Tháng 3
21:19 28/03/2021

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang 

tháng 3 và quý I năm 2021

 

   Trong quý I/2021, nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hậu Giang phát triển tương đối ổn định, mặc dù hạn hán, xâm nhập mặn và sự bùng phát trở lại của dịch Covid-19 với mức độ nguy hiểm và tốc độ lây lan nhanh ở một số tỉnh, thành của cả nước, nhưng do có sự chuẩn bị ứng phó từ trước nên tình hình phát triển kinh tế của tỉnh không bị ảnh hưởng nhiều. Đến nay, tỉnh Hậu Giang chưa có diện tích cây trồng bị thiệt hại do hạn hán, xâm nhập mặn, cũng như chưa ghi nhận ca mắc Covid-19, để đạt được kết quả trên là nhờ sự phối hợp, sự nỗ lực và quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp (DN) và người dân trong việc chủ động ứng phó với những khó khăn, thách thức để tìm ra các giải pháp tích cực và hiệu quả phát triển kinh tế, tăng thu nhập cho bản thân và đóng góp vào sự tăng trưởng chung của tỉnh. Cụ thể, kết quả hoạt động từng ngành, từng lĩnh vực như sau:

1. Tài chính, tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu Ngân sách nhà nước tháng 3/2021 được 636,45 tỷ đồng, luỹ kế được 2.588,12 tỷ đồng, đạt 33,13% dự toán Trung ương, đạt 32,86% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Trung ương trợ cấp được 298,95 tỷ đồng, luỹ kế được 1.109,10 tỷ đồng, đạt 27,49% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; thu nội địa được 300 tỷ đồng, luỹ kế được 1.382,17 tỷ đồng, đạt 41,54% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

 Ước tổng chi Ngân sách địa phương tháng 3/2021 được 644,17 tỷ đồng, luỹ kế được 2.541,86 tỷ đồng, đạt 36,60% dự toán Trung ương giao, đạt 36,72% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Chi  xây dựng cơ bản được 304,76 tỷ đồng, luỹ kế được 1.366,69 tỷ đồng, đạt 48,59% dự toán Trung ương giao, đạt 49,29% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; chi thường xuyên được 339,41 tỷ đồng, luỹ kế được 1.172 tỷ đồng, đạt 29,18% dự toán Trung ương giao, đạt 29,05% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 28/02/2021, tổng vốn huy động toàn địa bàn được 15.776 tỷ đồng, giảm 0,78% so với cuối tháng 01/2021, tương ứng giảm 1,29% so với cuối năm 2020. Vốn huy động đáp ứng được 58,09% cho hoạt động tín dụng. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước huy động được 10.188 tỷ đồng (chiếm 64,58%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 4.895 tỷ đồng (chiếm 31,03%); ngân hàng Chính sách xã hội được 652 tỷ đồng (chiếm 4,13%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 41 tỷ đồng (chiếm 0,26%). Hiện, lãi suất không kỳ hạn đến dưới 1 tháng phổ biến từ 0,1-0,2%/năm; lãi suất từ 01 tháng đến dưới 06 tháng ở mức 3,5-4,0%/năm; lãi suất từ 06 tháng đến dưới 12 tháng ở mức 4,9-5,1%/năm; lãi suất từ 12 tháng trở lên ở mức 6,0-6,5%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 3/2021, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn đạt 15.870 tỷ đồng, tăng trưởng 0,6% so với cuối tháng 02/2021, tương ứng giảm 0,7% so với cuối năm 2020.

Đến ngày 28/02/2021, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn là 27.158 tỷ đồng, tăng trưởng 0,45% so với cuối tháng 01/2021, tương ứng tăng trưởng 1,52% so với cuối năm 2020. Trong tổng dư nợ thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước đạt 19.073 tỷ đồng (chiếm 70,23%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần là 5.392 tỷ đồng (chiếm 19,86%); Ngân hàng Chính sách xã hội là 2.649 tỷ đồng (chiếm 9,75%) và Quỹ tín dụng Nhân dân là 44 tỷ đồng (chiếm 0,16%). Đến thời điểm hiện nay, lãi suất cho vay luôn được giữ ở mức ổn định, đối với các lĩnh vực ưu tiên lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam phổ biến là 4,5%/năm; cho vay trung, dài hạn ở mức 10 -11%/năm; các lĩnh vực khác lãi suất cho vay ngắn hạn từ 9,0 - 9,5%/năm; trung, dài hạn từ 10,5 - 13%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 3/2021, dư nợ đạt 27.273 tỷ đồng, tăng trưởng 0,42% so với cuối tháng 02/2021, tương ứng tăng trưởng 1,95% so với cuối năm 2020.       

Nợ quá hạn đến ngày 28/02/2021 là 889 tỷ đồng, chiếm 3,27% trên tổng dư nợ; nợ xấu là 433 tỷ đồng, chiếm 1,59% trên tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 456 tỷ đồng, chiếm 51,29% trên tổng nợ quá hạn. Dự báo đến cuối tháng 3/2021, nợ xấu toàn địa bàn vẫn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.

2. Đầu tư và xây dựng

2.1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 16/3/2021, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2021 là 15.762,38 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 1.836,38 tỷ đồng.

- Vốn tự có của DN nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.020 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các DN ngoài nhà nước là 12.906 tỷ đồng.

Ước tính tháng 3/2021, vốn đầu tư thực hiện được 1.469,04 tỷ đồng, bằng 89,91% so với cùng kỳ năm trước và bằng 106,07%[[1]] so với tháng trước.

Ước tính quý I/2021, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh thực hiện được 4.324,92 tỷ đồng, bằng 92,44% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 27,44% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 402,15 tỷ đồng, bằng 94,29% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 21,90% so với kế hoạch năm.         

- Vốn tự có của DN nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện được 238,90 tỷ đồng, bằng 48,15% so với cùng kỳ năm trước và đạt 23,42% so với kế hoạch năm.             

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các DN ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 3.683,87 tỷ đồng, bằng 98,08% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 28,54% so với kế hoạch năm.

2.2. Xây dựng

Trong năm 2021, với quyết tâm hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai đối thoại trực tiếp với DN và thực hiện kế hoạch xúc tiến đầu tư xây dựng năm 2021, nhằm tăng cường giới thiệu, quảng bá tiềm năng, thế mạnh và các chính sách ưu đãi đầu tư vào khu, cụm công nghiệp tập trung, đất quy hoạch trên địa bàn tỉnh để hoàn thành chỉ tiêu thu hút đầu tư đạt kế hoạch.

Ước tính quý I/2021, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh thực hiện được 1.778,45 tỷ đồng, so với quý trước bằng 73,93%[[2]] và so với cùng kỳ năm trước (1.626,88 tỷ đồng) bằng 109,32%. Trong đó: Loại hình DN ngoài nhà nước thực hiện được 843,78 tỷ đồng, so với quý trước bằng 60,98% và so với cùng kỳ năm trước bằng 121,43%; loại hình khác gồm xã, phường, phị trấn và hộ dân cư thực hiện được 934,67 tỷ đồng, so với quý trước bằng 91,48% và so với cùng kỳ năm trước bằng 100,29%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình ước thực hiện quý I/2021 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 931,48 tỷ đồng, so với quý trước bằng 78,62% và so với cùng kỳ năm trước bằng 96,80%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 399,42 tỷ đồng, so với quý trước bằng 72,04% và so với cùng kỳ năm trước bằng 100,64%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 404,07 tỷ đồng, so với quý trước bằng 68,12% và so với cùng kỳ năm trước  bằng 176,85%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 43,48 tỷ đồng, so với quý trước bằng 59,52% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,92%.

