Tháng 4
03:59 30/04/2021

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hậu Giang tháng 4 năm 2021 

 

           Trong tháng 4/2021, nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh Hậu Giang phát triển khá hơn so với cùng kỳ năm trước, do tháng 4 năm nay tình hình dịch Covid-19 đã được kiểm soát tốt, là tháng diễn ra nhiều lễ hội nên làm cho các chỉ tiêu kinh tế duy trì ở mức tăng trưởng khá cao so với cùng kỳ năm trước như: Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,17%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 56,48%; trị giá hàng hóa xuất khẩu tăng 2,37%; trị giá hàng hóa nhập khẩu tăng 18%; doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 31,84%. Cụ thể kết quả hoạt động của từng ngành, lĩnh vực như sau:

1. Tài chính, tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu Ngân sách nhà nước tháng 4/2021 được 582,76 tỷ đồng, luỹ kế được 5.222,60 tỷ đồng, đạt 66,88% dự toán Trung ương, đạt 66,30% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Trung ương trợ cấp được 318,86 tỷ đồng, luỹ kế được 1.421,44 tỷ đồng, đạt 35,23% dự toán Trung ương và Hội đồng nhân dân tỉnh giao; thu nội địa được 256,84 tỷ đồng, luỹ kế được 1.871,60 tỷ đồng, đạt 56,25% dự toán Trung ương và dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi Ngân sách địa phương tháng 4/2021 được 477,14 tỷ đồng, luỹ kế được 2.860,80 tỷ đồng, đạt 41,19% dự toán Trung ương giao, đạt 41,32% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Chi xây dựng cơ bản được 235,81 tỷ đồng, luỹ kế được 1.417,62 tỷ đồng, đạt 50,40% dự toán Trung ương giao, đạt 51,13% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; chi thường xuyên được 241,33 tỷ đồng, luỹ kế được 1.429,58 tỷ đồng, đạt 35,59% dự toán Trung ương giao, đạt 35,43% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 31/3/2021, tổng vốn huy động toàn địa bàn là 15.909 tỷ đồng, tăng trưởng 0,84% so với cuối tháng 02/2021, tương ứng giảm 0,46% so với cuối năm 2020. Vốn huy động đáp ứng được 56,61% cho hoạt động tín dụng. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước huy động được 10.255 tỷ đồng (chiếm 64,46%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 4.926 tỷ đồng (chiếm 30,96%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 687 tỷ đồng (chiếm 4,32%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 41 tỷ đồng (chiếm 0,26%). Hiện, lãi suất không kỳ hạn đến dưới 1 tháng phổ biến từ 0,1-0,2%/năm; lãi suất từ 01 tháng đến dưới 06 tháng ở mức 3,5-4,0%/năm; lãi suất từ 06 tháng đến dưới 12 tháng ở mức 4,9-5,1%/năm; lãi suất từ 12 tháng trở lên ở mức 6,0-6,5%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 4/2021, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn đạt 16.049 tỷ đồng, tăng trưởng 0,88% so với cuối tháng 3/2021, tương ứng tăng trưởng 0,42% so với cuối năm 2020.

Đến ngày 31/3/2021, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn là 28.104 tỷ đồng, tăng trưởng 3,48% so với cuối tháng 02/2021, tương ứng tăng trưởng 5,05% so với cuối năm 2020. Trong tổng dư nợ thì khối Ngân hàng hàng Thương mại nhà nước được 19.739 tỷ đồng (chiếm 70,24); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần là 5.653 tỷ đồng (chiếm 20,11%); Ngân hàng Chính sách xã hội là 2.668 tỷ đồng (chiếm 9,49%) và Quỹ tín dụng Nhân dân là 44 tỷ đồng (chiếm 0,16%).  Hiện, lãi suất cho vay luôn được giữ ở mức ổn định, đối với các lĩnh vực ưu tiên lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam phổ biến là 4,5%/năm; cho vay trung, dài hạn ở mức 10 -11%/năm; các lĩnh vực khác lãi suất cho vay ngắn hạn từ 9,0 - 9,5%/năm; trung, dài hạn từ 10,5 - 13%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 4/2021, dư nợ đạt 28.194 tỷ đồng, tăng trưởng 0,32% so với cuối tháng 3/2021, tương ứng tăng trưởng 5,39% so với cuối năm 2020.

