp ứng được 59,74% cho hoạt động tín dụng. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng Thương mại Nhà nước huy động được 10.396 tỷ đồng (chiếm 65,05%); khối Ngân hàng Thương mại Cổ phần được 4.918 tỷ đồng (chiếm 30,77%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 627 tỷ đồng (chiếm 3,92%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 41 tỷ đồng (chiếm 0,26%). Hiện, lãi suất huy động không kỳ hạn đến dưới 1 tháng phổ biến từ 0,1-0,2%/năm; lãi suất từ 01 tháng đến dưới 06 tháng ở mức 3,5-4,0%/năm; lãi suất từ 06 tháng đến dưới 12 tháng ở mức 4,9-5,1%/năm; lãi suất từ 12 tháng trở lên ở mức 6,0-6,5%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 01/2021, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn đạt 15.797 tỷ đồng, giảm 1,16% so với cuối năm 2020.

Đến ngày 31/12/2020, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn được 26.752 tỷ đồng[[2]], tăng trưởng 14,37% so với cuối năm 2019. Trong tổng dư nợ thì khối Ngân hàng Thương mại Nhà nước được 18.732 tỷ đồng (chiếm 70,02%); khối Ngân hàng Thương mại Cổ phần được 5.339 tỷ đồng (chiếm 19,96%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 2.637 tỷ đồng (chiếm 9,86%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 44 tỷ đồng (chiếm 0,16%). Hiện nay, lãi suất cho vay luôn được giữ ở mức ổn định, đối với các lĩnh vực ưu tiên lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam phổ biến là 4,5%/năm; cho vay trung, dài hạn ở mức 10 -11%/năm; các lĩnh vực khác lãi suất cho vay ngắn hạn từ 9,0 - 9,5%/năm; trung, dài hạn từ 10,5 - 13%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 01/2021, dư nợ đạt 26.851 tỷ đồng, tăng trưởng 0,37% so với cuối  năm 2020.

Nợ quá hạn đến ngày 31/12/2020 là 661 tỷ đồng, chiếm 2,47% trên tổng dư nợ; nợ xấu là 391 tỷ đồng, chiếm 1,46% trên tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 270 tỷ đồng, chiếm 40,85% trên tổng nợ quá hạn. Dự báo đến cuối tháng 01/2020, nợ xấu toàn địa bàn vẫn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.

2. Vốn đầu tư

  Kế hoạch vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2021 là 15.135,66 tỷ đồng (theo Quyết định số 2366/QĐ-UBND ngày 11/12/2020 và Quyết định số 2527/QĐ-UBND ngày 31/12/2020 của Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang về việc giao kế hoạch vốn đầu tư công thuộc ngân sách nhà nước năm 2021 và vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ đầu tư trên địa bàn), bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.729,66 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.020 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 12.386 tỷ đồng.

Ước tính tháng 01/2021, vốn đầu tư thực hiện được 1.605,18 tỷ đồng, bằng 103,52% so với cùng kỳ năm trước và bằng 81,90%[[3]] so với tháng trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước thực hiện được 180,88 tỷ đồng, bằng 128,56% so với cùng kỳ năm trước và bằng 50,27% so với tháng trước.

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Nhìn chung, trong tháng tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tập trung vào công tác xuống giống lúa Đông xuân 2021; phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm; chăm sóc và bảo vệ rừng, tuyên truyền nâng cao ý thức người dân về phòng chống cháy rừng; hướng dẫn, hỗ trợ người dân khai thác các tiềm năng, lợi thế tự nhiên, kết hợp đồng bộ các giải pháp phát triển nuôi thủy sản theo hướng sản xuất hiệu quả, bền vững. Kết quả cụ thể từng lĩnh vực như sau:

3.1. Nông nghiệp

Lúa Đông xuân 2021, ước toàn tỉnh đã xuống giống được 75.350 ha, bằng 98,37% so với kế hoạch (kế hoạch 76.600 ha), so với cùng kỳ giảm 3,03% (bằng 2.352 ha). Lúa chủ yếu đang ở giai đoạn mạ đến làm đồng, giống lúa được sử dụng phổ biến như: OM 5451, Đài thơm 8, RVT, OM 18,…

Cây ngô, ước diện tích gieo trồng được 627 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 2,28% (bằng 15 ha). Do không hiệu quả nên chuyển đổi diện tích.