3. Tình hình hoạt động của DN

Tính từ ngày 20/02/2021 đến ngày 18/3/2021, toàn tỉnh có 75 DN đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 199,16 tỷ đồng, lũy kế từ đầu năm đến nay là 167 doang nghiệp, với tổng số vốn là 458,56 tỷ đồng. Số vốn đăng ký bình quân một DN thành lập mới từ đầu năm đến nay là 2,75 tỷ đồng.

Số DN gặp khó khăn tạm ngừng hoạt động trong tháng là 08 DN, lũy kế là 60 DN, với tổng số vốn là 286,20 tỷ đồng. Nguyên nhân là do điều kiện kinh doanh khó khăn, kinh doanh không hiệu quả, không ký kết được hợp đồng, chưa sắp xếp lại bộ máy và phương thức kinh doanh cho phù hợp với điều kiện của tỉnh.

Số DN giải thể trong tháng là 11 DN, lũy kế là 27 DN, với tổng số vốn là 14,30 tỷ đồng. Các DN giải thể là các DN siêu nhỏ, nguồn vốn, công nghệ lạc hậu, năng lực quản trị rất hạn chế, kinh doanh không hiệu quả, không có khả năng mở rộng quy mô. Các DN giải thể thuộc các lĩnh vực xây dựng, vận tải và bán buôn trong các cửa hàng chuyên doanh khác.

Về tình hình sản xuất và xu hướng sản xuất kinh doanh của DN: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có trên 183 DN đang hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong đó, có trên 35,14% DN đánh giá tình sản xuất tăng hơn so với quý trước, có trên 37,83% DN đánh giá không có biến động nhiều về sản lượng so với quý trước và còn lại 27,03% DN đánh giá tình hình sản xuất gặp khó khăn, sản lượng sản xuất không tăng so với quý trước. Vì vậy, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh có tăng trưởng nhưng còn một số ngành nghề phát triển chưa ổn định và bền vững.

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

4.1. Trồng trọt

- Lúa Đông xuân 2020-2021: Chính thức toàn tỉnh đã xuống giống được 77.022 ha, bằng 100,55% so với kế hoạch tỉnh (kế hoạch 76.600 ha), so với cùng kỳ giảm 1,03% (bằng 799 ha). Lúa chủ yếu đang ở giai đoạn trổ chín và thu hoạch (hiện nay vẫn còn một vài xã trong tỉnh lúa đang ở giai đoạn làm đòng). Giá lúa tươi thường tại tỉnh dao động từ 5.900 - 7.400 đồng/kg, cao hơn từ 200-500 đồng/kg so với cùng kỳ.

 + Diện tích lúa Đông xuân đã thu hoạch được 13.902 ha, tập trung chủ yếu là huyện Châu Thành A, Phụng Hiệp và Vị Thủy. Các giống lúa được sử dụng phổ biến như OM 18 chiếm 28,24%, Đài thơm 8 chiếm 22,92%, OM 5451 chiếm 19,03%, RVT chiếm 17,07%, ST24 chiếm 5,17%, IR50404 chiếm 3,6%, còn lại là các giống ST25, Jasmine 85, OM6976,…

+ Năng suất cả vụ ước đạt 78,09 tạ/ha, tăng 1,99% (bằng 1,52 tạ/ha) so với cùng kỳ; tăng 6,97% so với kịch bản tăng trưởng quý I của tỉnh (7,3 tấn/ha). Sản lượng lúa Đông xuân năm nay ước tính cả vụ được 601.462 tấn, tăng 0,94% (bằng 5.593 tấn) so với cùng kỳ; tăng 7,86% (bằng 43.814 tấn) so với kịch bản tăng trưởng quý I của tỉnh (557.648 tấn).

- Lúa Hè thu: Ước toàn tỉnh đã xuống giống được 2.753 ha, lúa đang ở giai đoạn mạ sinh trưởng và phát triển tốt.

- Mía niên vụ 2020-2021: Toàn tỉnh đã xuống giống được 5.040 ha, giảm 14,67% (bằng 866 ha) so với cùng kỳ, mía được trồng tập trung ở huyện Phụng Hiệp và thành phố Ngã Bảy. Hiện mía đang ở giai đoạn 1-3 tháng tuổi, sinh trưởng và phát triển tốt.

- Cây ngô: Diện tích gieo trồng toàn tỉnh 1.453 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 1,28% (bằng 19 ha), diện tích thu hoạch 725 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 3,32% (bằng 25 ha).

- Cây rau, đậu các loại: Diện tích gieo trồng toàn tỉnh được 9.828 ha, so với cùng kỳ năm trước tăng 8,43% (bằng 764 ha).

- Một số cây lâu năm ăn quả chủ yếu:

+ Cây dứa (khóm): Diện tích hiện có 2.794,8 ha, tăng 2,5% (bằng 68,2 ha), sản lượng 6.980,3 tấn, tăng 3,69% (bằng 248,3 tấn) so với cùng kỳ.

+ Cây mít: Diện tích hiện có 7.035,4 ha, tăng 1,0% (bằng 69,7ha), sản lượng 5.654,6 tấn, tăng 3,36% (bằng 184 tấn) so với cùng kỳ.

Về tình hình dịch bệnh: Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đang được kiểm soát tốt và ngăn chặn kịp thời. Hiện nay ngành Nông nghiệp đề nghị bà con thường xuyên thăm đồng phát hiện sinh vật gây hại để có biện pháp xử lý kịp thời như: phòng chống sâu cuốn lá, bệnh rầy nâu, đạo ôn cổ bông,… cần xử lý theo nguyên tắc 4 đúng để đạt hiệu quả cao.

4.2. Chăn nuôi     

Ước tính đến tháng 3/2021, số đầu con gia súc, gia cầm so với cùng kỳ cụ thể như sau:

- Đàn trâu, bò: Đàn trâu ước được 1.497 con, tăng 3,03% (bằng 44 con) so với cùng kỳ; Đàn bò ước được 3.608 con, giảm 0,25% (bằng 9 con) so với cùng kỳ.

- Đàn heo (không tính heo con chưa tách mẹ): Ước được 103.431 con, tăng 15,60% (bằng 13.957 con) so với cùng kỳ. Trong đó: Heo thịt được 90.456 con, tăng 15,58% (bằng 12.192 con). Đàn heo tăng do dịch tả lợn Châu phi đã được ngăn chặn tốt. Người dân đang tích cực, chủ động tái đàn để tăng thu nhập.

- Đàn gia cầm: 4.317,31 ngàn con, tăng 8,44% (bằng 336,07 ngàn con). Trong đó: đàn gà 1.507,48 ngàn con, tăng 12,01% (bằng 161,59 ngàn con). Đàn gia cầm tăng do giá thịt gia cầm ổn định, dịch bệnh ít, thị trường đầu ra tốt.

Về tình hình dịch bệnh: Dịch tả lợn Châu phi trên địa bàn tỉnh đã được kiểm soát tốt, công tác phòng chống dịch bệnh và tiêu độc, sát trùng cũng được các ngành chức năng quan tâm thực hiện thường xuyên, nên trong quý trên địa bàn tỉnh không xảy ra dịch bệnh.

4.3. Lâm nghip                 

Nhìn chung, tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu chỉ tập trung vào công tác chăm sóc và bảo vệ rừng, việc thẩm định, kiểm tra, giám sát, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định, công tác phòng chống cháy rừng được ngành chức năng chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên theo dõi kiểm tra và cảnh báo kịp thời đến người dân.

Ước tính quý I/2021, sản lượng gỗ khai thác được 3.198 m3 gỗ, tăng 0,19% (bằng 6 m3) so với cùng kỳ, sản lượng củi khai thác được 31.192 ste, tăng 0,02% (bằng 6 ste) so với cùng kỳ.   

