Tháng 02
19:26 29/01/2021

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hậu Giang tháng 02 năm 2021

1. Tài chính, tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu Ngân sách nhà nước tháng 02/2021 được 717,23 tỷ đồng, luỹ kế được 1.831,51 tỷ đồng, đạt 23,45% dự toán Trung ương, đạt 23,25% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Trung ương trợ cấp được 399,73 tỷ đồng, luỹ kế được 810,15 tỷ đồng, đạt 20,08% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; thu nội địa được280 tỷ đồng, luỹ kế được 927,50 tỷ đồng, đạt 27,88% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi Ngân sách địa phương tháng 02/2021 được567,29 tỷ đồng, luỹ kế được 1.139,33 tỷ đồng, đạt 16,40% dự toán Trung ương giao và đạt 16,46% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chia ra: Chi xây dựng cơ bản được 231,05 tỷ đồng, luỹ kế được 544,45 tỷ đồng, đạt 19,36% dự toán Trung ương, đạt 19,64% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; chi thường xuyên được 336,24 tỷ đồng, luỹ kế được 594,88 tỷ đồng, đạt 14,81% dự toán Trung ương và đạt 14,74% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Hoạt động huy động vốn: Đến ngày 31/01/2021, tổng vốn huy động (bao gồm ngoại tệ quy đổi VND) toàn địa bàn là 15.899 tỷ đồng, giảm 0,52% so với cuối năm 2020. Vốn huy động đáp ứng được 58,81% cho hoạt động tín dụng. Huy động đối với kỳ hạn dưới 12 tháng đạt 8.370 tỷ đồng (chiếm 52,64% tổng huy động), kỳ hạn từ 12 tháng trở lên đạt 7.529 tỷ đồng (chiếm 47,36% tổng huy động). Ước thực hiện đến cuối tháng 02/2021, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn đạt 15.797 tỷ đồng, giảm 0,64% so với cuối tháng 01/2021, tương ứng giảm 1,16% so với cuối năm 2020.

Hoạt động tín dụng: Đến ngày 31/01/2021, tổng dư nợ cho vay (bao gồm ngoại tệ quy đổi VND) toàn địa bàn là 27.036 tỷ đồng, tăng trưởng 1,06% so với cuối năm 2020. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn là 14.037 tỷ đồng (chiếm 51,92% tổng dư nợ); dư nợ cho vay trung, dài hạn là 12.999 tỷ đồng (chiếm 48,08% tổng dư nợ).

Ước thực hiện đến cuối tháng 02/2021 dư nợ đạt 27.121 tỷ đồng, tăng trưởng 0,31% so với cuối tháng 01/2021, tương ứng tăng trưởng 1,38% so với cuối năm 2020.

2. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 17/02/2021, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2021là 15.135,66 tỷđồng (theo Quyết định số 2366/QĐ-UBND ngày 11/12/2020 và Quyết định số 2527/QĐ-UBND ngày 31/12/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hậu Giang về việc giao kế hoạch vốn đầu tư công thuộc ngân sách nhà nước năm 2021 và vốn ngân sách Trung ương hỗ trợ đầu tư trên địa bàn), bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.729,66 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.020 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước là: 12.386 tỷ đồng.

Ước tính vốn đầu tư thực hiện được trong tháng 02/2021 là 1.334,98 tỷ đồng, bằng 89,35% so với cùng kỳ năm trước và bằng 90,76% so với tháng trước. Nguyên nhân vốn ngân sách giảm so với tháng trước là do: Các đơn vị tập trung thanh, quyết toán khối lượng đã thực hiện để giải ngân vốn năm 2020, đồng thời lập kế hoạch thủ tục vốn cho các công trình năm 2021. Đặc biệt, trong tháng này hầu hết các Doanh nghiệp đều ngưng hoạt động trên dưới 7 ngày để đón Tết Tân Sửu 2021 nên làm cho vốn đầu tư phát triển giảm so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Ước tính 02 tháng đầu năm 2021, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh thực hiện được 2.805,91 tỷ đồng, bằng 92,16% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 18,54% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 256,69 tỷ đồng, bằng 92,18% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 14,84% so với kế hoạch năm. 

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 151,12 tỷ đồng, bằng 47,83% so với cùng kỳ năm trước và đạt 14,82% so với kế hoạch năm.      

 - Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 2.398,10 tỷ đồng, bằng 97,87% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 19,36% so với kế hoạch năm.

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Nhìn chung, trong tháng tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tập trung vào công tác sản xuất lúa Đông xuân 2021; phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm; chăm sóc và bảo vệ rừng, tuyên truyền nâng cao ý thức người dân về phòng chống cháy rừng; hướng dẫn, hỗ trợ người dân khai thác các tiềm năng, lợi thế tự nhiên, kết hợp đồng bộ các giải pháp phát triển nuôi thủy sản theo hướng sản xuất hiệu quả, bền vững. Kết quả cụ thể từng lĩnh vực như sau:

3.1. Nông nghiệp

- Lúa Đông xuân 2021: Ước xuống giống được 77.021,7 ha, đạt 100,55% so với kế hoạch Tỉnh (kế hoạch 76.600 ha), so với cùng kỳ giảm 1,03% (bằng 798 ha). Lúa chủ yếu đang ở giai đoạn đẻ nhánh đến làm đòng, giống lúa được sử dụng phổ biến như OM 5451, Đài thơm 8, RVT, OM 18,…

- Cây ngô: Diện tích gieo trồng toàn tỉnh 852,8 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 6,29% (bằng 57,2 ha). Do không hiệu quả nên một số hộ đã chuyển đổi sang trồng loại cây khác có giá trị cao hơn.