Mía niên vụ 2021, ước toàn tỉnh xuống giống được 2.266 ha, giảm 20,49%[[4]] so với cùng kỳ, mía được trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp và thành phố Ngã Bảy. Các giống mía chủ yếu là giống ngắn ngày như: ROC 16, K88-92, KK3, ROC 22, K95-289,….

Cây rau, đậu các loại, ước diện tích gieo trồng được 5.357 ha, tăng 7,42%[[5]] (bằng 370 ha) so cùng kỳ.

Về tình hình sâu bệnh hiện được kiểm soát tốt, ngành Nông nghiệp tăng cường khuyến cáo bà con nông dân thường xuyên thăm đồng để phát hiện sớm sinh vật gây hại trong thời vụ, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời, bên cạnh đó, cũng cần chủ động phòng chống các sinh vật gây hại như: ốc bươu vàng, bọ trĩ, sâu cuốn lá, đặc biệt bệnh đạo ôn, muỗi hành và bệnh rầy nâu.

3.2. Chăn nuôi

Ước tính tháng 01/2021, số đầu con gia súc, gia cầm so với cùng kỳ cụ thể như sau:

- Đàn trâu: Ước được 1.455 con, giảm 0,75% (bằng 11 con) so với cùng kỳ.

- Đàn bò: Ước được 3.617 con, tăng 1,89% (bằng 67 con) so với cùng kỳ.

- Đàn heo (không tính heo con chưa tách mẹ): Ước được 97.122 con, tăng 12,74%[[6]] (bằng 10.976 con) so với cùng kỳ. Trong đó: Heo thịt được 84.954 con, tăng 12,75% (bằng 9.604 con).

- Đàn gia cầm: Ước được 4.525 ngàn con, tăng 2,06% (bằng 91 ngàn con). Trong đó: Đàn gà được 1.444 ngàn con, tăng 4,29% (bằng 59 ngàn con). Đàn gia cầm tăng do giá thịt gia cầm ổn định, dịch bệnh ít, thị trường đầu ra tốt.

3.3. Lâm nghiệp

Trong tháng, tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung vào công tác chăm sóc và bảo vệ rừng. Công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định. Công tác phòng chống cháy rừng được ngành chức năng chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên theo dõi kiểm tra và cảnh báo kịp thời đến người dân.

Ước tính tháng 01/2021, sản lượng gỗ khai thác được 1.229 m3, tăng 0,99% (bằng 12 m3) so với cùng kỳ, sản lượng củi khai thác được 5.703 ste, tăng 1,05% (bằng 59 ste) so với cùng kỳ.      

3.4. Thủy sản

Diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh (ước tính ở thời điểm 15/01/2021) được 1.888,6 ha[[7]], tăng 2,15% (bằng 39,7 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tổng sản lượng thủy sản ước được 5.519 tấn, tăng 2,28% (bằng 123 tấn) so với cùng kỳ năm trước, chia ra: Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 5.257 tấn, tăng 2,47% (bằng 127 tấn); sản lượng thủy sản khai thác được 262 tấn, giảm 1,21% (bằng 3 tấn).\

4. Tình hình sản xuất công nghiệp

Trong những tháng gần đây, trên địa bàn tỉnh có nhiều dự án mới đi vào hoạt động thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp, do có nhiều chính sách hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp phát triển, cho nên cộng đồng doanh nghiệp đã không ngừng lớn mạnh, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động và đảm bảo an sinh xã hội.

Ước tính tháng 01/2021, giá trị sản xuất công nghiệp: Tính theo giá so sánh 2010, được 2.493,14 tỷ đồng, giảm 3,96% so với tháng trước và tăng 16,90% so với cùng kỳ năm trước; tính theo giá thực tế, được 3.445,75 tỷ đồng, giảm 5,38% so với tháng trước và tăng 18,99% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm so với tháng trước là do các doanh nghiệp đã có kế hoạch cắt giảm sản lượng trong việc sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ hàng tồn kho, không làm ảnh hưởng đến vốn hoạt động của doanh nghiệp trong dịp Tết Nguyên đán sắp đến. Nhưng tăng cao so với cùng kỳ năm trước là do tháng 01 năm 2021 doanh nghiệp hoạt động nhiều hơn 05 đến 07 ngày so với cùng kỳ (tháng 01/2020 doanh nghiệp nghỉ tạo điều kiện cho người lao động được vui xuân đón Tết Nguyên đán). Vì vậy, ước giá trị sản xuất công nghiệp giảm so với tháng trước nhưng tăng cao so với cùng kỳ.