4.4. Thủy sản

Ước tính quý I/2021, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh được 2.028 ha, tăng 2,14% (bằng 42,55 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Tổng sản lượng thủy sản quý I/2021, ước được 17.455,8 tấn, tăng 2,89% (bằng 489,6 tấn) so với cùng kỳ năm trước, tăng 63,6% (bằng 6.785,8 tấn) so với kịch bản tăng trưởng quý I/2021 của tỉnh (10.670 tấn). Chia ra: Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 16.703,3 tấn, tăng 3,09% (bằng 501,2 tấn) so với cùng kỳ, tăng 67,03% (bằng 6.703,3 tấn) so với kịch bản tăng trưởng quý I/2021 của tỉnh (10.000 tấn); sản lượng thủy sản khai thác được 752,5 tấn, giảm 1,53% (bằng 11,7 tấn) so với cùng kỳ, tăng 12,31% (bằng 82,5 tấn) so với kịch bản tăng trưởng quý I/2021 của tỉnh (670 tấn).

5. Tình hình sản xuất công nghiệp

Nhìn chung, tình hình sản xuất công nghiệp trong tháng 3/2021 tăng hơn so với tháng trước, do sau thời gian nghỉ Tết các DN đã trở lại hoạt động liên tục nên làm cho giá trị tăng lên. Vì thế, ước tính tháng 3/2021, giá trị sản xuất công nghiệp: Tính theo giá so sánh 2010, được 2.000,42 tỷ đồng, tăng 20,68% so với tháng trước và tăng 7,73% so với cùng kỳ năm trước; tính theo giá thực tế, được 2.891,89 tỷ đồng, tăng 23,70% so với tháng trước và tăng 9,37% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do các DN và cơ sở cá thể công nghiệp hoạt động nhiều hơn 07 đến 10 ngày so với tháng trước (Tết Nguyên đán Tân Sửu rơi vào giữa tháng 02 năm 2021). Bên cạnh đó, sau thời gian nghỉ Tết người lao động trở lại nơi làm việc gần như đầy đủ (chỉ số sử dụng lao động tăng 0,78% so với tháng trước và tăng 1,50% so với cùng kỳ) nên các DN sớm đi vào hoạt động ổn định và tăng sản lượng sản xuất để hoàn thành các hợp đồng đã ký. Ngoài ra, tăng một phần là do một số DN sản xuất các mặt hàng tiêu thụ nội địa, tăng sản lượng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của thị trường sau thời gian dài nghỉ Tết, nên ước giá trị sản xuất tháng 3 tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Ước tính quý I/2021, giá trị sản xuất công nghiệp: Tính theo giá so sánh 2010, được 5.779,58 tỷ đồng, tăng 8,75% so với cùng kỳ năm trước và đạt 18,22% so với kế hoạch năm; tính theo giá thực tế, được 8.291,19 tỷ đồng, tăng 10,18% so với cùng kỳ năm trước và đạt 17,93% so với kế hoạch năm. Trong đó:

- Khu vực kinh tế nhà nước, có 2 DN đóng góp giá trị sản xuất 70,03 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,84% trong toàn ngành và tăng 12,61% so với cùng kỳ;

- Khu vực kinh tế tư nhân, có 186 DN và trên 4.644 cơ sở cá thể công nghiệp, đóng góp giá trị sản xuất 5.709,73 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 68,87% trong toàn ngành và tăng 13,28% so với cùng kỳ;

- Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, có 8 DN và đóng góp giá trị sản xuất 2.511,42 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 30,29% trong toàn ngành và tăng 3,67% so với cùng kỳ.

Qua các số liệu trên cho thấy khu vực DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài hoạt động khá mạnh so với 02 khu vực kinh tế còn lại, tạo ra giá trị sản xuất bình quân trong 03 tháng đầu năm trên 314 tỷ đồng/DN (khu vực DN nhà nước 35 tỷ đồng/DN; khu vực kinh tế tư nhân 30,53 tỷ đồng/DN).

Tình hình sản xuất công nghiệp quý I/2021 chỉ đạt 18,22% kế hoạch năm của tỉnh đã đề ra (theo giá thực tế), dự báo trong những tháng tới nếu tình hình dịch Covid-19 được kiểm soát tốt như hiện nay và các DN áp dụng tốt phương châm vừa phòng chống dịch vừa hoạt động sản xuất ổn định thì giá trị sản xuất sẽ tăng trưởng khá. Bên cạnh đó, dự án điện mặt trời VKT- Hòa An công suất thiết kế 32 Mw; nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1 công suất thiết kế 1.200 Mw, đi vào hoạt động đúng kế hoạch của DN và hoạt động hết công suất thiết kế thì mới có khả năng đạt kế hoạch năm.

Đối với Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính tháng 3/2021, chỉ số sản xuất công nghiệp như sau:

- Tăng 30,47%[[3]] so với tháng trước. Nguyên nhân là do số ngày hoạt động của các DN và cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể nhiều hơn từ 07 đến 10 ngày so với tháng trước. Ngoài ra, tăng một phần là do sau tết các DN tăng sản lượng sản xuất để hoàn thành các hợp đồng đã ký trước đó. Vì vậy, chỉ số chung của toàn tỉnh tăng cao so tháng trước.

- Tăng 8,62%[[4]] so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù dịch Covid-19 đang diễn biến hết sức phức tạp, nhưng các ngành chức năng của tỉnh đã thực hiện nghiêm Chỉ thị của Thủ tướng và có nhiều kế hoạch để ứng phó trong việc phòng chống dịch, đặc biệt là DN và các cơ sở cá thể công nghiệp đã có kế hoạch ứng phó và thực hiện tốt phương châm vừa phòng, chống dịch bệnh vừa khôi phục và phát triển, một số DN đã ký được các đơn hàng mới có giá trị lớn, thúc đẩy tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước.

Dự tính quý I/2021, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

- Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo: Tăng 9,46% so với cùng kỳ. Cụ thể do một số ngành chiếm tỷ trọng lớn tăng cao so với cùng kỳ như:

 + Chỉ số sản xuất ngành chế biến thực phẩm tăng 5,07%, tương đương giá trị sản xuất theo giá thực tế được 2.666,61 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 32,16% và tăng 4,15% so với cùng kỳ. Trong đó: Ngành chế biến và bảo quản rau quả tăng 18,83%; ngành xay xát và sản xuất bột thô tăng 15,03%[[5]]; ngành sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản tăng 51,17%[[6]]. Riêng ngành sản xuất đường giảm 67,04% và ngành chế biến, bảo quản thuỷ sản và các sản phẩm từ thuỷ sản giảm 13,91%, hai ngành này chiếm tỷ trọng rất lớn trong ngành chế biến thực phẩm nhưng chỉ số sản xuất giảm, nên làm ảnh hưởng đến ngành chế biến thực phẩm tăng không cao so với cùng kỳ.

+ Chỉ số sản xuất đồ uống tăng 79,51%, giá trị sản xuất theo giá thực tế được 842,72 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 10,16% trong toàn ngành và tăng 57,68% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Mtv Masan Brewery Hậu Giang và Công ty TNHH Number One Hậu Giang sau hơn 02 năm đi vào hoạt động ổn định các DN trên đã tạo dựng được thương hiệu trong khu vực và ký được nhiều hợp đồng phân phối tại các hệ thống bán lẻ của siêu thị, nên DN tăng sản lượng liên tục để phục vụ thị trường trong và ngoài tỉnh.

+ Chỉ số sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 13,79%, giá trị sản xuất theo giá thực tế được 447,62 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 5,40% trong toàn ngành và tăng 13,93% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do trong quý các DN sản xuất thuốc bảo vệ thực vật tăng sản lượng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của bà con nông dân trong việc chăm sóc lúa giai đoạn làm đồng, trổ và chín. Vì vậy, giá trị sản xuất ngành này tăng cao so với cùng kỳ.

+ Chỉ số sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 6%, giá trị sản xuất theo giá thực tế được 361,31 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 4,36% trong toàn ngành và tăng 1,59% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH MTV bê tông Hamaco - Hậu Giang, sau Tết nhận được nhiều đơn hàng mới, sản xuất cấu kiện trong xây dựng, nên chỉ số sản xuất tăng so với cùng kỳ.