- Mía niên vụ 2021, ước toàn tỉnh xuống giống được 5.009,7 ha, so với cùng kỳ giảm 0,72% (bằng 36,3 ha) tập trung ở huyện Phụng Hiệp và thị xã Ngã Bảy. Các giống mía chủ yếu là giống mía ngắn ngày như: ROC 16, K88-92, KK3, ROC 22, K95-289,… Nguyên nhân diện tích mía giảm là do chi phí cao, giá mía thấp nên một số hộ dân chuyển đổi sang cây trồng khác.

- Cây rau, đậu các loại:   Diện tích gieo trồng cây rau 7.386 ha, so với năm trước tăng 12,02% (bằng 792,5 ha). Diện tích trồng rau tăng do hiệu quả mang lại khá cao, người dân phấn khởi mở rộng diện tích trồng. Bên cạnh đó, năm nay thời tiết gieo trồng rau phục vụ tết nguyên đán thuận lợi hơn so với cùng kỳ.

Tình hình sâu bệnh: Hiện nay ngành Nông nghiệp đang đề nghị bà con thường xuyên thăm đồng để phát hiện sinh vật gây hại trong thời vụ, từ đó có biện pháp xử lý như phòng chống ốc bươu vàng, bọ trĩ, sâu cuốn lá đặc biệt bệnh đạo ôn, muỗi hành và bệnh rầy nâu đang phát triển, cần xử lý theo nguyên tắc 4 đúng để đạt hiệu quả.

3.2. Chăn nuôi

Tình hình chăn nuôi: Ước tính tháng 02, số đầu con gia súc, gia cầm so với cùng kỳ cụ thể như sau:

- Đàn trâu, bò: Đàn trâu ước được 1.458 con, giảm 1,15% (bằng 17 con) so với cùng kỳ; Đàn bò ước được 3.642 con, tăng 2,65% (bằng 94 con) so với cùng kỳ.

- Đàn heo (không tính heo sữa): Ước được 97.422 con, tăng 12,99% (bằng 11.203 con) so với cùng kỳ. Trong đó: Heo thịt 85.154 con, tăng 12,26% (bằng 9.299 con). Đàn heo tăng do dịch tả heo Châu phi đã được ngăn chặn tốt. Người dân đang tích cực, chủ động tái đàn để tăng thu nhập.

- Đàn gia cầm: 4.529,2 ngàn con, tăng 2,09% (bằng 92,7 ngàn con). Trong đó: đàn gà 1.442,7 ngàn con, tăng 4,44% (tăng 61,3 ngàn con). Đàn gia cầm tăng do giá thịt gia cầm ổn định, dịch bệnh ít, thị trường đầu ra tốt.

Tình hình dịch bệnh: Dịch tả heo Châu phi tính trên địa bàn tỉnh, đến ngày 15/02/2021, trong tháng không phát sinh dịch bệnh (đã được kiểm soát tốt).

3.3. Lâm nghiệp

- Công tác phòng cháy chữa cháy rừng: Công tác phòng cháy chữa cháy rừng được đảm bảo.

- Công tác bảo vệ và quản lý rừng: Công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định; công tác phòng chống cháy rừng được ngành chức năng chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên theo dõi kiểm tra và cảnh báo kịp thời đến người dân.

- Trong tháng 02 năm 2021, ước sản lượng gỗ khai thác ước được 1.239,8m3 gỗ, tăng 1,08% (bằng 13,2 m3) so với cùng kỳ, sản lượng củi khai thác ước được 5.621,3 ste, tăng1,01% (bằng 56,1ste) so với cùng kỳ.    

3.4. Thủy sản

- Về diện tích: Trong tháng 02 năm 2021, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 70,6 ha, tăng 2,2% (bằng 1,5 ha) so với cùng kỳ năm trước.

- Về sản lượng: Tổng sản lượng thủy sản tháng 02 toàn tỉnh ước được 5.172,8 tấn, tăng 3,5% (bằng 174,2 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Chia ra: Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 4.923,1 tấn, tăng 3,73% (bằng 176,9 tấn); sản lượng thủy sản khai thác được 249,7 tấn, giảm 11% (bằng 2,7 tấn).

4. Tình hình sản xuất công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện tháng 02 năm 2021:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 2.201,72 tỷ đồng, giảm 9,08% so với tháng trước và tăng 14,38% so với cùng kỳ năm trước.

- Tính theo giá thực tế, được 3.166,01 tỷ đồng, giảm 11,10% so với tháng trước và tăng 15,75% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm nhiều so với tháng trước là do các doanh nghiệp nghỉ từ 07 đến 11 ngày để người lao động được vui xuân đón Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021. Ngoài ra, sau Tết người lao động chỉ trở lại nơi làm việc từ 85% đến 96% so với trước Tết, tập chung nhiều nhất vào các ngành sử dụng nhiều lao động như: chế biến thủy sản, giày da, may mặc… nên ước giá trị sản xuất tháng 02 giảm nhiều so với tháng trước.

Giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 02 tháng năm 2021:

- Tính theo giá so sánh 2010, được 4.623,29 tỷ đồng, tăng 13,94% so với cùng kỳ năm trước.