Nhìn chung, sản xuất công nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh có tăng, nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về giá, thị trường xuất khẩu, nguyên liệu đầu vào và một số yếu tố khác như: Xăng dầu, phí vận chuyển đang có xu hướng tăng,.... Do vậy, các doanh nghiệp cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp, dự án lớn như: Dự án điện mặt trời VKT- Hòa An; Công ty Sunpro Capital Group Limited; Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1;… đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong thời gian tới.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính tháng 01/2021, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp giảm 2,38% so với tháng trước và tăng 15,69% so với cùng kỳ, trong đó:

- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Giảm 2,38% so với tháng trước và tăng 15,70% so với cùng kỳ. Trong đó, các ngành giảm so với tháng trước nhưng tăng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo như: Sản xuất chế biến thực phẩm; sản xuất đồ uống; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan;…. Cụ thể:

+ Ngành sản xuất chế biến thực phẩm giảm 11,95% so với tháng trước và tăng 20,89% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thủy sản (chiếm tỷ trọng trên 96,50% trong ngành chế biến thực phẩm) giảm 16,63% so với tháng trước và tăng 35,90% so với cùng kỳ; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản giảm 1,02% so với tháng trước và tăng 3,02% so với cùng kỳ;.... Nguyên nhân giảm so với tháng trước là do các doanh nghiệp đã có kế hoạch cắt giảm sản lượng trong việc sản xuất, đẩy mạnh tiêu thụ hàng tồn kho, không làm ảnh hưởng đến vốn hoạt động của doanh nghiệp trong dịp Tết Nguyên đán sắp đến, nhưng tăng cao so với cùng kỳ là do tháng này doanh nghiệp hoạt động nhiều ngày hơn so với cùng kỳ (tháng 01/2020 doanh nghiệp nghỉ từ 05 đến 07 ngày cho người lao động được vui xuân đón tết), nên chỉ số ngành sản xuất chế biến thực phẩm giảm so với tháng trước nhưng tăng cao so với cùng kỳ năm trước.

+ Ngành sản xuất đồ uống giảm 9,51% so với tháng trước và tăng 143,71% cùng kỳ. Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ là do Công Ty TNHH Mtv Masan Brewery Hậu Giang, với sản phẩm chính là bia Sư Tử Trắng, đã tạo được thương hiệu, doanh nghiệp không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng sản phẩm, nên sản lượng sản xuất tăng 280,99% (7.860/2.063 1000 lít)  so với cùng kỳ, để phục vụ thị trường dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu sắp đến. Vì vậy, Chỉ số sản xuất tháng này có giảm nhẹ so với tháng trước nhưng tăng rất cao so với cùng kỳ năm trước.

+ Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 9,16% so với tháng trước và tăng 10,35% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Lạc Tỷ II sản phẩm chính là giày da các loại, chủ yếu là xuất khẩu, mặt dù nghỉ Tết Nguyên đán nhưng doanh nghiệp phải đảm bảo sản lượng sản xuất để kịp thời hoàn thành các hợp đồng đã ký trước đó, nên dự tính chỉ số sản xuất ngành này giảm so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: Giảm 2,50% so với tháng trước và tăng 14,57% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty Điện lực đã cung cấp đủ điện, an toàn phục vụ phát triển kinh tế xã hội, hạn chế tối đa không để tình trạng mất điện, đảm bảo nhu cầu sử dụng cho người dân và các doanh nghiệp được hoạt động liên tục. Tuy nhiên, hiện nay do đang vào đợt lập đông, nên người dân cũng hạn chế sử dụng các đồ dùng, trang thiết bị gia đình bằng điện trong sinh hoạt, nhất là sử dụng máy điều hòa và quạt điện. Vì thế, sản lượng truyền tải và phân phối điện giảm 1,63 triệu kwh so với tháng trước và tăng 10,63 triệu kwh so với cùng kỳ năm trước. Trong thời gian sắp tới khi Dự án điện mặt trời của Công ty điện mặt trời VKT- Hòa An, với công suất thiết kế 29MWp, đang trong quá trình đấu nối vào tuyến đường dây 110kv Vị Thanh – Long Mỹ. Dự báo khi dự án hoàn thành chỉ số ngành ngày sẽ tăng đột biến so với cùng kỳ.

- Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: Giảm 1,28% so với tháng trước và tăng 15,43% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty Cổ phần Cấp Thoát nước – CTĐT Hậu Giang đã hoàn thiện và khởi công mới các tuyến đường ống dẫn nước đến các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh và khai thác thêm các nguồn nước ngầm, để đảm bảo cung cấp đầy đủ nước sạch phục vụ tốt việc sản xuất kinh doanh và sinh hoạt cho người dân. Vì vậy, sản lượng sản xuất nước sạch sinh hoạt tháng 01 tăng 1.062 ngàn m3 so với cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng 16,77% so với cùng kỳ.

Về tình hình sử dụng lao động: Tính đến thời điểm tháng 01/2021, chỉ số sử dụng lao động toàn ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 1,92% so với cùng kỳ. Trong đó, các ngành tăng cao hơn mức tăng chung của toàn tỉnh so với cùng kỳ như: Sản xuất đồ uống tăng 49,10%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre tăng 17,65%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 12,86%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 27,37%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 27,27%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 14,89%. Chỉ số sử dụng lao động tăng tập trung chủ yếu ở các ngành sản xuất ra các sản phẩm bằng sức lao động là chủ yếu. Nguyên nhân tăng chủ yếu là các ngành trên tăng sản lượng sản xuất để phục vụ thị trường dịp Tết Nguyên đán sắp đến.

5. Hoạt động thương mại, dịch vụ

5.1. Bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Bước qua tháng 01/2021, Tết Nguyên đán đã cận kề, đây là lúc người dân chuẩn bị sắm sửa để vui xuân đón tết. Thị trường hàng hoá bắt đầu phong phú, đa dạng về mẫu mã lẫn thể loại; lượng hàng hóa được bày bán tăng, nhất là các mặt hàng rau quả, thịt, thủy hải sản tươi sống, bánh mứt các loại, hoa, cây cảnh,… phục vụ cho nhu cầu mua sắm đón tết của người dân.

Vì vậy, ước tính tháng 01/2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 4.300,05 tỷ đồng (trong đó, doanh thu chi nhánh của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh là 440,60 tỷ đồng), so với thực hiện tháng trước bằng 101,70% và so với cùng kỳ năm trước bằng 118,05%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa được 3.355,88 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 101,86% và so với cùng kỳ năm trước bằng 120,87%. Năm nay, các khu chợ hoa kiểng, khu bán hàng lương thực, thực phẩm tại các chợ được bố trí hợp lý, sắp xếp chu đáo. Dự kiến có khoảng 226 lô (trong đó có 156 lô bán hoa, cây cảnh; 70 lô dưa hấu tập trung ở đường 1/5, bờ kè đường Trần Hưng Đạo). Tại mỗi chợ ở các phường thì tùy theo sức mua và quy mô mỗi chợ sẽ có biện pháp bố trí tăng thêm lô, để phục vụ nhu cầu mua, bán của người dân. Do đó, ước doanh thu bán lẻ hàng hóa trong tháng sẽ tăng.

- Doanh thu dịch vụ khác thực hiện được 349,99 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 101,28% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,72%. Cụ thể một số nhóm tăng so với tháng trước như: Dịch vụ hành chính và hỗ trợ tăng 1,68%; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng 1,21%; một số ngành dịch vụ khác tăng 8,30%, do nhu cầu sửa chữa máy tính, đồ dùng cá nhân và đặc biệt là các dịch vụ làm đẹp, massage, hớt tóc,… tăng mạnh vào cuối năm, để chuẩn bị vui xuân đón tết.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 594,19 tỷ đồng[[8]], so với tháng trước bằng 101,08% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,58%.