Nợ quá hạn đến ngày 31/3/2021 là 844 tỷ đồng, chiếm 3% trên tổng dư nợ; nợ xấu là 437 tỷ đồng, chiếm 1,55% trên tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 407 tỷ đồng, chiếm 48,22% trên tổng nợ quá hạn. Dự báo đến cuối tháng 4/2021, nợ xấu toàn địa bàn vẫn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.

2. Vốn đầu tư

         Tính đến ngày 19/4/2021, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh năm 2021 là 16.225,66 tỷ đồng,  bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.299,66 tỷ đồng.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.020 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà nước: 12.906 tỷ đồng.

        Ước tính tháng 4/2021, vốn đầu tư thực hiện được 1.554 tỷ đồng, bằng 88,77% so với cùng kỳ năm trước và bằng 105%[[1]] so với tháng trước.

        Ước tính 4 tháng, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh thực hiện được 5.889,93 tỷ đồng, bằng 91,61% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 37,37% so với kế hoạch năm. Chia ra:

- Vốn ngân sách nhà n­ước thực hiện được 572,47 tỷ đồng, bằng 96,46% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 31,17% so với kế hoạch năm.

- Vốn tự có của doanh nghiệp nhà n­ước và Trung ương đầu tư trên địa bàn thực hiện đ­ược 347,83 tỷ đồng, bằng 50,28% so với cùng kỳ năm trước và đạt 34,10% so với kế hoạch năm.                 

- Vốn đầu t­ư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các doanh nghiệp ngoài nhà n­ước có khối lượng thực hiện được 4.969,63 tỷ đồng, bằng 96,61% so với cùng kỳ năm tr­ước và đạt 38,51% so với kế hoạch năm.

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Nhìn chung, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong 4 tháng đầu năm 2021, chủ yếu tập trung vào công tác thu hoạch lúa đông xuân, xuống giống vụ lúa hè thu và phòng ngừa dịch bệnh gây hại trên cây trồng; thường xuyên kiểm tra mực nước, độ mặn, theo dõi diễn biến tình hình xâm nhập mặn cảnh báo kịp thời đến người dân, thực hiện các giải pháp chống hạn, xâm nhập mặn cho lúa và các loại cây trồng khác; phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm; chăm sóc và bảo vệ rừng, tuyên truyền nâng cao ý thức người dân về phòng chống cháy rừng; hướng dẫn, hỗ trợ người dân khai thác các lợi thế tự nhiên, kết hợp đồng bộ các giải pháp phát triển nuôi thủy sản theo hướng sản xuất hiệu quả và bền vững. Kết quả cụ thể từng lĩnh vực như sau:

3.1. Trồng trọt

Lúa Đông xuân 2020-2021: Chính thức toàn tỉnh đã xuống giống được 77.022 ha, bằng 100,55% so với kế hoạch tỉnh (kế hoạch 76.600 ha), so với cùng kỳ giảm 1,03% (bằng 798 ha). Một số giống sử dụng chủ yếu là: OM18 chiếm 28,24% với tổng diện tích trồng là 21.747,7 ha; Đài thơm 8 chiếm 22,92% với diện tích trồng là 17.653,9 ha; OM5451 chiếm 19,03% với diện tích trồng là 14.658,1 ha; RVT chiếm 17,07% với diện tích trồng là 13.144,4 ha; ST24 chiếm 5,17% với diện tích trồng là 3.978,4 ha; IR50404 chiếm 3,6% với diện tích trồng là 2.774,2 ha, còn lại là các giống khác như: ST25, Jasmine 85, OM6976,... Diện tích lúa đã thu hoạch được 64.149 ha. Năng suất cả vụ sơ bộ đạt 78,09 tạ/ha, tăng 1,99% (bằng 1,52 tạ/ha) so với cùng kỳ. Sản lượng lúa sơ bộ được 601.462 tấn, tăng 0,94% (bằng 5.593 tấn) so với cùng kỳ.