- Tính theo giá thực tế, được 6.727,50 tỷ đồng, tăng 14,39% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

+ Khu vực kinh tế nhà nước, có 2 doanh nghiệp đóng góp giá trị sản xuất 46,48 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,69% trong toàn ngành và tăng 11,64% so với cùng kỳ;

+ Khu vực kinh tế tư nhân, có 184 doanh nghiệp và trên 4.644 cơ sở cá thể công nghiệp, đóng góp giá trị sản xuất 4.895,44 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 72,77% trong toàn ngành và tăng 15,56% so với cùng kỳ;

+ Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, có 8 doanh nghiệp và đóng góp giá trị sản xuất 1.785,58 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 26,54% trong toàn ngành và tăng 11,13% so với cùng kỳ.

+ Qua các số liệu trên cho thấy; Khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động khá mạnh so với 02 khu vực kinh tế còn lại, tạo ra giá trị sản xuất bình quân trong 02 tháng đầu năm trên 223 tỷ/doanh nghiệp (khu vực doanh nghiệp nhà nước 23 tỷ/doanh nghiệp; khu vực kinh tế tư nhân 26 tỷ/doanh nghiệp). Riêng khu vực kinh tế tư nhân có tốc độ tăng cao hơn 2 khu vực còn lại (trên 15,66%), nguyên nhân chủ yếu là do một số ngành hoạt động có hiệu quả thông qua chỉ số sản xuất công nghiệp như:

+ Chỉ số sản xuất ngành chế biến, bảo quản thủy sản và các thủy sản, tăng 26,30% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là do Công ty cổ phần Minh Phú Hậu Giang, với sản phẩm chính là tôm đông lạnh các loại, trong thời gian vừa qua doanh nghiệp này đã cải tiến máy móc, thiết bị và thực hiện tốt các yêu cầu của đối tác khi chế biến như; ghi nhật ký nuôi trồng thủy sản, nhật ký chế biến, nhập kho, xuất kho… theo quy định của Bộ thương mại Hoa Kỳ (DOC), nên sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp đáp ứng được các yêu cầu chất lượng khắc khe của các nước nhập khẩu. Vì vậy, doanh nghiệp đã nhận được đơn đặt hàng từ những thị trường lớn như; Mỹ, EU, Nhật Bản… nên giá trị sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước.

+ Chỉ số sản xuất ngành xay xát và sản xuất bột thô tăng 22,72% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do chất lượng gạo Việt Nam đã và đang tạo dựng được thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước, trong những tháng gần đây giá lúa, gạo xuất khẩu tăng liên tục, nên các doanh nghiệp tăng sản lượng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường ở các nước nhập khẩu.

+ Chỉ số ngành Sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 21,81% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do sau hơn một năm bị dịch tả heo Châu Phi người chăn nuôi trở lại tái đàn nên nhu cầu thức ăn gia súc gia cầm trên thị trường tăng trở lại. Vì vậy, giá trị ngành này tăng so với cùng kỳ.

+ Chỉ số ngành sản xuất đồ uống tăng 57,20%, giá trị tăng 52,99% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là doCty TNHH Mtv Masan Brewery Hậu Giang và Công ty TNHH Number One Hậu Giang sau hơn 02 năm đi vào hoạt động ổn định các doanh nghiệp trên đã tạo dựng thương hiệu trong khu vực và ký được nhiều hợp đồng phân phối tại các hệ thống bán lẽ của siêu thị, nên doanh nghiệp tăng sản lượng để phục vụ thị trường Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021.

Nhìn chung, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh có tăng, nhưng chưa thực sự bền vững, vẫn có một số ngành nghề bị tác động về giá, thị trường xuất khẩu, nguyên liệu đầu vào, phí vận chuyển... Do vậy, các doanh nghiệp cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp, dự án lớn như: Dự án điện mặt trời VKT- Hòa An; Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1… đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra, để giá trị sản xuất công nghiệp ngày càng tăng trong những tháng cuối năm.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp dự tính tháng 02 năm 2021 giảm 18,62% so với tháng trước và tăng 13,76% so với cùng kỳ, Nguyên nhân là do các cơ sở sản xuất cá thể công nghiệp và doanh nghiệp nghỉ từ 07 đến 10 ngày để người lào động được vui xuân đón Tết, nên chỉ số sản xuất giảm nhiều so với tháng trước.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Giảm 18,81% so với tháng trước và tăng 13,76% so với cùng kỳ. Trong đó; các ngành có tỷ trọng lớn giảm so với tháng trước nhưng tăng so với cùng kỳ năm trước như: Sản xuất chế biến thực phẩm; Sản xuất đồ uống; Sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất; Sản xuất sản phẩm từ khoán phi kim loại khác… Cụ thể;

- Ngành sản xuất chế biến thực phẩm, giảm 12,09% so với tháng trước và tăng 14,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó; Chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thủy sản (chiếm tỷ trọng trên 96,50% trong ngành chế biến thực phẩm) giảm 12,17% so với tháng trước và tăng 8,98% so với cùng kỳ; Xay xát và sản xuất bột thô giảm 15,51% so với tháng trước và tăng 12,24% so với cùng kỳ năm trước; Sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản giảm 11,85% so với tháng trước và tăng 36,06% so với cùng kỳ... Nguyên nhân giảm so với tháng trước là do trong tháng doanh nghiệp hoạt động ít hơn từ 07 đến 10 ngày so với tháng trước nhưng tăng so với cùng kỳ năm trước là do sau nhiều tháng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 các doanh nghiệp đã có kinh nghiệm ứng phó và có kế hoạch thay đổi trong quá trình sản xuất, tiêu thụ và chuẩn bị nguồn nguyên liệu dự trữ hợp lý. Vì vậy, đã làm tăng chỉ số sản xuất ngành chế biến thực phẩm so với cùng kỳ.