+ Bên cạnh đó, có một số ngành giảm hoặc tăng thấp hơn mức tăng chung của tỉnh như: Sản xuất trang phục giảm 1,52%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 3,95%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 13,83%,... Nguyên nhân là do những DN lớn hoạt động trong các ngành trên chỉ nhập nguyên, vật liệu và xuất thành phẩm chủ yếu là các nước Châu Á, nên sau tết Nguyên đán thị trường các ngành này mới bắt đầu khởi động và đàm phán ký hợp đồng dài hạn (trên 6 tháng), hiện các DN chỉ sản xuất đủ hàng hóa để kịp hoàn thành các hợp đồng đã ký trước đó. Vì vậy, chỉ số các ngành trên giảm, làm chỉ số chung của toàn tỉnh quý I/2021 tăng nhưng không cao so với cùng kỳ năm trước.

- Ngành sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 4,90% so với cùng kỳ năm trước. Ngành điện đã hoạt động ổn định, cung cấp đủ điện một cách an toàn, hiệu quả cho người dân và các DN được hoạt động liên tục, ổn định, đảm bảo hạn chế không để xảy ra tình trạng mất điện. Ngoài ra, do hiện nay là cao điểm của đợt nóng nên nhu cầu sử dụng điện của các hộ gia đình, cơ quan, xí nghiệp tăng, nên chỉ số truyền tải phân phối điện tăng so với kỳ năm trước. Bên cạnh đó, tăng một phần là do dự án điện mặt trời VKT- Hòa An công suất thiết kế 32 Mw đã chính thức đi vào hoạt động, sản lượng điện sản xuất được 35.116 Mwh góp phần làm tăng ngành này so với cùng kỳ.

- Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,90% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng là do Công ty Cổ phần Cấp Thoát nước – CTĐT Hậu Giang nắm được nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của người dân nông thôn ngày càng cao, nên công ty đã hoàn thiện và khởi công mới các tuyến đường ống dẫn nước đến các vùng nông thôn trên địa bàn tỉnh và khai thác thêm các nguồn nước ngầm, để đảm bảo cung cấp đầy đủ nước sạch phục vụ tốt việc sản xuất kinh doanh và sinh hoạt cho người dân. Vì vậy, sản lượng sản xuất nước sạch dự tính quý I/2021 được 3.163,97 ngàn M3, tăng 252,52 ngàn M3 so với cùng kỳ.

6. Hoạt động thương mại, dịch vụ

6.1. Bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Bước qua tháng 3/2021, thị trường hàng hóa và nhu cầu tiêu dùng của người dân sau tết giảm. Bên cạnh đó, nhiều tỉnh miền Tây nói chung và Hậu Giang nói riêng đã nâng mức phòng chống dịch Covid-19 lên cao nhất khi có bệnh nhân vượt biên trái phép từ Campuchia về Đồng Tháp vào cuối tháng 2/2021, làm ảnh hưởng đến tâm lý sinh hoạt của người dân. Lưu thông hàng hóa và tiêu thụ nông sản cũng gặp khó khăn, đặc biệt là xuất khẩu nông sản. Tình hình xâm nhập mặn cũng đã diễn ra tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh như: huyện Long Mỹ, thị xã Long Mỹ, thành phố Vị Thanh, trong đó huyện Long Mỹ có nồng độ mặn cao gây không ít khó khăn cho canh tác, sinh hoạt và đời sống của người dân.

Vì vậy, ước tính tháng 3/2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 3.703,38 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các DN đóng trên địa bàn tỉnh là 323,61 tỷ đồng), so với thực hiện tháng trước bằng 91,12% và so với cùng kỳ năm trước bằng 118,45%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa được 2.799,80 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 90,36%[[7]] và so với cùng kỳ năm trước bằng 116,62%.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 562,02 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 91,93% và so với cùng kỳ năm trước bằng 123,89%. Cụ thể: Ngành lưu trú được 10,42 tỷ đồng, so tháng trước giảm 1,08%, so cùng kỳ tăng 19,97%; Ngành ăn uống được 551,60 tỷ đồng, so tháng trước giảm 8,19%, so cùng kỳ tăng 23,97%.

- Doanh thu dịch vụ khác được 341,56 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 96,41% và so với cùng kỳ năm trước bằng 125,54%. Cụ thể một số nhóm ngành giảm so với tháng trước như: Dịch vụ hành chính hỗ trợ giảm 7,51%; dịch vụ y tế giảm 3,5%; dịch vụ khác (ngành S) giảm 15,31%.

Ước tính quý I/2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 11.681,54 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các DN đóng trên địa bàn tỉnh là 1.066,55 tỷ đồng), so với cùng kỳ năm trước bằng 110,08%, so với kế hoạch quý I/2021 bằng 101,80%, so với kế hoạch năm bằng 27,49%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa được 8.876,98 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 108,66%.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 1.762,52 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 114,31%.

- Doanh thu dịch vụ khác được 1.042,04 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 115,70%.

Nhìn chung, tình hình thương mại, dịch vụ quý I/2021có tốc độ tăng trưởng khá tốt so với cùng kỳ. Nguyên nhân do cùng kỳ là thời điểm dịch bệnh Covid-19 lần đầu tiên bùng phát nên hầu hết hoạt động thương mại, dịch vụ và lưu thông hàng hóa đều bị ảnh hưởng. Đặc biệt là dịch vụ giáo dục và đào tạo; dịch vụ vui chơi giải trí tăng rất cao so với cùng kỳ do hai ngành này bị ảnh hưởng rất nhiều của dịch Covid-19 trong quý I/2020. Năm nay, tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt do các ngành chức năng đã thực hiện nghiêm theo Chỉ thị của Thủ tướng và có kế hoạch ứng phó kịp thời nên hoạt động giao thương, buôn bán diễn ra bình thường và góp phần vào phát triển kinh tế của Tỉnh trong thời gian tới.

6.2. Tình hình xuất nhập khẩu

        Ước tính tháng 3/2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 79.019 nghìn USD so với tháng trước bằng 132,79% và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,26%. Nguyên nhân tăng so với tháng trước là do sau thời gian nghỉ Tết Nguyên đán các DN đã trở lại hoạt động bình thường nên giá trị xuất khẩu tăng. Chia ra:

- Xuất khẩu được 46.681 nghìn USD, so với tháng trước bằng 216,09% và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,77%. Trong tháng 3 dự tính giá trị xuất khẩu sẽ tăng trở lại ở mức cao, nguyên nhân do Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) có quyết định không áp đặt thuế chống bán phá giá lên mặt hàng Tôm chế biến xuất khẩu của DN Minh Phú. Cùng với đó, sự tác động tích cực từ các Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam với EU, Hiệp định CPTPP, Hiệp định đối tác toàn diện khu vực RCEP đã và sẽ có hiệu lực trong thời gian tới sẽ là cú hích thúc đẩy hoạt động giao thương thương mại hai chiều giữa Việt Nam với các nước đối tác ngày càng phát triển sâu rộng, sẽ là tiền đề tạo ra nhiều cơ hội lớn cho các DN gia tăng hoạt động sản xuất, sự thực hiện cam kết các nội dung của Hiệp định sẽ tạo ra cho các DN sự thuận lợi trong đầu tư, tìm kiếm và ký kết được các hợp đồng xuất khẩu lớn, hàng hóa xuất khẩu vào thị trường các nước cũng dễ dàng và có tính cạnh tranh hơn các nước không tham gia Hiệp định. Vì vậy, dự đoán trong tháng tới giá trị xuất khẩu sẽ tăng mạnh.

- Nhập khẩu được 32.338 nghìn USD, so với tháng trước bằng 85,32% và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,61%.