Lúa Hè thu: Hiện nay đã xuống giống được 26.284 ha, phân bố ở các huyện Châu Thành A, Phụng Hiệp, Vị Thủy, Long Mỹ và thành phố Vị Thanh. Lúa đang ở giai đoạn mạ đến đẻ nhánh, sinh trưởng và phát triển tốt. Các giống được sử dụng chủ yếu như: OM18, OM5451, Đài Thơm 8,…

Mía niên vụ 2020 - 2021: Hiện nay đã xuống giống được 5.040 ha, giảm 14,7% (bằng 869 ha) so với cùng kỳ. Phân bố ở huyện Phụng Hiệp và thành phố Ngã Bảy. Hiện đang ở giai đoạn từ 02 đến 04 tháng tuổi. Các giống sử dụng chủ yếu như: Roc 16, K88-92, KK3, Roc 22,.... Trong tháng có 109 ha nhiễm sinh vật gây hại (tăng 22 ha so với tháng trước) gồm: Chuột 25 ha, rệp sáp 22 ha, sâu đục thân 37 ha, rầy đầu vàng 10 ha, rỉ sắt 15 ha, đa số là gây hại nhẹ ở giai đoạn mía nảy chồi, vươn lóng.

Cây ngô: Diện tích gieo trồng toàn tỉnh được 1.453 ha, so cùng kỳ năm trước giảm 1,28% (bằng 19 ha); diện tích thu hoạch 974 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 5,83% (bằng 54 ha).

Cây rau các loại: Tính đến nay diện tích gieo trồng được 12.054 ha, so với năm trước tăng 9,68% (bằng 1.064 ha); diện tích thu hoạch 8.440 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 4,99% (bằng 401 ha).

- Một số cây lâu năm ăn quả chủ yếu:

+ Cây dứa (khóm): Diện tích hiện có 2.794,8 ha, tăng 2,5% (bằng 68,2 ha), sản lượng 8.465,14 tấn, tăng 1,07% (bằng 89,3 tấn) so với cùng kỳ.

+ Cây mít: Diện tích hiện có 7.145,4 ha, tăng 2,58% (bằng 179,7 ha), sản lượng 6.278,75 tấn, tăng 3,07% (bằng 186,8 tấn) so với cùng kỳ.

Nhìn chung, tình hình dịch bệnh đang được kiểm soát tốt và ngăn chặn kịp thời, hiện nay ngành Nông nghiệp đề nghị bà con thường xuyên thăm đồng phát hiện sinh vật gây hại để có biện pháp xử lý kịp thời như: phòng chống sâu cuốn lá, bệnh rầy nâu, đạo ôn cổ bông,…cần xử lý theo nguyên tắc 4 đúng để đạt hiệu quả cao.

3.2. Chăn nuôi

Hiện nay tình hình chăn nuôi ổn định và thuận lợi, dịch bệnh được kiểm soát tốt, đàn gia súc, gia cầm được hộ dân phát triển tái đàn. Vì vậy, ước tính đến tháng 4/2021, số đầu con gia súc, gia cầm so với cùng kỳ cụ thể như sau:

- Đàn trâu, bò: Đàn trâu ước được 1.498 con, tăng 3,17% (bằng 46 con); đàn bò ước được 3.608 con, giảm 0,3% (bằng 11 con).

- Đàn heo (không tính heo con chưa tách mẹ): Ước được 103.556 con, tăng 14,61% (bằng 13.202 con)[[2]]. Trong đó: Heo thịt được 90.576 con, tăng 14,44% (bằng 11.428 con).

- Đàn gia cầm: 4.317,31 ngàn con, tăng 5,78% (bằng 236,07 ngàn con)[[3]]. Trong đó: đàn gà 1.587,83 ngàn con, tăng 17,15% (bằng 232,46 ngàn con).

3.3. Lâm nghiệp

Tình hình hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng chủ yếu tập trung cho công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; gieo ươm cây giống chuẩn bị cho công tác trồng trong mùa mưa. Xây dựng kế hoạch trồng cây phân tán trên địa bàn tỉnh Hậu Giang giai đoạn 2021-2025 theo Đề án “Trồng 1 tỷ cây xanh góp phần phát triển bền vững đất nước, giai đoạn 2021-2025 của Chính phủ”.

Công tác phòng cháy chữa cháy rừng: Các ngành chức năng thường xuyên kiểm tra công tác phòng cháy chữa cháy rừng trong mùa khô năm 2021. Chỉ đạo kiểm lâm trên địa bàn thực hiện công tác tuyên truyền phòng cháy chữa cháy rừng bằng nhiều hình thức như : Họp dân tuyên truyền, phối hợp với Nhà trường tuyên truyền cho học sinh, phát tờ rơi và tuyên truyền trên hệ thống loa phát thanh cấp xã,.. Từ đầu năm đến nay, công tác phòng cháy chữa cháy rừng được đảm bảo nên không xảy ra vụ cháy rừng nào trên địa bàn tỉnh.