- Ngành sản xuất đồ uống, giảm 18,27% so với tháng trước và tăng 9,69% cùng kỳ. Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ là do Công Ty TNHH Mtv Masan Brewery Hậu Giang, với sản phẩm chính là bia Sư Tử Trắng, đã tạo được thương hiệu và thị phần ngày được mở rộng, nên sản lượng sản xuất tăng 88,35% (6.500/3.451 1000 lít) so với cùng kỳ, để phục vụ thị trường dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021. Vì vậy, Chỉ số sản xuất ngành này giảm nhẹ so với tháng trước nhưng tăng rất cao so với cùng kỳ năm trước.

- Ngành sản xuất hóa chất và các sản phẩm từ hóa chất giảm 11,22% so với tháng trước và tăng 37,18% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Hóa Nông Lúa Vàng Hậu Giang, với sản phẩm chủ yếu là các loại thuốc bảo vệ thực vật, do nhu cầu của người dân sử dụng thuốc bảo vệ thực vật để chăm sóc lúa trong gia đoạn làm đồng, trổ trên địa bàn tỉnh Hậu giang nói riêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung. Vì vậy, sản lượng sản xuất của tháng này giảm nhẹ so với tháng trước do nghỉ Tết Nguyên đán nhưng tăng rất cao so với cùng kỳ năm trước.

- Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 19,86% so với tháng trước và tăng 17,20% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do công ty TNHH MTV xi măng Cần Thơ - Hậu Giang, với sản phẩm chính là xi măng đen  do đây là sản phẩm mới trên địa bàn tỉnh và có giá thành hết sức cạnh tranh so với các sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp khác trong khu vực. Vì vậy, trong những tháng vừa qua doanh nghiệp đã ký được nhiều hợp đồng mới có quy mô lớn, nên doanh nghiệp tăng sản lượng để hoàn thành các hợp đồng cung ứng cho các công trình xây dựng, kịp hoàn thành đúng tiến độ phục vụ dịp Tết Nguyên đán.

Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: tăng 1,26% so với tháng trước và tăng 13,17% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty Điện lực đã cung cấp đủ điện, an toàn phục vụ phát triển kinh tế xã hội, hạn chế tối đa không để tình trạng mất điện, đảm bảo nhu cầu sử dụng cho người dân và các doanh nghiệp được hoạt động liên tục nhất là trong dịp Tết Nguyên đán 2021. Trong thời gian sắp tới khi Dự án điện mặt trời của Công ty điện mặt trời VKT- Hòa An, với công suất thiết kế 29MWp, đang trong quá trình đấu nối vào tuyến đường dây 110kv Vị Thanh – Long Mỹ. Dự báo chỉ số sản xuất ngành sẽ tăng đột biến trong những tháng tới so với cùng kỳ.

Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải:tăng 2,42% so với tháng trước và tăng 14,84% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty Cổ phần Cấp Thoát nước – CTĐT Hậu Giang đã hoàn thiện và khởi công mới các tuyến đường ống dẫn nước đến các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh và khai thác thêm các nguồn nước ngầm, để đảm bảo cung cấp đầy đủ nước sạch phục vụ tốt việc sản xuất kinh doanh và sinh hoạt cho người dân nhất là trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021. Vì vậy, sản lượng sản xuất nước sạch sinh hoạt tháng 02 tăng 157,61 ngàn M3 so với cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng 16,90% so với cùng kỳ.

Tình hình lao động: Tính đến thời điểm tháng 02 năm 2021, chỉ số sử dụng lao động toàn ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 0,05% so với tháng trước và tăng 4,47% so với cùng kỳ. Trong đó, các ngành tăng cao hơn mức tăng chung của toàn tỉnh so với cùng kỳ như: Sản xuất đồ uống tăng 49,10%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre tăng 17,65%; Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan 5,17%; Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 61,03%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 11,27%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác 30,09%; Sản xuất phương tiện vận tải khác 27,27%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 8,16%. Chỉ số sử dụng lao động tăng tập trung chủ yếu ở các ngành sản xuất ra các sản phẩm bằng sức lao động là chủ yếu.

5. Hoạt động thương mại, dịch vụ

5.1. Bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Bước qua tháng 02/2021, đây là tháng diễn ra Tết Nguyên đán, nên người dân sẵn sàng chi tiêu sắm sửa để vui xuân đón tết. Vì vậy, thị trường hàng hóa cũng rất phong phú và đa dạng để phục vụ nhu cầu của người tiêu dùng. Những ngày giáp Tết lượng hàng hóa được bày bán tăng cao, nhất là các mặt hàng hoa kiểng, thực phẩm tươi sống, thực phẩm chế biến khác,… Tuy nhiên, tình hình dịch bệnh Covid-19 lại diễn biến phức tạp khi liên tục xuất hiện những ca bệnh lây nhiễm trong cộng đồng từ cuối tháng 01/2021 cho đến nay ở các tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương,…làm ảnh hưởng đến tâm lý tiêu dùng của người dân. Trước tình hình dịch bệnh, người dân sẽ thắc chặt chi tiêu hơn nên doanh thu thương mại, dịch vụ trong tháng Tết tăng nhưng mức tăng không cao như những năm trước. Bên cạnh đó, chương trình bình ổn thị trường các mặt hàng thiết yếu trên địa bàn tỉnh Hậu Giang những tháng cuối năm 2020 và dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021 góp phần đảm bảo cung cầu hàng hóa, bình ổn thị trường hạn chế tăng giá, kiềm chế lạm phát, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển; đồng thời gắn với việc thực hiện cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

Trước tình hình thị trường Tết khá trầm lắng so với mọi năm, nhiều hệ thống cửa hàng, đơn vị phân phối đã đẩy mạnh chương trình khuyến mãi để thu hút khách hàng mua sắm. Nhất là ở nhóm hàng may mặc, giày dép; nhóm hàng điện tử gia dụng tại các cửa hàng, siêu thị đang tung hàng giảm giá sâu, có nơi lên đến 50% để khuyến khích nhu cầu tiêu dùng của người dân.