Ước tính quý I/2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 219.693 nghìn USD so với cùng kỳ năm trước bằng 106,17%, so với kịch bản kế hoạch tăng trưởng của tỉnh đạt 92,31% (xuất khẩu và doanh thu dịch vụ ngoại tệ đạt 72,58%, nhập khẩu đạt 148,30%) và so với kế hoạch năm đạt 20,32%. Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 114.309 nghìn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 89,45% và so với kế hoạch năm đạt 15,54%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 91.948 nghìn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 145,05% và so với kế hoạch năm đạt 32,65%.

- Uỷ thác xuất khẩu ước thực hiện được 296 nghìn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 44,85% và so với kế hoạch năm đạt 24,67%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng ước thực hiện được 13.140 nghìn USD so với cùng kỳ năm trước bằng 87,18% và so với kế hoạch năm đạt 20,86%.

                   Trong quý I/2021, các DN hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa trên địa bàn đã có quan hệ giao thương với khoảng 60 quốc gia và vùng lãnh thổ. Giảm khoảng gần 10 thị trường so với quý I/2020. Các khu vực có giá trị xuất, nhập khẩu lớn nhất vẫn là các quốc gia ở vùng Bắc Mỹ (Hoa kỳ là chủ yếu), Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc là chủ yếu) và Châu Âu. Trong quý I/2021, đánh dấu giá trị xuất khẩu sụt giảm mạnh ở các khu vực này so với cùng kỳ năm trước lần lượt ở mức 1,13%, 13,85% và 31,85%. Nguyên nhân do bởi sự ảnh hưởng mạnh mẽ của dịch Covid-19 đã tác động xấu đến nền kinh tế của các nước, buộc các nước phải sử dụng các biện pháp phong tỏa để ngăn chặn đại dịch làm nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái, nhu cầu tiêu dùng giảm khiến sản lượng nhập khẩu từ các DN bên ngoài cũng từ đó giảm theo.

Về cơ cấu các nhóm hàng xuất, nhập khẩu cũng không có sự thay đổi lớn vẫn ổn định so với các năm trước. Xuất khẩu chủ lực vẫn là các nhóm hàng nông, lâm, thủy hải sản, hàng dệt may, giày da, các sản phẩm giấy và một số mặt hàng khác. Dự đoán trong thời gian tới tỷ trọng xuất khẩu hàng nông sản có thể sẽ tăng mạnh do tác dụng tích cực của các Hiệp định Thương mại tự do mang lại, một phần khác do sự khuyến khích phát triển đầu tư vào nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn ngày càng phát triển, ngày có nhiều các hợp tác xã nông nghiệp ứng dụng khoa học kỹ thuật trong trồng trọt ra đời, tạo ra được những sản phẩm có giá trị thương phẩm cao, chất lượng tốt, một số loại sản phẩm đã được xuất đi sang các nước Châu Âu (điển hình là chanh không hạt). Trong thời gian tới, với sự chú trọng đầu tư phát triển, sự hỗ trợ từ các ngành chức năng địa phương các sản phẩm nông nghiệp sạch chất lượng cao sẽ ngày càng tăng giá trị xuất khẩu, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội chung trên địa bàn.

        Về nhập khẩu, các mặt hàng nhập chủ yếu là các nguyên liệu phục vụ sản xuất các ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, thực phẩm, giày da, dệt may, xăng, dầu, các máy móc thiết bị và dây chuyền sản xuất cũng được các DN quan tâm đầu tư, đổi mới để nâng cao chất lượng sản phẩm, giá trị nhập khẩu quý I tăng 13,86% so với cùng kỳ năm 2020. Các mặt hàng khác như: hóa chất, mật đường và một số hàng hóa khác cũng được nhập với sản lượng lớn nhằm phục vụ chế biến, sản phẩm xuất khẩu cũng không ngừng tăng lên, tăng 189,78% so với cùng kỳ năm 2020.

          Hiện nay, tình hình dịch bệnh trong nước và trên thế giới đang có dấu hiệu hạ nhiệt. Số ca bệnh mắc mới đang có dấu hiệu giảm dần, cùng với việc các nước đang đẩy nhanh tốc độ tiêm ngừa Vaccine Covid-19 là yếu tố thuận lợi để giúp kinh tế toàn cầu có thể hồi phục. Vì vậy, các DN cần phải nắm bắt thời cơ, tận dụng hết các cơ hội đang có để tăng cường giao thương mở rộng quan hệ thương mại với các đối tác. Cùng với đó, DN phải biết tận dụng những thuận lợi mà các Hiệp định Thương mại tự do mang lại để gia tăng thị phần ở các thị trường xuất khẩu chính truyền thống, đồng thời không ngừng tìm kiếm mở rộng thêm các thị trường xuất khẩu tiềm năng mới đưa sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam nói chung vươn tầm thế giới và góp phần làm tăng giá trị xuất khẩu chung trên địa bàn.

6.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Ước tính tháng 3/2021, tổng doanh thu vận tải, kho bãi thực hiện được 101,29 tỷ đồng so với tháng trước bằng 96,08% và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,64%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 39,39 tỷ đồng so với tháng trước bằng 92,20% và so với cùng kỳ năm trước bằng 133,64%; đường thủy thực hiện được 32,95 tỷ đồng so với tháng trước bằng 103,87% và  so với cùng kỳ năm trước bằng 107,59%; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 28,95 tỷ đồng so với tháng trước bằng 93,46% và so với cùng kỳ năm trước bằng 97,07%.

Ước tính quý I/2021, tổng doanh thu vận tải, kho bãi thực hiện được 305,26 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 101,58%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 116,15 tỷ đồng bằng 110,93% so với cùng kỳ năm trước; đường thủy thực hiện được 100 tỷ đồng bằng 91,14% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 89,11 tỷ đồng bằng 103,53% so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình hoạt động vận tải, kho bãi trong quý I/2021 có sự phục hồi và tăng trưởng, so với cùng kỳ năm trước dịch bệnh hiện nay được kiểm soát tốt, các hoạt động sinh hoạt diễn ra hằng ngày đã gần như trở lại bình thường so với thời điểm bùng phát dịch năm 2020. Khối lượng vận chuyển hàng hóa của các DN trên địa bàn tăng trưởng mạnh, đi kèm với đó là dịch vụ vận tải Logistic được sự quan tâm đầu tư phát triển, mạng lưới hạ tầng giao thông của các cấp chính quyền địa phương đã khiến giá trị của loại hình dịch vụ này tăng trưởng mạnh mẽ, tỷ trọng chiếm ngày càng cao trong tổng giá trị chung. Hiện nay, giá trị hoạt động khu vực này chiếm tỷ trọng gần 30%. Vì vậy, đã góp phần đáng kể trong sự phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn trong quý đầu tiên của năm 2021.

6.3.1 Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Ước tính tháng 3/2021, toàn tỉnh vận chuyển được 566,95 nghìn tấn hàng hóa các loại (47.879,72 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 102,62% (102,56%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 117,82% (134,34%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 114,12 nghìn tấn (11.299,21 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 91,12% (92,45%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 191,08% (177,41%).

- Đường sông thực hiện được 452,83 nghìn tấn (36.580,51 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 105,99% (106,15%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 107,44% (124,96%).

Ước tính quý I/2021, toàn tỉnh vận chuyển được 1.691,33 nghìn tấn hàng hóa các loại (143.364,04 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 99,67% (101,20%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 316,24 nghìn tấn (32.678,32 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 146,83% (135,35%).

- Đường sông thực hiện được 1.375,09 nghìn tấn (110.685,72 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 92,82% (94,18%).

6.3.2 Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Ước tính tháng 3/2021, toàn tỉnh thực hiện được 2.977,08 nghìn lượt hành khách (41.450,73 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 87,47% (94,18%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,88% (108,91%). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 553,69 nghìn lượt hành khách (29.722,86  nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 87,42% (92,47%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,69% (109,60%).