Công tác bảo vệ và quản lý rừng: Công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát, khai thác rừng đảm bảo đúng quy định; công tác phòng chống cháy rừng được quán triệt và làm tốt nên diện tích rừng được bảo vệ an toàn. Các ngành chức năng thường xuyên theo dõi, tổ chức ứng trực cháy rừng hằng ngày kể cả thứ bảy, chủ nhật, cập nhật diễn biến rừng hàng tháng kịp thời tiếp nhận thông tin và báo cáo theo quy định. Phối hợp với Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng và Trung tâm Nông nghiệp Mùa Xuân tuần tra bảo vệ rừng, bảo vệ Vườn chim hoang dã, kết hợp với các địa phương theo dõi tình hình lấn chiếm đất rừng, giám sát việc khai thác rừng trồng trên đất khoán của các hộ dân trong Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng.

Ước tính tháng 4/2021, sản lượng gỗ khai thác được 1.043 m3, tăng 0,2% (bằng 2 m3), sản lượng củi khai thác được 9.462 ste, giảm 1,07% (bằng 102 ste) so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng, sản lượng gỗ khai thác được 4.241 m3, tăng 0,19% (bằng 9 m3 ) và sản lượng củi khai thác được 40.654 ste, giảm 0,24% (bằng 96 ste) so với cùng kỳ. Sản lượng củi khai thác giảm so với cùng kỳ là do có nguồn nguyên liệu đốt thay thế như: gas, trấu,… phù hợp và thuận tiện trong sinh hoạt của người dân.

3.4. Thủy sản

Ước tính tháng 4/2021, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh được 74,09 ha, tăng 1,63% (bằng 1,19 ha) so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 4 tháng, diện tích nuôi thủy sản được 2.102,04 ha, đạt 25,95% so kế hoạch năm (8.100 ha) và tăng 2,13% (bằng 43,73 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Tổng sản lượng thủy sản tháng 4/2021 ước được 5.437,72 tấn, tăng 2,66% (bằng 140,87 tấn) so với cùng kỳ. Ước tính 4 tháng được 22.893,53 tấn, đạt 28,66% so kế hoạch năm (80.000 tấn), tăng 2,83% (bằng 630,43 tấn) so với cùng kỳ. Trong đó:

- Sản lượng thủy sản khai thác tháng 4/2021 được 265,82 tấn, giảm 2,61% (bằng 7,11tấn) so cùng kỳ. Ước tính 4 tháng được 1.018,35 tấn, giảm 1,81% (bằng 18,78 tấn) so cùng kỳ. Hiện đang vào cao điểm mùa khô nên nguồn lợi thủy sản khai thác cũng sụt giảm.

- Sản lượng thủy sản nuôi trồng tháng 4/2021 được 5.171,90 tấn, tăng 2,95% (bằng 147,98 tấn) so cùng kỳ. Ước tính 4 tháng được 21.875,18 tấn, tăng 3,06% (bằng 649,21tấn) so cùng kỳ.

Nhìn chung, tình hình nuôi trồng thủy sản chưa có nhiều chuyển biến tích cực do ảnh hưởng của dịch Covid-19 ở các nước nhập khẩu, đặc biệt là xuất khẩu cá tra. Vì vậy, cần tiếp tục theo dõi diễn biến thị trường tiêu thụ thủy sản, tình hình xâm nhập mặn để có biện pháp xử lý kịp thời. Trên địa bàn tỉnh mô hình nuôi lươn bể bồn đang phát triển mạnh do mang lại lợi nhuận cao cho người nuôi. Hiện tại, mô hình nuôi lươn đồng thương phẩm tại thành phố Ngã Bảy và huyện Châu Thành đang phát triển tốt.

4. Tình hình sản xuất công nghiệp

Trong những tháng gần đây, lĩnh vực sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã có nhiều tín hiệu khả quan với những dự án mới đi vào hoạt động, các ngành chức năng xây dựng nhiều chính sách hỗ trợ và tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển, cộng đồng doanh nghiệp trong tỉnh đã không ngừng lớn mạnh, đóng góp tích cực vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, giải quyết nhiều việc làm cho người lao động và đảm bảo an sinh xã hội.

Ước tính tháng 4/2021, giá trị sản xuất công nghiệp: Tính theo giá so sánh 2010, được 2.327,48 tỷ đồng, tăng 7,80% so với tháng trước và tăng 11,20% so với cùng kỳ năm trước; tính theo giá thực tế, được 3.392,07 tỷ đồng, tăng 6,74% so với tháng trước và tăng 11,56% so với cùng kỳ năm trước.

Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 2 khu công nghiệp, 6 cụm công nghiệp tập trung, đã thu hút được 62 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 73.484 tỷ đồng vốn trong nước và trên 3.799,6 triệu USD vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Trong đó, những doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (có 53 doanh nghiệp trong khu công nghiệp và 124 doanh nghiệp ngoài khu công nghiệp) đã đóng góp tổng giá trị trên 3.342,17 tỷ đồng (theo giá thực tế), chiếm tỷ trọng trên 98,53% trong tổng giá trị của toàn tỉnh và tăng 11,30% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu là do các doanh nghiệp lớn sau thời gian đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định và có tăng sản lượng trong những tháng vừa qua, nên làm tăng giá trị sản xuất một số ngành như: Xay xát và sản xuất bột thô (tăng 16,11%); sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản (tăng 47,98%); sản xuất đồ uống (tăng 24,89%); may trang phục (tăng 34,81%); sản xuất giày dép (tăng 23,57%); sản xuất hóa chất (tăng 45,23%); sản xuất điện (tăng 36,80%),.... Vì vậy, giá trị sản xuất công nghiệp chung của toàn tỉnh tăng so với cùng kỳ.

Ước tính 4 tháng, giá trị sản xuất công nghiệp: Tính theo giá so sánh 2010, được 8.265,69 tỷ đồng, tăng 11,58% so với cùng kỳ năm trước và đạt 26,06% so với kế hoạch năm; tính theo giá thực tế, được 11.969,21 tỷ đồng, tăng 13,28% so với cùng kỳ năm trước và đạt 25,88% so với kế hoạch năm. Trong đó:

- Khu vực kinh tế nhà nước, có 2 doanh nghiệp đóng góp giá trị sản xuất 109,23 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,91% trong toàn ngành và tăng 21,25% so với cùng kỳ.

- Khu vực kinh tế tư nhân, có 186 doanh nghiệp và trên 4.644 cơ sở cá thể công nghiệp, đóng góp giá trị sản xuất 8.564,65 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 71,56% trong toàn ngành và tăng 18,60% so với cùng kỳ.

- Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, có 8 doanh nghiệp và đóng góp giá trị sản xuất 3.295,31 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 27,53% trong toàn ngành và tăng 1,26% so với cùng kỳ.

Qua các số liệu trên cho thấy giá trị sản xuất công nghiệp tiếp tục có xu hướng tăng, nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về giá, thị trường xuất khẩu và một số yếu tố khác như: Điện, xăng dầu và một phần bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19. Do vậy, các doanh nghiệp cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cũng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các doanh nghiệp đang đầu tư sớm đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của doanh nghiệp đã đề ra như: Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1; Cty TNHH Sunpro Capital Group Limited,… để giá trị sản xuất công nghiệp tăng cao trong những tháng tới và phát triển ổn định trong những năm tiếp theo.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính tháng 4/2021, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 5,02% so với tháng trước và tăng 14,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:

- Ngành công nghiệp chế bến chế tạo: Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn ngành (trên 98,53%) về giá trị, tăng 5% so với tháng trước và tăng 14,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số ngành chiếm tỷ trọng lớn nhưng có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành như:

+ Ngành sản xuất chế biến thực phẩm, chiếm tỷ trọng trên 40,67% trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo, tăng 6,95% so với tháng trước và tăng 11,82% so với cùng kỳ. Vì vậy, sự tăng hay giảm của các doanh nghiệp trong ngành này ảnh hưởng rất lớn đến tình hình tăng trưởng chung của toàn ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Cụ thể: Ngành xay xát và sản xuất bột thô tăng 6,15% so với tháng trước và tăng 16,11% so với cùng kỳ năm trước[[4]]; sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 0,45% so với tháng trước và tăng 47,98% so với cùng kỳ năm trước[[5]].

+ Ngành sản xuất đồ uống  tăng 4,35% so với tháng trước và tăng 82,07% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Cty TNHH Number one Hậu Giang, với sản phẩm chính là các loại nước uống không cồn đóng chai, doanh nghiệp đã tạo dựng được thương hiệu và thị trường tiêu thụ ổn định, sản lượng sản xuất tăng 45,01%, tương đương tăng 3,47 triệu lít so với cùng kỳ, nên chỉ số sản xuất công nghiệp ngành này tăng cao so với cùng kỳ.