Ước tính tháng 02 năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ tiêu dùng và doanh thu hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 4.201,67 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh là 344,57 tỷ đồng), so với thực hiện tháng trước bằng 107,35% và so với cùng kỳ năm trước bằng 113,89%. Chia ra:

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa ước thực hiện được 3.235,56 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 108,63% và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,63%.

Một số nhóm hàng hóa thiết yếu như: Nhóm lương thực, thực phẩm được 880,75 tỷ đồng, so tháng trước tăng 11,18% do nhu cầu sử dụng trong dịpTết tăng cao như thịt, thủy hải sản, rau xanh, bánh kẹo, bia, nước ngọt,…; Nhóm hàng may mặc, giày dép được 196,75 tỷ đồng, so tháng trước tăng 15,23% do mọi nhà đều có thói quen mua sắm quần áo, giày dép mới để vui xuân đón tết; Nhóm đồ dùng, trang thiết bị gia đình được 454,62 tỷ đồng, so tháng trước tăng 9,83%; Xăng, dầu các loại được 513,51 tỷ đồng, so tháng trước tăng 4,57% do nhu cầu vận chuyển hàng hóa tết, nhu cầu đi lại tăng; Nhóm hàng hóa khác được 359,43 tỷ đồng, so tháng trước tăng 11,62%; …

- Doanh thu dịch vụ khác thực hiện được 357,27 triệu đồng, so với tháng trước bằng 103,20% và so với cùng kỳ năm trước bằng 120,78%. Cụ thể một số nhóm:

+ Dịch vụ nghệ thuật, vui chơi, giải trí ước tính được 229,80 tỷ đồng, so tháng trước tăng 2,97%.

+ Một số ngành dịch vụ khác, ước tính trong tháng được 80,79 tỷ đồng, so tháng trước tăng 5,07%, do nhu cầu sửa chữa máy tính, đồ dùng cá nhân và đặc biệt các dịch vụ làm đẹp, massage, hớt tóc, ... dịp tết tăng làm doanh thu ngành này tăng.

+ Dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội được 20,65 tỷ đồng, so tháng trước tăng 0,37%.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ước tính được 608,85 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 103,35% và so với cùng kỳ năm trước bằng 116,90%. Cụ thể:

+ Ngành lưu trú, ước tính được 10,34 tỷ đồng, so tháng trước giảm 2,64%, so cùng kỳ tăng 4,55%. Trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp trở lại người dân hạn chế đi lại, lưu trú và du lịch trong dịp Tết.

+ Ngành ăn uống, ước tính được 598,51 tỷ đồng, so tháng trước tăng 3,46%, so cùng kỳ tăng 17,14%.

Tết Nguyên đán đã diễn ra trong không khí vui tươi, ấm áp và an toàn; cả hệ thống chính trị, toàn dân cả nước nói chung và tỉnh Hậu Giang nói riêng luôn nêu cao tinh thần phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Bên cạnh đó, đề nghị ngành chức năng thường xuyên cập nhật thông tin về tình hình xâm nhập mặn trên các phương tiện thông tin đại chúng và có giải pháp ứng phó kịp thời vào từng thời điểm, đảm bảo không để thiệt hại do mặn gây ra ảnh hưởng đến đời sống người dân. Trước tình hình trên thì việc phát triển thương mại, dịch vụ trong năm 2021 dự tính sẽ gặp không ít khó khăn. Vì vậy, các cấp, các ngành chức năngtỉnh cần có những giải pháp, phương hướng kịp thời, phù hợp với tình hình hiện nay để đảm bảo phát triển kinh tế trong thời gian tới.

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Ước thực hiện tháng 02, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 61,671 triệu USD so với tháng trước bằng 91,05% và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,18%. Chia ra:

+ Xuất khẩu ước thực hiện được 42,531 triệu USD, so với tháng trước bằng 92,41% và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,05%. Tết Nguyên Đán diễn ra trong tháng 02 nên hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không được thường xuyên liên tục và có số ngày sản xuất kinh doanh ít hơn nhiều so với tháng 01. Vì vậy, giá trị xuất khẩu có nhiều khả năng sẽ giảm so với tháng trước.

+ Nhập khẩu ước thực hiện được 19,140 triệu USD, so với tháng trước bằng 88,17% và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,37%.

Ước thực hiện 02 tháng đầu năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được139,651 triệu USD so với cùng kỳ năm trước bằng 105,68% và so với kế hoạch năm đạt 12,92%. Chia ra:

+ Xuất khẩu ước thực hiện được 88,556 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 102,82% và so với kế hoạch năm đạt 12,04%.

+ Nhập khẩu ước thực hiện được 40,848 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 117,81% và so với kế hoạch năm đạt 14,51%.

+ Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 0,476 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 89,64% và so với kế hoạch năm đạt 39,67%.

+ Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 9,771 triệu USDso với cùng kỳ năm trước bằng 90,27% và so với kế hoạch năm đạt 15,51%.