- Đường sông vận chuyển được 2.423,39 nghìn lượt hành khách (11.727,87 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 99,34% (98,78%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,93% (107,21%).

Ước tính quý I/2021, toàn tỉnh vận chuyển được 9.631,54 nghìn lượt hành khách (126.162,71 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 98,26% (95,42%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 2.428,64 nghìn lượt hành khách (91.057,55 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 98,44% (94,32%).

- Đường sông thực hiện được 7.202,90 nghìn lượt hành khách (35.105,16 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 98,19% (98,39%)

7. Các vấn đề về xã hội

7.1. Giáo dục

Trong quý, Sở Giáo dục và Đào tạo tập trung vào hoạt động chuyên môn của các ngành học, cấp học như sau:

- Giáo dục tiểu học - mầm non: Tham quan, học tập chuyên đề giáo dục phát triển thể chất tại Trường Mẫu giáo Bông Sen, thành phố Ngã Bảy; giáo dục phát triển thẩm mỹ tại Trường Mẫu giáo Vĩnh Trung, huyện Vị Thủy; xây dựng Trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm tại huyện Châu Thành. Hướng dẫn các đơn vị tổ chức Hội thi “Bé vui khỏe” cấp học mầm non năm học 2020-2021.

- Giáo dục trung học - Giáo dục thường xuyên: Tổ chức Cuộc thi Khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học cấp tỉnh năm học 2020-2021 tại Trường THPT chuyên Vị Thanh. Tiếp tục phối hợp tổ chức Hội thi Rung chuông vàng dành cho học sinh lớp 11 các trường THPT, THPT chuyên. Triển khai Cuộc thi "An toàn giao thông cho nụ cười ngày mai" dành cho học sinh và giáo viên trung học năm học 2020-2021.

Sở Giáo dục và Đào tạo cũng đã tổ chức Lễ khai mạc Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh các môn văn hóa THCS năm học 2020 - 2021. Kỳ thi thu hút 419 thí sinh dự thi ở 09 môn: Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tin học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Tiếng Anh đến từ các huyện, thị xã, thành phố trên địa bàn tỉnh. Kỳ thi được tổ chức trong một buổi sáng ngày 03/3/2021, kết thúc buổi thi, tất cả các thí sinh tham dự đầy đủ, nghiêm túc, đúng quy chế. Công tác đảm bảo phòng, chống dịch Covid-19 cũng được thực hiện một cách nghiêm túc theo quy định. Kết quả kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh các môn văn hóa THCS năm học 2020 - 2021, có 204 thí sinh được công nhận học sinh giỏi cấp tỉnh, trong đó, khen thưởng cho 120 thí sinh có thành tích xuất sắc. Cụ thể có 09 Giải nhất, 44 Giải nhì, 67 Giải ba và 84 Khuyến khích.

7.2. Tình hình văn hóa, thể thao

Trong quý I/2021, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo công tác tuyên truyền cổ động trực quan và trang trí khánh tiết họp mặt kỷ niệm 91 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (3/2/1930 -3/2/2021); tổ chức Hội báo Xuân, Triển lãm ảnh và Cuộc thi bình chọn ấn phẩm Xuân Tân Sửu 2021; Lễ hội giao thừa mừng Xuân Tân Sửu 2021. Đội Tuyên truyền lưu động tỉnh cũng đã xây dựng chương trình nghệ thuật quần chúng và phối hợp với Đội tuyên truyền lưu động của các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh tổ chức biểu diễn phục vụ nhân dân trước, trong và sau tết Nguyên đán 2021. Kết quả đạt được như sau:

- Sáng tác, dàn dựng mới 01 kịch bản ở cấp tỉnh và 08 kịch bản truyên truyền lưu động ở cấp huyện.

- Biểu diễn phục vụ 158 buổi, với 80.495 lượt người xem.

- Tổ chức phóng thanh lưu động 27 buổi ở cấp tỉnh và phóng thanh cổ động 197 lượt ở cấp huyện.

- Lắp mới nội dung trên 08 cụm panô trên quốc lộ 61 và 61C; 02 panô tại cầu Mương Lộ, 01 panô tam giác tại vòng xoay Võ Nguyên Giáp, 01 panô đường Hùng Vương, 02 cụm panô đầu đường Ngô Quyền giao với Trần Hưng Đạo và 02 cụm panô đầu đường Ngô Quyền giao với Hòa Bình; lắp mới nội dung tại cổng chào Trầu Hôi.

- Lắp mới 30 pano (kích thước 2m x 3m) trên các tuyến đường: Hùng Vương, Võ Văn Kiệt, Đại lộ Võ Nguyên Giáp và trong khu hành chính tỉnh. In mới và lắp đặt 3.344 mpano trên các tuyến đường chính của các huyện, thị xã, thành phố.

- In và treo 387 băng rôn, 17.700 cờ các loại trên các tuyến đường trên địa bàn tỉnh.

- Thực hiện maket, in và phát hành 1.500 tờ tin ảnh, phản ánh các hoạt động “Mừng Đảng quang vinh – Mừng Xuân Tân Sửu 2021”.

Về hoạt động thư viện: Trong quý, hệ thống thư viện tỉnh và huyện, thị xã, thành phố đã phục vụ 197.237 lượt người với 394.425 lượt sách báo, truy cập máy tính; cấp 948 thẻ bạn đọc. Tổ chức Triển lãm 400 loại báo xuân của các báo Trung ương và ấn phẩm xuân của 63 tỉnh, thành phố cả nước và 17 ấn phẩm Xuân của các sở, ban ngành, địa phương, đơn vị của tỉnh Hậu Giang tham gia Cuộc thi bình chọn ấn phẩm Xuân 2021; 1.000 quyển sách chuyên đề về Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân dịp kỷ niệm 91 năm Ngày Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2021); 53 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968; Sách viết về Hậu Giang, sách mới các lĩnh vực. Bên cạnh đó, Thư viện tỉnh còn xếp sách nghệ thuật mô hình Chiếc xuồng ba lá và Bình hoa. Hội báo Xuân Tân Sửu 2021 khai mạc vào ngày 05/02 và phục vụ bạn đọc đến ngày 18/02/2021 tại Thư viện tỉnh Hậu Giang, thu hút 3.870 lượt người xem.

Về hoạt động bảo tồn - bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa: Trong quý, hệ thống các di tích toàn tỉnh phục vụ 64.949 lượt khách (trong đó có 58 đoàn khách) tham quan tại các Khu di tích: Chiến thắng Chương Thiện (thành phố Vị Thanh); căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ; Chiến thắng Tầm Vu; Đền thờ Bác Hồ; Chiến thắng Chương Thiện tại huyện Long Mỹ; Khu trù mật Vị Thanh - Hỏa Lựu,...

Về sự nghiệp thể dục thể thao:

- Tổ chức thành công các giải thể thao: Giải vô địch Teakwondo tỉnh Hậu Giang năm 2020 (Tham dự giải có 129 vận động viên đến từ 8 đơn vị huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh). Vô địch Bóng đá nam tỉnh Hậu Giang năm 2020 (Có 162 vận động viên đến từ 9 đơn vị: huyện Phụng Hiệp, thị xã Long Mỹ, thành phố Vị Thanh, huyện Châu Thành, Công an tỉnh, Trại giam Kênh 5, huyện Châu Thành A, huyện Long Mỹ và huyện Vị Thủy). Giải Quần vợt “Mừng Đảng quang vinh - mừng Xuân Tân Sửu tỉnh Hậu Giang năm 2021(tham gia giải có 110 vận động viên thi đấu). Kết quả: Ban tổ chức trao 04 giải Nhất, 04 giải Nhì và 08 giải Ba cho các cặp đôi đạt giải.