+ Chỉ số sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất, chiếm tỷ trọng 5,34% trong toàn ngành, tăng 13,65% so với tháng trước và tăng 96,22% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do Công ty TNHH Hóa Nông Lúa Vàng Hậu Giang, với sản phẩm chính là thuốc bảo vệ thực vật các loại, tăng sản lượng sản xuất, đáp ứng nhu cầu sử dụng để người nông dân xuống giống sản xuất vụ lúa Hè thu năm 2021, nên sản lượng của doanh nghiệp này tăng trên 300% so với cùng kỳ năm trước.

- Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí: chiếm tỷ trong trên 0,87% về giá trị trong toàn ngành, tăng 17,29% so với tháng trước và tăng 14,19% so với cùng kỳ năm trước. Ngành điện đã hoạt động ổn định, cung cấp đủ điện một cách an toàn, hiệu quả cho người dân và các doanh nghiệp được hoạt động liên tục, ổn định, đảm bảo hạn chế không để xảy ra tình trạng mất điện. Ngoài ra, do hiện nay là cao điểm của đợt nóng nên nhu cầu sử dụng điện của các hộ gia đình, cơ quan, xí nghiệp tăng, nên chỉ số truyền tải phân phối điện tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, tăng một phần là do dự án điện mặt trời VKT- Hòa An công suất thiết kế 32 Mw đã chính thức đi vào hoạt động, sản lượng điện sản xuất được 35,12 triệu kwh góp phần làm tăng giá trị ngành này so với cùng kỳ.

- Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải: chiếm tỷ trọng 0,60% về giá trị trong toàn ngành, tăng 1,02% so với tháng trước và tăng 15,82% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 07 doanh nghiệp hoạt động trong ngành này, đã hoàn thiện các tuyến đường ống dẫn nước từ thành thị đến nông thôn, để đảm bảo cung cấp đầy đủ nước sạch phục vụ tốt nhất việc sản xuất kinh doanh và sinh hoạt cho người dân. Vì vậy, sản lượng sản xuất nước sạch dự tính tháng 4/2021 được 1.171,75 ngàn M3, tăng 78,12 ngàn M3 so với cùng kỳ.

Dự tính 4 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,66% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số ngành có mức tăng trưởng cao hơn mức tăng chung của toàn ngành so với cùng kỳ như: Xay xát và sản xuất bột thô (tăng 12,78%); sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thuỷ sản (tăng 45,92%); sản xuất đồ uống (tăng 75,69%); chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (tăng 17,37%); sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất (tăng 26,92%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic (tăng 17,60%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (tăng 13,79%),.… Nguyên nhân là do sau thời gian nghỉ Tết người lao động trở lại nơi làm việc gần như tuyệt đối (chỉ số sử dụng lao động tăng 1,72% so với cùng kỳ) nên các doanh nghiệp sớm đi vào hoạt động ổn định và tăng sản lượng sản xuất để hoàn thành các hợp đồng đã ký. Ngoài ra, tăng một phần là do các nhà máy chế biến chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh. Đặc biệt, tỉnh đang ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến nông - thuỷ sản có lợi thế cạnh tranh và sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ như: Xay xát lúa; sản xuất trái cây đóng hộp; chế biến trà mãng cầu; chế biến cá thát lác,.… Các sản phẩm này có khả năng xuất khẩu và giải quyết được nhiều việc làm cho xã hội mang đến thu nhập cho người dân. Vì vậy, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng so với cùng kỳ.

5. Hoạt động thương mại, dịch vụ

5.1. Bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Tình hình kinh doanh mua bán và dịch vụ ước tháng 04/2021 có nhiều chuyển biến tích cực so với tháng trước và cùng kỳ do dịch bệnh Covid-19 trong nước đã được kiểm soát tốt; hoạt động sản xuất, kinh doanh các ngành diễn ra bình thường. Trong tháng có nhiều ngày lễ, Tết: Giỗ tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), Tiết Thanh minh, Tết Chôl Chnăm Thmây của đồng bào dân tộc Khmer (14-16/4), kỳ nghỉ mừng ngày giải phóng Miền Nam thống nhất đất nước (30/4) người lao động được nghỉ kéo dài nên nhu cầu mua sắm, ăn uống, vui chơi giải trí tăng so với tháng trước.