Những tháng đầu năm 2021, tình hình dịch bệnh bùng phát mạnh ở một số địa phương trong cả nước đã tạo ra thách thức và là mối lo ngại thật sự của các doanh nghiệp trong cả nước nói chung, trên địa bàn tỉnh nói riêng. Do đó, để giá trị xuất khẩu có thể giữ tăng trưởng ổn định trong thời gian tới đòi hỏi các doanh nghiệp cần tăng cường công tác phòng chống dịch theo quy định của các ngành chức năng, chung tay cùng cả nước ngăn chặn dập dịch tạo nên tâm lý ổn định cho công nhân yên tâm sản xuất, giữ ổn định đảm bảo hoạt động chế biến sản xuất kinh doanh không bị ngưng trệ, gia tăng được giá trị sản xuất, góp phần vào sự tăng trưởng hoạt động xuất nhập khẩu chung.

5.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Ước tổng doanh thu vận tải, kho bãithực hiện 02 tháng được 204,17 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 103,12%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 71,06 tỷ đồng bằng 94,46% so với cùng kỳ năm trước, đường thủy thực hiện được 72,48 tỷ đồng bằng 91,64% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính chuyển phát được 60,62 tỷ đồng bằng 138,84% so với cùng kỳ năm trước.

5.3.1. Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Ước thực hiện tháng 02, toàn tỉnh vận chuyển được 585,69 nghìn tấn hàng hóa các loại (50.846,89 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 102,41% (104,19%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 113,18% (117,28%). Chia ra:

+ Đường bộ thực hiện được 87,13 nghìn tấn (10.034,26 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 113,31% (109,58%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 129,68% (135,55%).

 + Đường sông thực hiện được 498,57 nghìn tấn (40.812,63 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 100,71% (102,95%) và so với cùng kỳ năm trước bằng110,72% (113,51%).

Ước thực hiện 02 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 1.157,62 nghìn tấn hàng hóa các loại (99.647,71 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 95,22% (93,98%). Chia ra:

+ Đường bộ thực hiện được 164,02 nghìn tấn (19.191,44 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 105,37% (107,97%).

 + Đường sông thực hiện được 993,59 nghìn tấn (80.456,27 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 93,73% (91,16%).

5.3.2. Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Ước thực hiện tháng 02, toàn tỉnh thực hiện được 3.438,81 nghìn lượt hành khách (43.415,18 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 105,78% (106,68%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,20% (96,40%). Chia ra:

+ Đường bộ vận chuyển được 963,39 nghìn lượt hành khách (31.194,35 nghìn  HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 105,79% (106,86%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 99,90% (94,74%).

 + Đường sông vận chuyển được 2.475,42 nghìn lượt hành khách (12.220,83 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 105,78% (106,22%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 98,93% (100,92%).

Ước thực hiện 02 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 6.689,60 nghìn lượt hành khách (84.112,62 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 93,36% (89,33%). Chia ra:

+ Đường bộ thực hiện được 1.874,04 nghìn lượt hành khách (60.387,05 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 94,85% (86,99%).

 + Đường sông thực hiện được 4.815,56 nghìn lượt hành khách (23.725,58 HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 92,79% (95,90%).6. 

6. Các vấn đề về xã hội

6.1. Giáo dục

Do tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp nên Sở Giáo dục và Đào tạo đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục cho học sinh nghỉ học đến hết ngày 21/02/2021 đi học lại vào ngày 22/02/2021 để đảm bảo công tác phòng, chống dịch Covid-19.

Trong tháng, Ngành giáo dục tập trung vào hoạt động chuyên môn của các ngành học, cấp học như sau:

- Giáo dục tiểu học - mầm non: Tham quan, học tập chuyên đề: Giáo dục phát triển thể chất tại Trường MG Bông Sen, TP Ngã Bảy; chuyên đề Giáo dục phát triển thẩm mỹ tại Trường MG Vĩnh Trung, huyện Vị Thủy; chuyên đề Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm tại huyện Châu Thành. Hướng dẫn các đơn vị tổ chức Hội thi ”Bé vui khỏe” cấp học mầm non năm học 2020-2021. Góp ý nội dung module tài liệu “Hướng dẫn nuôi dưỡng và vệ sinh chăm sóc trẻ mầm non khi ở nhà” và 05 video nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ gửi về Vụ GDMN.

- Giáo dục trung học - Giáo dục thường xuyên: Tiếp tục phối hợp với Mobifone Hậu Giang triển khai Cuộc thi “Rung chuông vàng” cho học sinh lớp 11 các trường THPT trong tỉnh. Xây dựng Kế hoạch và làm việc chuyên môn với các cơ sở giáo dục trung học về Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra, theo dõi việc thực hiện nền nếp chuyên môn, hoàn thành chương trình, kiếm tra đánh giá, xếp loại học sinh học, triển khai chương trình GDPT 2018. Triển khai cuộc thi “An toàn giao thông cho nụ cười ngày mai” dành cho học sinh và giáo viên trung học năm 2020-2021. Hoàn thành việc Xây dựng Kế hoạch tổ chức Hội thao Giáo dục quốc phòng và An ninh tháng 3/2021. Tiến hành Xây dựng kế hoạch và tuyển chọn vận động viên tham gia Hội khỏe phù đổng cấp khu vực và toàn quốc. Xây dựng kế hoạch sơ kết Đề án ngoại ngữ 2020 và triển khai Kế hoạch Đề án ngoại ngữ giai đoạn 2021-2025.

6.2. Tình hình văn hóa, thể thao

Trong tháng, toàn ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức thực hiện công tác cổ động trực quan phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị như:Tuyên truyền Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân gắn với kỷ niệm 91 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2021) và 53 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết mậu Thân năm 1968. Kết quả đã treo 200 băng rôn, 6.500 cờ các loại, in và lắp đặt 1.890m2 pano các loại và tổ chức 60 buổi phóng thanh cổ động. Các Đội Tuyên truyền lưu động trong tỉnh biểu diễn chương trình nghệ thuật quần chúng, kịch bản tuyên truyền lưu động phục vụ nhân dân trước trong và sau tết. Tổ chức64 buổi, phục vụ 45.245 lượt người xem.