Để vui xuân đón tết trong không khí ấm áp và an toàn, đề nghị các cấp, các ngành chức năng cần tăng cường thực hiện công tác quản lý, điều hành và bình ổn giá; thường xuyên theo dõi sát diễn biến cung cầu và giá cả thị trường, đặc biệt đối với những hàng hóa, dịch vụ đáp ứng trực tiếp nhu cầu tiêu dùng Tết của người dân trên địa bàn (gạo nếp, gạo tẻ, đường, dầu ăn, bánh mứt, thịt gia súc, gia cầm, thủy hải sản và thực phẩm chế biến khác,...) để kịp thời có biện pháp điều chỉnh và xử lý; thông tin kịp thời tình hình giá cả thị trường; chú trọng công tác an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống hàng giả, gian lận thương mại trước, trong và sau Tết Tân Sửu 2021để đảm bảo an toàn tuyệt đối trên mọi lĩnh vực.

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Bước sang năm 2021, tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam nói chung được các tổ chức quốc tế đánh giá sẽ có sự phục hồi mạnh mẽ sau ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Trong đó, chỉ tiêu xuất, nhập khẩu cũng được dự báo sẽ có mức tăng trưởng cao và đóng góp đáng kể vào sự phát triển chung.

Ước tính tháng 01/2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 96.152 nghìn USD so với tháng trước bằng 103,04% và so với cùng kỳ năm trước bằng 150,18%. Chia ra:

- Xuất khẩu được 69.282 nghìn USD, so với tháng trước bằng 101,60% và so với cùng kỳ năm trước bằng 157,34%.

- Nhập khẩu được 21.762 nghìn USD, so với tháng trước bằng 106,24% và so với cùng kỳ năm trước bằng 156,00%.

- Uỷ thác xuất khẩu được 57 nghìn USD, so với tháng trước bằng 150,00% và so với cùng kỳ năm trước bằng 16,62%. Giảm nhiều so với cùng kỳ do giá trị ủy thác thủy sản của Cafatex giảm.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được 5.051 nghìn USD so với tháng trước bằng 109,92% và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,68%.

Tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, cùng với các Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA, RCEP, CPTPP....) mà Việt Nam đã ký kết sẽ là một cú hích tạo động lực và các cơ hội lớn để các doanh nghiệp xuất khẩu có thể tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác, giao thương với nhiều thị trường xuất khẩu tiềm năng trong tương lai, đồng thời với việc thực hiện cam kết các Hiệp định thì có khả năng cao các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang sẽ có sản lượng xuất khẩu ổn định hơn đối với các nhóm hàng chủ lực (thủy hải sản, các sản phẩm dệt may, da giày,...) sang thị trường các nước Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc,... được bền vững, có nhiều cơ hội quảng bá sản phẩm, tạo dựng được thương hiệu, uy tín các sản phẩm hàng hóa trong mắt bạn bè quốc tế, mở đường cho sản phẩm Việt Nam ngày càng tràn ngập nhiều hơn ở thị trường các nước, từ đó tạo được động lực và tiếp thêm sức mạnh cho doanh nghiệp không ngừng đổi mới tư duy phát triển, sáng tạo đột phá để cải tiến sản phẩm đáp ứng ngày càng đầy đủ nhu cầu về sự tiện lợi cho người tiêu dùng, góp phần thúc đẩy kinh tế Việt Nam phục hồi tăng trưởng vượt bậc, phù hợp với định hướng đề ra.

5.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Hoạt động vận tải, kho bãi trong tháng 01/2021 không nhộn nhịp hơn so với cùng kỳ. Giá trị vận tải hàng hóa và hành khách đường bộ và đường thủy đều giảm. Nguyên nhân là do thời điểm đón Tết Nguyên đán rơi vào trọn tháng 02, trễ 01 tháng so với năm 2020. Thêm vào đó, hiện nay tình hình dịch bệnh Covid-19 còn nhiều diễn biến phức tạp (tháng 01/2020 dịch Covid-19 chưa bùng phát mạnh) nên phần nào cũng đã tác động ảnh hưởng đến hoạt động vận tải trên địa bàn làm giá trị giảm đáng kể so với cùng kỳ.