- Đăng cai tổ chức giải vô địch Lân Sư Rồng quốc gia lần thứ VIII năm 2021 (Tham gia giải có 23 Câu lạc bộ Lân Sư Rồng mạnh đến từ 13 tỉnh, thành phố trong cả nước). Kết quả đơn vị Hậu Giang đạt: 01 huy chương vàng, 01 huy chương bạc, 02 huy chương đồng. Xếp hạng Nhì toàn đoàn.

- Tham gia giải thành tích cao: Giải vô địch Vovinam toàn quốc năm 2020 tại Hà Tĩnh, kết quả đạt: 01 huy chương vàng, 03 huy chương bạc, 02 huy chương đồng; Đua thuyền Canoeing vô địch quốc gia năm 2020 tại thành phố Hải Phòng; Vô địch Điền kinh quốc gia năm 2020 tại Hà Nội,kết quả đạt: 01 huy chương vàng; giải vô địch quốc gia Việt dã leo núi “Chinh phục đỉnh cao Bà Rá” lần thứ 27 năm 2021 tại tỉnh Bình Phước. Kết quả tham dự 4 giải (đạt 02 huy chương vàng, 03 huy chương bạc, 02 huy chương đồng).

Về du lịch: Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên hoạt động kinh doanh du lịch tiếp tục gặp nhiều khó khăn. Trong quý toàn tỉnh ước tính đón được 77.315 lượt khách, giảm 17,4% so với cùng kỳ. Tổng thu từ du lịch trong quý ước đạt 33 tỷ đồng, giảm 17,5% so với cùng kỳ.

7.3. Lao động và an sinh xã hội

7.3.1. Tình hình đời sống dân cư và giải quyết việc làm

Nhìn chung tình hình đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh ổn định, chính quyền, địa phương luôn có những chính sách phù hợp đảm bảo đời sống cho người dân không để xảy ra tình trạng thiếu đói trên địa bàn. cụ thể đời sống người dân từng khu vực như sau:

- Đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động hưởng lương thuộc khu vực nhà nước: Ngoài hưởng lương theo quy định thì trong dịp lễ, tết vừa qua cũng được hưởng tăng thêm bình quân mỗi người từ 1 triệu đồng đến 20 triệu đồng.

- Đối với người làm công ăn lương, lao động làm thuê trong các DN và cơ sở sản xuất phi nông lâm nghiệp: số DN có kế hoạch thưởng Tết Nguyên đán Tân Sửu năm 2021 là 12 DN (chỉ bằng 50% so với năm 2020). Mức thưởng cao nhất là 146 triệu đồng, mức thưởng thấp nhất là 2 triệu đồng, mức thưởng bình quân từ 02 triệu đồng đến 26 triệu đồng tùy loại hình DN.

- Đời sống của người dân ở nông thôn cũng tương đối ổn định. Do đặc thù kinh tế Hậu Giang là tỉnh nông nghiệp, dân số phần đông sống ở vùng nông thôn và hoạt động nông nghiệp với nguồn thu nhập chính từ trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản, điều này cũng đồng nghĩa với việc chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh, khí hậu, giá cả thị trường như: phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn cho chăn nuôi, thủy sản, con giống, giá bán của các mặt hàng nông sản, thủy sản,... Vì vậy, chính quyền các cấp cần có cơ chế, chính sách phù hợp hơn nữa, để người dân nông thôn ngày càng có cuộc sống tốt hơn.

Vấn đề giải quyết việc làm luôn được Lãnh đạo tỉnh quan tâm chỉ đạo thực hiện thông qua việc ban hành các chủ trương, chính sách giải quyết việc làm cho người lao động, ngành Lao động - Thương binh và Xã hội cũng đã phối hợp với các ngành có liên quan, thông qua các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội để tư vấn giới thiệu việc làm, tạo việc làm cho người lao động ở trong và ngoài tỉnh. Kết quả đạt được trong quý I/2021 như sau:

- Giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 4.203/15.000 lao động, đạt 28,02% kế hoạch năm.

- Công tác hỗ trợ tuyển dụng lao động cho DN: hỗ trợ giới thiệu, cung ứng cho các DN trong và ngoài tỉnh được 439 lao động.

- Công tác hỗ trợ người lao động đi làm việc có thời hạn tại nước ngoài: Thực hiện 09 cuộc tư vấn về hỗ trợ người lao động đi làm việc có thời hạn tại Nhật Bản cho đối tượng bộ đội xuất ngũ năm 2021 với 972 người tham dự; tổ chức cho 11 người lao động tham gia phỏng vấn đơn hàng đi làm việc Nhật Bản tại Công ty TNHH Nhân Lực Mirai và Công ty TNHH Tập toàn Quốc tế Sài Gòn. Kết quả, có 05 lao động trúng tuyển; hỗ trợ tuyển dụng lao động đi làm việc tại Nhật Bản với 11 đơn hàng, số lượng lao động được đề nghị cung ứng 107 lao động.

7.3.2. An sinh xã hội

Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh năm 2021. Bằng nhiều biện pháp hỗ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất như hỗ trợ vốn và các chương trình lồng ghép khác của dự án xóa đói giảm nghèo và sự nỗ lực vươn lên từ các hộ nghèo, đến nay số hộ nghèo đã giảm đáng kể. Tổng hợp kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2020 theo chuẩn tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, cụ thể như sau:

- Tổng số hộ nghèo: 6.965 hộ, chiếm tỷ lệ 3,46% (so với năm 2019 giảm 1,52%, năm 2019 là 10.088 hộ, chiếm tỷ lệ 4,98%).

- Tổng số hộ cận nghèo: 7.167 hộ, chiếm tỷ lệ 3,56% (so với năm 2019 giảm 0,80%, năm 2019 là 8.832 hộ, chiếm tỷ lệ 4,36%).

Về công tác bảo trợ xã hội: việc chăm lo cho các gia đình nghèo, các đối tượng chính sách, xã hội,… đều được quan tâm thực hiện tốt, đảm bảo hộ nghèo đủ điều kiện vui xuân và vượt qua những khó khăn trong cuộc sống do dịch Covid-19 gây ra. Cụ thể:

- Toàn tỉnh đã tổ chức họp mặt, thăm và tặng 255.968 phần quà (năm 2020 là 256.532 phần quà) cho người có công với cách mạng và các đối tượng chính sách - xã hội khác với tổng kinh phí 117.050,55 triệu đồng (năm 2020 là 106.683,63 triệu đồng), tăng hơn 10.000 triệu đồng so với Tết Nguyên đán năm 2020. Bình quân mỗi đối tượng thụ hưởng mức quà gần 1.700.000 đồng (tăng gần 200.000 đồng so với năm 2020). Mức quà cơ bản là 500.000 đồng/phần.

- Thực hiện trợ cấp hàng tháng cho 101.464 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 39.028,59 triệu đồng. Hỗ trợ mai táng phí cho 524 trường hợp với số tiền 2.829,6 triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho 04 trường hợp với số tiền 20,4 triệu đồng.

Về thực hiện chính sách đối với người có công: Tiếp nhận mới 574 hồ sơ các loại. Đã xét giải quyết 521 hồ sơ. Trong đó, đạt 418 hồ sơ; không đạt 103 hồ sơ. Còn lại 53 hồ sơ đang tiếp tục xem xét, giải quyết; giới thiệu 15 trường hợp người có công với cách mạng ra Hội đồng Giám định y khoa tỉnh khám giám định tỷ lệ bị nhiễm chất độc hóa học và vết thương còn sót. Nhìn chung, công tác thực hiện chính sách người có công luôn được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo sâu sát, kịp thời, nhất là việc triển khai tổ chức thực hiện các quy định mới về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, công tác rà soát thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công.