Hoạt động thư viện:Tổ chức các hoạt động trong Hội báo Xuân năm 2021 tại Thư viện tỉnh như: Triển lãm 400 loại báo của các tỉnh, thành phố trong cả nước, 17 ấn phẩm dự thi của các huyện, thị, thành phố và các sở, ban ngành trong tỉnh; triển lãm 1.000 bản sách chuyên đề về Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh, sách địa chí Hậu Giang và sách mới các lĩnh vực. Bên cạnh đó, Thư viện tỉnh còn xếp sách nghệ thuật mô hình Chiếc xuồng ba lá và Bình hoa. Hội báo Xuân Tân Sửu 2021 khai mạc vào ngày 05/02 và phục vụ bạn đọc đến ngày 18/02/2021 tại Thư viện tỉnh Hậu Giang, thu hút 3.870 lượt người xem. Trong tháng, hệ thống Thư viện tỉnh và huyện, thị xã, thành phố đã phục vụ 66.404lượt người với 132.808lượt tài liệu, sách báo; cấp 355 thẻ bạn đọc.

Sự nghiệp thể dục thể thao: Đăng cai tổ chức giải vô địch Lân Sư Rồng quốc gia lần thứ VIII năm 2021. Tham dự giải có 23 Câu lạc bộ Lân Sư Rồng mạnh đến từ 13 tỉnh, thành phố trong cả nước.Kết quả đoàn Hậu Giang đạt: 01 huy chương vàng, 01 huy chương bạc, 02 huy chương đồng. Xếp hạng Nhì toàn đoàn; phối hợp với Liên đoàn Quần vợt tỉnh tổ chức giải Quần vợt “Mừng Đảng quang vinh – mừng Xuân Tân Sửu” năm 2021. Tham dự giải có 110 vận động viên thi đấu 04 nội dung: Đôi lãnh đạo, đôi nam 1.400đ, đôi nam 1.300đ , đôi nữ 1.325đ. Kết quả: Ban tổ chức trao 04 giải Nhất, 04 giải Nhì và 08 giải Ba cho các cặp đôi đạt giải.

Sự nghiệp du lịch:Do tình hình dịch bệnh Covid - 19 diễn biến phức tạp nên mặc dù là tháng cao điểm đón khách du lịch nhưng lượng khách tăng không đáng kể, hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Trong tháng, toàn tỉnh ước đón 33.160 lượt khách tham quan du lịch, tăng 28,2% so với tháng 01/2021; luỹ kế từ đầu năm 2021 là 59.015 lượt khách. Tổng thu ước đạt 14,1 tỷ đồng, tăng 27,02% so với tháng 01/2021, luỹ kế từ đầu năm đạt 25,2 tỷ đồng.

6.3. Lao động và an sinh xã hội

Công tác chăm lo Tết cho người có công, gia đình chính sách và hộ nghèotrên địa bàn tỉnh được quan tâm thực hiện, đảm bảo mọi người dân đều có Tết, mặc dù không thực hiện được theo kế hoạch đề ra, do dịch bệnh Covid- 19 diễn biến phức tạp. Tuy nhiên, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội đã chủ động phối hợp với các đơn vị có liên quan và địa phương tổ chức các hoạt động thăm, tặng quà cho các đối tượng chính sách, xã hội kịp thời, chu đáo, không trùng lắp cũng như không bỏ sót đối tượng, đảm bảo mọi người, mọi nhà đều có Tết. Kết quả, Toàn tỉnh đã tổ chức họp mặt, thăm và tặng 231.101 phần quà cho người có công với cách mạng và các đối tượng chính sách - xã hội khác với tổng kinh phí 101.858,845triệu đồng. Bình quân mỗi đối tượng thụ hưởng mức quà khoảng 1,5 triệu đồng. Mức quà cơ bản là 500 ngàn đồng/phần. Trong đó:

- Quà Trung ương: tặng 13.675 phần quà cho người có công với cách mạng với số tiền là 4.158,30 triệu đồng.

- Quà của tỉnh: tặng 54.158 phần quà cho người có công với cách mạng, đối tượng Bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo công nhân có hoàn cảnh khó khăn với số tiền 29.242,615 triệu đồng (kể cả kinh phí hỗ trợ quà Trung ương là 4.083,90 triệu đồng).

 - Quà của các huyện, thị xã, thành phố: tặng 2.746 phần quà cho người có công với cách mạng, đối tượng Bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn với số tiền 1.136,90 triệu đồng.

- Quà vận động: Toàn tỉnh đã vận động được 185.359 phần quà hỗ trợ cho người có công với cách mạng và các đối tượng chính sách – xã hội khác với số tiền 82.503,73 triệu đồng.

Trong tháng, giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 1.513(2.458)/15.000 lao động, đạt 16,3% kế hoạch năm.

Lĩnh vực người có công với cách mạng: Tiếp nhận mới 218(515) hồ sơ các loại. Đã xét giải quyết 199(435) hồ sơ. Trong đó, đạt 161(363) hồ sơ; không đạt 38(72) hồ sơ. Còn lại 106 hồ sơ đang tiếp tục xem xét, giải quyết.