Vì vậy, ước tính tháng 01/2021, tổng doanh thu vận tải, kho bãi thực hiện được 101,03 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 103,72% và so với cùng kỳ năm trước bằng 93,11%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 34,52 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 103,09% và bằng 84,61% so với cùng kỳ năm trước; đường thủy thực hiện được 35,95 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 102,81% và bằng 78,99% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 30,57 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 105,55% và bằng 137,66% so với cùng kỳ năm trước.

5.3.1. Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Ước tính tháng 01/2021, toàn tỉnh vận chuyển được 567,17 nghìn tấn hàng hóa các loại (48.910,65 nghìn tấn.km), so với tháng trước bằng 102,54% (101,94%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 84,88% (87,86%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 76,78 nghìn tấn (9.189,27 nghìn tấn.km), so với tháng trước bằng 103,07% (102,53%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 86,78% (88,60%).

- Đường sông thực hiện được 490,38 nghìn tấn (39.721,38 nghìn tấn.km), so với tháng trước bằng 102,46% (101,80%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 84,58% (87,69%).

5.3.2. Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Ước tính tháng 01/2021, toàn tỉnh vận chuyển được 3.263,95 nghìn lượt hành khách (41.285,13 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 103,89% (103,53%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 88,25% (84,05%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 924,23 nghìn lượt hành khách (29.817,56 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 102,37% (103,36%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 91,38% (81,71%).

 - Đường sông thực hiện được 2.339,72 nghìn lượt hành khách (11.467,58 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 104,50% (103,98%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 87,07% (90,79%).

6. Các vấn đề về xã hội

6.1. Giáo dục

Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo tập trung vào hoạt động chuyên môn của các ngành học, cấp học như sau:

- Giáo dục tiểu học - mầm non: Tổ chức các chuyên đề “Giáo dục phát triển thể chất” tại thành phố Ngã Bảy; “Đổi mới hoạt động học cho trẻ mầm non” tại huyện Vị Thủy. Tham gia tập huấn nâng cao năng lực cán bộ quản lý, giáo viên tiểu học về giáo dục an toàn giao thông dành cho học sinh tiểu học năm học 2020-2021.

- Giáo dục trung học – Giáo dục thường xuyên: Tổ chức Cuộc thi Khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học cấp tỉnh năm học 2020-2021 tại Trường Trung học phổ thông chuyên Vị Thanh. Triển khai Cuộc thi "An toàn giao thông cho nụ cười ngày mai" dành cho học sinh và giáo viên trung học năm học 2020-2021.

6.2. Tình hình văn hóa, thể thao

Trong tháng, toàn ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức thực hiện công tác cổ động trực quan phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị như: Biểu diễn chương trình nghệ thuật Chào đón năm mới 2021 gắn với Lễ kỷ niệm 20 năm tái lập huyện Châu Thành A (03/01/2001 - 03/01/2021) và đón nhận danh hiệu anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. Kết quả, đã treo 51 băng rôn, 2.060 cờ các loại, in và lắp đặt 1.400 m2 pano các loại, 62 buổi phóng thanh cổ động. Các Đội Tuyên truyền lưu động trong tỉnh biểu diễn chương trình nghệ thuật quần chúng, kịch bản tuyên truyền lưu động phục vụ nhân dân trước, trong và sau tết, tổ chức 58 buổi, phục vụ 46.570 lượt người xem.

 Hoạt động thư viện: Trong tháng, hệ thống Thư viện tỉnh và huyện, thị xã, thành phố đã phục vụ được 54.574 lượt người với 109.509 lượt tài liệu, sách báo; cấp 266 thẻ bạn đọc. Phối hợp với Thư viện huyện Châu Thành A tổ chức triển lãm sách bằng xe Thư viện lưu động phục vụ hoạt động Chào mừng năm mới, kỷ niệm 20 năm tái lập huyện Châu Thành A và đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới với 1.000 quyển sách thuộc các lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ, sách về kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Hậu Giang, sách thiếu nhi. Qua đó, thu hút hơn 1.000 lượt người xem. Trưng bày tại Thư viện tỉnh 85 quyển sách: Sách mới các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, pháp luật,…; Tủ sách Bác Hồ; Sách chuyên đề về cải cách hành chính.