Ước tính tháng 4/2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 3.683,35 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh là 302,17 tỷ đồng), so với thực hiện tháng trước bằng 100,22% và so với cùng kỳ năm trước bằng 156,48%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa được 2.784,19 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 100,13% và so với cùng kỳ năm trước bằng 143,29%. Cụ thể:

+ Lương thực, thực phẩm được 711,23 tỷ đồng, so tháng trước tăng 0,69%, do trong tháng có nhiều ngày nghỉ lễ,người dân sum họp gia đình, tổ chức ăn uống và đám tiệc nên nhu cầu tiêu dùng lương thực, thực phẩm tăng. Bên cạnh đó, giá cả một số mặt hàng nông sản như: thịt heo, gạo, rau xanh tăng và ổn định ở mức cao.

+ Hàng may mặc được 194,15 tỷ đồng, so tháng trước tăng 2,65%, do nhu cầu mua sắm tăng trong dịp nghỉ lễ và trong tháng diễn ra Hội chợ thương mại tổng hợp tại thị xã Long Mỹ, thành phố Vị Thanh tiếp tục kích cầu tiêu dùng sau thời gian dài do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19.

+ Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình được 373,76 tỷ đồng so với tháng trước giảm 1,43%. Đây là nhóm hàng hóa thông thường sức mua tăng mạnh trong những tháng đầu năm, tuy nhiên năm nay sức mua khá yếu do ảnh hưởng một phần của dịch Covid-19 nên thu nhập của người dân giảm.

+ Vật phẩm văn hóa, giáo dục dự tính được 32,46 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 1,16%. Hiện, học sinh, sinh viên đang tích cực học tập chuẩn bị bước vào các kỳ thi cuối năm học nên nhu cầu mua sắm đồ dùng học tập có xu hướng tăng.

+ Gỗ và vật liệu xây dựng được 492,62 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 3,15% do nhu cầu xây dựng trên địa bàn tỉnh tăng và giá cả vật liệu xây dựng (cát xây, đá, sắt, thép,…) tăng phổ biến từ 10-20%.

+ Phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) được 118,07 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 3,37%. Nhu cầu mua sắm phương tiện đi lại có xu hướng tăng do các cửa hàng, đại lý thực hiện nhiều chương trình khuyến mãi giảm giá, quà tặng đến khách hàng; phương thức thanh toán linh hoạt nên việc mua sắm dễ dàng, thuận lợi hơn góp phần kích cầu tiêu dùng của người dân.

+ Xăng dầu các loại được 419,03 tỷ đồng, so tháng trước giảm 2,11% do giá xăng dầu được điều chỉnh giảm (ngày điều chỉnh 12/4). Nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) dự tính 48,54 tỷ đồng, so tháng trước giảm 2,43% do giá gas giảm.

+ Đá quý, kim loại quý được 64,12 tỷ đồng, so tháng trước giảm 1,37% do giá vàng giảm và nhu cầu người dân giảm sau Tết.

+ Hàng hóa khác dự tính được 284,80 tỷ đồng, so tháng trước giảm 3,88% do sức mua giảm.

+ Doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác được 40,72 tỷ đồng, so với tháng trước tăng 5,59%.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 558,39 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 100,20% và so với cùng kỳ năm trước bằng 228,70%. Trong tháng người lao động được nghỉ nhiều ngày lễ nên nhu cầu du lịch, lưu trú, ăn uống tăng so với tháng trước; so với cùng kỳ tăng cao (128,70%) là do tháng 4/2020 nhiều cơ sở lưu trú, ăn uống tạm ngừng hoạt động do ảnh hưởng của dịch Covid-19 và giản cách xã hội phòng chống dịch bệnh trong 15 ngày. Cụ thể: Ngành lưu trú, ước tính được 11,28 tỷ đồng, so tháng trước tăng 6,77%, so cùng kỳ tăng 146,29%; Ngành ăn uống, ước tính được 547,11 tỷ đồng, so tháng trước tăng 0,08%, so cùng kỳ tăng 128,37%.

- Doanh thu dịch vụ khác được 340,76 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 100,99% và so với cùng kỳ năm trước bằng 204,43%. Trong tháng một số ngành dịch vụ tăng so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ (tăng 104,43%) là do tháng 4/2020 ảnh hưởng của dịch Covid-19 và thực hiện giản cách xã hội nên hoạt động xổ số ngừng phát hành (doanh thu hoạt động xổ số chiếm tỷ trọng khoảng 70%). Cụ thể một số ngành dịch vụ tăng so với tháng trước: Dịch vụ kinh doanh bất động sản ước tăng 5,97%; dịch vụ vui chơi giải trí tăng 1,86%; dịch vụ khác tăng 1,05%.