Lĩnh vực Bảo trợ xã hội – Trẻ em và Bình đẳng giới:

- Thực hiện trợ cấp hàng tháng cho 33.895(67.633) đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 13.038,66(26.020,35) triệu đồng. Hỗ trợ mai táng phí cho 142(349) trường hợp với số tiền 766,8(1.884,6) triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho 02(04) trường hợp với số tiền 15,4(20,4) triệu đồng.

- Tổ chức hỗ trợ gạo cho 20 hộ gia đình trẻ em mồ côi do Tổ chức Seaof tài trợ với kinh phí trên 34 triệu đồng.

Lĩnh vực Phòng, chống tệ nạn xã hội:

- Tổ chức tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nội bộ và ra dân được 54(104) cuộc với 1.166(3.485) lượt người tham dự.

- Thực hiện Kế hoạch của Ban Chỉ đạo 138 tỉnh về việc kiểm tra xử lý vi phạm về trật tự xã hội, tệ nạn xã hội. Đội, tổ kiểm tra liên ngành các cấp đã kiểm tra được 11(78) lượt cơ sở, không phát hiện cơ sở vi phạm.

- Về công tác quản lý đối tượng: tổng số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý trên địa bàn tỉnh tại thời điểm báo cáo là 1.630 người; số người nghiện đang có mặt tại cơ sở cai nghiện là 210 người.

6.4. Y tế

Trong tháng, có 04 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, giảm 07 ca so với tháng trước, cộng dồn là 15 ca, giảm 22 ca so với cùng kỳ; bệnh tay chân miệng có 36 ca mắc mới, giảm 44 ca so với tháng trước, cộng dồn là 116 ca, tăng 65 ca so với cùng kỳ; bệnh sởi, bệnh dịch lạ, bệnh viêm gan do virút, quai bị và các bệnh truyền nhiễm khác chưa ghi nhận ca mắc.

Về tình hình dịch Covid-19 như sau:

- Tính đến ngày 02/02/2021 Việt Nam ghi nhận 1.851 ca nhiễm, điều trị bình phục 1.460 ca, hiện còn đang nhiễm 356 ca, đã có 35 ca tử vong, bệnh diễn ra tại 49 tỉnh, thành trong cả nước. Hậu Giang chưa có phát hiện ca bệnh.

- Tính đến ngày 02/02/2021:

+ Số người hiện đang theo dõi, cách ly: 364 người (cách ly tập trung: 168 người, cách ly tại nhà: 196 người). Riêng số liệu tự theo dõi sức khỏe là 529 người. Cộng dồn: tổng số được cách ly, theo dõi từ đầu dịch đến nay là 6.549 người (cách ly tập trung: 1.707 người; cách ly tại nhà: 4.842 người); tổng số đã được cách ly đủ 14 ngày: 6.185 người (cách ly tập trung: 1.539 người; cách ly tại nhà: 4.646 người). Từ đầu dịch đến nay, Hậu Giang đã tiếp nhận cách ly người nhập cảnh 12 đợt, tổng số 1.289 công dân nhập cảnh.

Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 726 trẻ, cộng dồn là 1.541 trẻ,đạt 13,6%; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 845 trẻ, cộng dồn là 1.739 trẻ, đạt 15,17%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 801 thai phụ, cộng dồn là 1.645 thai phụ, đạt 14,5%; số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng là 12 ca, cộng dồn là 13 ca (tăng 07ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.833 ca (người còn sống là 1.227 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng là 00 ca, cộng dồn là 01ca (giảm 02 caso với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.044 ca; số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 00 ca, cộng dồn là01 ca (giảm 02 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 606 ca. Số người hiện đang điều trị Methadone là 66 người,tổng số bệnh nhân điều trị ARV là864 người.

Kết quả thực hiện khám chữa bệnh đến tháng 02/2021:Tổng số lần khám là 149.765 lượt, cộng dồn là 314.032 lượt, đạt 16,60% kế hoạch, giảm1,3% so với cùng kỳ. Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú là 8.436, cộng dồn là 17.692 lượt, đạt 13,09% kế hoạch, tăng 1,91% so với cùng kỳ. Ngày điều trị trung bình là 6,16 ngày, tăng 0,42 ngày so với cùng kỳ. Tổng số tai nạn ngộ độc, chấn thương là 1.113 trường hợp, giảm 283 trường hợp so với cùng kỳ.

6.5. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang trong tháng 02 năm 2021 trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông, làm chết 06 người và làm bị thương 01 người. So với tháng trước tăng 03 vụ, số người chết tăng 03 người và số người bị thương tương đương. So với cùng kỳ năm trước tăng 02 vụ, số người chết tăng 01 người, số người bị thương tăng 01 người. Trong đó, đường bộ tăng 02 vụ, số người chết tăng 01 người, số người bị thương tăng 01 người; đường thủy không xảy ra tai nạn.

Trong 02 tháng đầu năm (từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/02/2021), toàn tỉnh xảy ra 11 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 09 người, bị thương 02 người.

6.6. Tình hình môi trường, thiên tai và phòng, chống cháy, nổ

Ngành chức năng tiếp tục giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các cơ sở có thông tin phản ánh để kịp thời xử lý theo quy định.Trong tháng, ngành chức năng phát hiện 8 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 10 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 47 triệu đồng. Tính chung 02 tháng đầu năm đã phát hiện và xử lý 16 vụ vi phạm môi trường, với tổng số tiền xử phạt là 78,50 triệu đồng.

Về công tác phòng, chống cháy, nổ luôn được các ngành chức năng quan tâm thực hiện, định kỳ có kiểm tra, hướng dẫn người dân, các cơ sở kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy nên trong tháng không xảy ra cháy, nổ trên địa bàn tỉnh./.