 Hoạt động bảo tồn - bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa: Triển lãm ảnh 03 cuộc phục vụ các sự kiện: Hội nghị giao ban công tác Hội Nông dân và Cụm thi đua số 5 các tỉnh Tây Nam bộ; Hội thảo “Phát triển du lịch cộng đồng theo Bộ Tiêu chí Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP); Hậu Giang chào năm mới năm 2021; Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới và kỷ niệm 20 năm tái lập huyện Châu Thành A (03/01/2001-03/01/2021),… với 05 chuyên đề: Thành tích đã đạt được trong những năm qua của tỉnh Hậu Giang; thành tựu chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, Quốc phòng An ninh tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2015 - 2020; Đảng cộng sản Việt Nam - Những mốc son lịch sử; Hậu giang xưa và nay qua tài liệu lưu trữ; bản đồ và tư liệu “Hoàng Sa - Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý. Khách đến xem triển lãm và tham quan các di tích, nhà truyền thống huyện, phòng truyền thống các xã văn hóa được 38.695 lượt người.

Sự nghiệp thể dục thể thao: Tham gia giải vô địch quốc gia Việt dã leo núi “Chinh phục đỉnh cao Bà Rá” lần thứ 27 năm 2021. Cử 03 Huấn luyện viên môn Judo tham dự lớp phổ biến luật thi đấu Judo mới và thi phân cấp trọng tài quốc gia năm 2020 tại tỉnh Lâm Đồng.

6.3. Lao động và an sinh xã hội

Trong tháng, giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 945/15.000 lao động, đạt 6,3% kế hoạch năm. Ban hành Quyết định hưởng trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng cho 456 người, với số tiền 5.912,30 triệu đồng.

Về lĩnh vực người có công với cách mạng: Tiếp nhận mới 307 hồ sơ các loại. Đã xét giải quyết 236 hồ sơ. Trong đó, đạt 202 hồ sơ; không đạt 34 hồ sơ. Còn lại 71 hồ sơ đang tiếp tục xem xét, giải quyết; giới thiệu 04 trường hợp người có công với cách mạng ra Hội đồng Giám định y khoa tỉnh khám giám định tỷ lệ bị nhiễm chất độc hóa học và vết thương còn sót; đề nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội trình Thủ tướng Chính phủ cấp lại 45 Bằng Tổ quốc ghi công do bị thất lạc và hư hỏng.

Về lĩnh vực bảo trợ xã hội - giảm nghèo: Thực hiện trợ cấp hàng tháng cho 33.738 đối tượng bảo trợ xã hội, với số tiền 12.981,69 triệu đồng. Hỗ trợ mai táng phí cho 207 trường hợp, với số tiền 1.117,8 triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho 02 trường hợp, với số tiền 05 triệu đồng.

Về lĩnh vực phòng, chống tệ nạn xã hội: Tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nội bộ và ra dân được 50 cuộc, với 2.139 lượt người tham dự. Tổng số đối tượng nghiện ma túy có hồ sơ quản lý trên địa bàn tỉnh tại thời điểm báo cáo là 1.587 người; số người nghiện đang có mặt tại cơ sở cai nghiện là 206 người.

6.4. Y tế

Trong tháng, có 11 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, giảm 05 ca so với tháng trước, giảm 20 ca so với cùng kỳ; bệnh tay chân miệng có 80 ca mắc mới, giảm 03 ca so với tháng trước, tăng 37 ca so với cùng kỳ; bệnh sởi, bệnh dịch lạ, bệnh viêm gan do virút, quai bị và các bệnh truyền nhiễm khác chưa ghi nhận ca mắc trên địa bàn.

Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 815 trẻ, đạt 7,2%; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 894 trẻ, đạt 7,8%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 844 thai phụ, đạt 7,4%; số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng là 01 ca (tăng 01 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.821 ca (người còn sống 1.216 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng là 01 người (tăng 01 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.044 ca; số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là  01 người (tăng 01 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 606 người. Số người hiện đang điều trị Methadone là 65 người, tổng số bệnh nhân điều trị ARV là 842 người.