7.4. Y tế

Trong tháng, có 10 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, tăng 07 ca so với tháng trước, cộng dồn là 26 ca, giảm 25 ca so với cùng kỳ; bệnh tay chân miệng có 38 ca mắc mới, tăng 02 ca so với tháng trước, cộng dồn là 158, tăng 95 ca so với cùng kỳ; bệnh sởi, bệnh dịch lạ, bệnh viêm gan do virut, quai bị và các bệnh truyền nhiễm khác chưa ghi nhận ca mắc trên địa bàn.

Hiện tại tỉnh Hậu Giang chưa phát hiện có ca mắc dịch bệnh Covid-19. Sở Y tế đã triển khai đầy đủ, kịp thời tất cả các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và các văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế về phòng, chống dịch Covid-19 đến các đơn vị trực thuộc để tổ chức thực hiện. Sở Y tế đã triển khai thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh chủ động, hạn chế thấp nhất sự lây lan của dịch bệnh, không có trường hợp mắc dịch bệnh Covid-19. Tham mưu Ban chỉ đạo tỉnh triển khai các giải pháp phòng chống và điều trị dịch bệnh Covid-19, phối hợp với các đơn vị có liên quan triển khai tốt công tác quản lý và cách ly người nước ngoài về địa bàn tỉnh (có liên quan đến dịch bệnh). Thực hiện tốt công tác tuyên truyền về công tác phòng, chống dịch, tập trung truyền thông về thực hiện thông điệp 5K: “ Đeo khẩu trang - Khử khuẩn - Giữ khoảng cách - Không tập trung - Khai báo Y tế”. Thường xuyên theo dõi, cập nhật thông tin về tình hình dịch bệnh, khuyến cáo phòng, chống dịch bệnh Covid-19 trên Cổng thông tin điện tử Bộ Y tế và Báo Sức khỏe và Đời sống. Triển khai ứng dụng “Sức Khỏe Việt Nam” cho toàn thể công chức, viên chức và người lao động trong ngành Y tế, hướng dẫn người dân sử dụng Ứng dụng “Sức khỏe Việt Nam”.

Trong tháng, số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ là 921 trẻ, cộng dồn là 2.631 trẻ, đạt 23,24%; tiêm sởi mũi 2 là 946 trẻ, cộng dồn là 2.721 trẻ, đạt 23,74%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) là 887 thai phụ, cộng dồn là 2.578 thai phụ, đạt 22,77%; số nhiễm HIV mới phát hiện 01 ca, cộng dồn là 14 ca (giảm 02 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.834 ca (người còn sống 1.228 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện là 0 ca, cộng dồn là 01 ca (giảm 02 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.044 ca; số bệnh nhân tử vong do AIDS là 0 ca, cộng dồn là 01 ca (giảm 02 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 606 ca. Số người hiện đang điều trị Methadone là 66 người, tổng số bệnh nhân điều trị ARV là 872 người (trong tỉnh: 788 người, ngoài tỉnh: 84 người).

Vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm được các ngành chức năng quan tâm thực hiện tốt, thường xuyên thanh, kiểm tra các cơ sở chế biến thực phẩm trên địa bàn tỉnh nên trong tháng không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm trên 30 người/vụ.

7.5. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Trong tháng 3/2021, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 07 vụ tai nạn giao thông, làm chết 06 người và làm bị thương 01 người. So với tháng trước tương đương về số vụ, số người chết và số người bị thương. So với cùng kỳ năm trước tăng 05 vụ, số người chết tăng 04 người, số người bị thương giảm 01 người (tất cả đều tập trung ở đường bộ).

Trong quý I/2021 (tính từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/03/2021), toàn tỉnh xảy ra 18 vụ tai nạn giao thông, làm chết 15 người và làm bị thương 03 người. So với cùng kỳ năm trước, tăng 07 vụ, số người chết tăng 07 người và số người bị thương tương đương (tất cả đều tập trung ở đường bộ). Nguyên nhân do chuyển hướng không đảm bảo an toàn, không chú ý quan sát, nồng độ cồn và không làm chủ được tay lái.

7.6. Tình hình thiệt hại do thiên tai, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Ngành chức năng tiếp tục giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các cơ sở có thông tin phản ánh để kịp thời xử lý theo quy định. Trong quý, ngành chức năng phát hiện 17 vụ vi phạm môi trường và đã xử lý 16 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 378,5 triệu đồng.

Tình hình xâm nhập mặn: Hiện mặn đã xâm nhập vào địa bàn thành phố Vị Thanh với nồng độ mặn cao nhất đo được từ ngày 01/03/2021 - 18/03/2021 tại Ngã ba Nước trong, xã Hỏa Tiến  là 7,2‰; tại đầu kênh 10 Thước, huyện Long Mỹ là 6,4‰, tại cống Hóc Pó là 8‰. Hiện, Ngành chức năng thường xuyên theo dõi tình hình xâm nhập mặn trên địa bàn huyện Long Mỹ, Phụng Hiệp, Châu Thành, thị xã Long Mỹ và thành phố Vị Thanh mỗi ngày một lần, kịp thời thông báo đến người dân để chủ động phòng chống và bảo vệ nông sản.

Về tình hình sạt lở: Trong tháng xảy ra 03 điểm điểm sạt lở, lũy kế đến nay xảy ra 08 điểm sạt lở (huyện Châu Thành  07 điểm, thành phố Ngã Bảy 01 điểm). Chiều dài sạt lở: 197 m, diện tích mất đất 1.073 m2, ước thiệt hại 387 triệu đồng.

Về công tác phòng, chống cháy, nổ luôn được các ngành chức năng quan tâm thực hiện, định kỳ có kiểm tra, hướng dẫn người dân, các cơ sở kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy, nên trong quý không xảy ra cháy, nổ trên địa bàn tỉnh./.

[[1]] Nguyên nhân vốn ngân sách tăng so với tháng trước là do triển khai nhanh việc lập hồ sơ, thủ tục các dự án mới đã bố trí vốn bổ sung từ đầu năm 2021; chủ đầu tư đẩy nhanh việc đền bù, giải phóng mặt bằng, đấu thầu, chủ động tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, bảo đảm tiến độ thi công các công trình, tạo điều kiện thuận lợi cho các DN hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh.

[[2]] Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng giảm so với quý trước là do: Các DN ngưng hoạt động nghỉ Tết Nguyên đán, chủ đầu tư đang bổ sung lập hồ sơ, thủ tục các dự án mới đã bố trí vốn chưa được triển khai; quý I/2021 chưa triển khai thực hiện chiến dịch giao thông nông thôn và thủy lợi mùa khô năm 2021 nên không làm tăng giá trị sản xuất ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh.

[[3]] Cụ thể một số ngành chiếm tỷ trọng lớn có giá trị tăng trưởng cao như: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 62,39%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 22,38%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 39,44%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 12,91%; sản xuất giường, tủ bàn, ghế tăng 22,13%...  

[[4]] Cụ thể một số ngành tăng như: Sản xuất đồ uống tăng 71,37%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 74,49%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 15,41%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 7,03%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 22,20%...

[[5]] Nguyên nhân do ngành xuất khẩu gạo đang rất thuận lợi do giá gạo tăng liên tục, nguồn nguyên liệu dồi dào, Hậu Giang đang vào vụ thu hoạch lúa Đông Xuân.

[[6]] Nguyên nhân do DN tăng sản lượng sản xuất, để đáp ứng nhu cầu của các hộ nông dân tái đàn gia súc do giá lợn hơi tăng cao.

[[7]] Nguyên nhân do là tháng sau Tết nên hầu hết doanh thu các nhóm hàng hóa đều giảm, cụ thể như: Nhóm lương thực, thực phẩm giảm 9,48%; Nhóm đồ dùng, trang thiết bị gia đình giảm 9,1%; Xăng, dầu các loại giảm 9,62% do nhu cầu vận chuyển hàng hóa, nhu cầu đi lại không còn cao như tháng tết; Nhóm hàng hóa khác giảm 15,69%; …