Về kết quả thực hiện khám chữa bệnh trong tháng: Tổng số lần khám là 167.405 lượt, đạt 8,85% Kế hoạch, tăng 1,25% so với cùng kỳ. Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú là 9.256 lượt, đạt 6,85% Kế hoạch, giảm 7,16% so với cùng kỳ. Ngày điều trị trung bình là 6 ngày, giảm 0,06 ngày so với cùng kỳ. Tổng số tai nạn ngộ độc, chấn thương là 573 trường hợp, giảm 132 trường hợp so với cùng kỳ.

Chữa bệnh bằng Y học dân tộc: Tổng số khám bệnh là 24.319 lượt, chiếm tỷ lệ 14,52% tổng số lượt khám chữa bệnh chung, tăng 5,28% so với cùng kỳ.

6.5. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Nhìn chung, trong tháng tình hình tai nạn giao thông trên địa bàn tỉnh chỉ xảy ra tập trung ở đường bộ, đường thủy không xảy ra tại nạn, theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang, đã xảy ra 04 vụ tai nạn giao thông, làm chết 03 người và làm bị thương 01 người. So với tháng trước giảm 22 vụ, số người chết giảm 13 người và số người bị thương giảm 12 người. So với cùng kỳ năm trước tăng 02 vụ, số người chết tăng 02 người và số người bị thương là tương đương.

6.6. Tình hình môi trường, thiên tai và phòng, chống cháy, nổ

Ngành chức năng tiếp tục giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các cơ sở có thông tin phản ánh để kịp thời xử lý theo quy định. Trong tháng, ngành chức năng phát hiện 8 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 6 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 31,5 triệu đồng.

Tình hình thiên tai xảy ra trên địa bàn tỉnh chủ yếu là sạt lở, trong tháng đã xảy ra 01 điểm sạt lở tại huyện Châu Thành, với chiều dài sạt lở là 21m, diện tích mất đất là 63 m2, ước thiệt hại khoảng 11 triệu đồng.

Về công tác phòng, chống cháy, nổ luôn được các ngành chức năng quan tâm thực hiện, định kỳ có kiểm tra, hướng dẫn người dân, các cơ sở kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy, nên trong tháng không xảy ra cháy, nổ trên địa bàn tỉnh./.

[[1]] Chia ra: Huy động đối với kỳ hạn dưới 12 tháng được 8.513 tỷ đồng (chiếm 53,27%), kỳ hạn từ 12 tháng trở lên đạt 7.469 tỷ đồng (chiếm 46,73%).

[[2]] Chia ra: Dư nợ cho vay ngắn hạn là 14.018 tỷ đồng (chiếm 52,4%); dư nợ cho vay trung, dài hạn là 12.734 tỷ đồng (chiếm 47,6%).

[[3]] Nguyên nhân vốn ngân sách giảm so với tháng trước là do các đơn vị tập trung thanh, quyết toán khối lượng công trình đã thực hiện để giải ngân vốn năm 2020, lập kế hoạch đầu tư vốn cho các công trình năm 2021, nên làm cho vốn đầu tư phát triển tăng không cao.

[[4]]  Nguyên nhân diện tích mía giảm là do chi phí cao, giá mía thấp nên một số diện tích mía chuyển đổi sang cây trồng khác.

[[5]] Diện tích gieo trồng tăng do lợi nhuận từ trồng rau khá, năm nay thời tiết cũng thuận lợi hơn so với năm trước, nên người dân gia tăng diện tích gieo trồng để phục vụ dịp Tết Nguyên đán sắp đến.

[[6]]  Đàn heo tăng do dịch tả heo Châu phi đã được ngăn chặn tốt, người dân tái đàn để tăng thu nhập.

[[7]]  Trong đó: Ước nuôi mới trong tháng là 270 ha 

[[8]] Chia ra: Dịch vụ lưu trú ước tính được 10,99 tỷ đồng, so tháng trước tăng 0,42%, so cùng kỳ tăng 5,23%; dịch vụ ăn uống được 583,20 tỷ đồng, so tháng trước tăng 1,09%, so cùng kỳ tăng 8,65%.