Ước tính 4 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 15.336,90 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tỉnh là 1.295,29 tỷ đồng), so với cùng kỳ năm trước bằng 118,29%. Trong đó:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa được 11.642,07 tỷ đồng, so với cùng kỳ bằng 115,13%. Tuy những tháng đầu tổng mức bán lẻ có tốc độ tăng ổn định nhưng so với cùng kỳ tốc độ tăng là khá cao (15,13%), do cùng kỳ là thời điểm bùng phát dịch bệnh Covid-19 lần đầu tiên nên doanh thu các ngành hàng đều bị ảnh hưởng; nhất là các nhóm hàng may mặc, gỗ vật liệu xây dựng, xăng dầu, vật phẩm văn hóa, giáo dục,….

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành được 2.316,15 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 129,68%.

- Doanh thu dịch vụ khác được 1.378,68 tỷ đồng, so với cùng kỳ bằng 129,17%.

5.2. Tình hình xuất nhập khẩu

        Ước tính tháng 4/2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 76.370 nghìn USD so với tháng trước bằng 107,95% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,20%. Chia ra:

- Xuất khẩu được 45.336 nghìn USD, so với tháng trước bằng 113,65% và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,37%. Các Hiệp định Thương mại tự do có hiệu lực thực thi đã tạo điều kiện thuận lợi và mở ra nhiều cơ hội lớn cho các hàng hóa nông, lâm, thủy sản, hàng dệt may, da giày của các doanh nghiệp xuất khẩu trên địa bàn. Kèm theo tình hình dịch bệnh trong nước ổn định, hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp không bị gián đoạn đã mở ra cơ hội lớn để các doanh nghiệp đầu tư, phát triển mở rộng thị phần của sản phẩm xuất khẩu. Vì vậy, dự báo giá trị xuất khẩu trong tháng có thể sẽ tăng.

        - Nhập khẩu được 31.034 nghìn USD, so với tháng trước bằng 100,58% và so với cùng kỳ năm trước bằng 118%.

        Ước tính 4 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 292.478 nghìn USD so với cùng kỳ năm trước bằng 103,98% và so với kế hoạch năm đạt 27,05%. Chia ra:

- Xuất khẩu được 152.854 nghìn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 88,78% và so với kế hoạch năm đạt 20,79%. Nguyên nhân giảm là do giá trị chế biến của các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản giảm nhiều (giảm 30,47%) so với cùng kỳ năm 2020, nhiều nhất là doanh nghiệp Minh Phú giảm khoảng 43,13%. Vì vậy, giá trị giảm so với cùng kỳ.

        - Nhập khẩu ước thực hiện được 121.500 nghìn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 135,47% và so với kế hoạch năm đạt 43,15%.

- Uỷ thác xuất khẩu được 388 nghìn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 45,70% và so với kế hoạch năm đạt 32,33%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được 17.736 nghìn USD so với cùng kỳ năm trước bằng 95,44% và so với kế hoạch năm đạt 28,15%.

Hiện nay, các Hiệp định Thương mại tự do là đòn bẫy tạo ra động lực phát triển trong hoạt động xuất khẩu trên địa bàn. Các mặt hàng chế biến xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có mặt nhiều trên thị trường tiêu dùng của các nước nhập khẩu và được người dân ưa chuộng, đặc biệt là hàng thủy sản chế biến các loại, sản phẩm dệt may, da giày. Do đó, các doanh nghiệp cần chủ động trong phát triển sản xuất, duy trì đảm bảo chất lượng sản phẩm. Đối với các sản phẩm Nông, Lâm, Thủy sản chế biến xuất khẩu cần chủ động đảm bảo đủ nguồn nguyên liệu sản xuất, đưa công suất nhà máy hoạt động tối đa có thể. Liên kết phát triển vùng nuôi bền vững tạo dựng nguồn nguyên liệu đầu vào chủ động, ứng dụng công nghệ chế biến chuyên sâu để gia tăng giá trị thương phẩm, đáp ứng tốt nhu cầu nhập khẩu của các nước. Hướng tới sự tăng cường liên kết, tạo ra các chuỗi cung ứng chất lượng, truy xuất nguồn gốc sản phẩm rõ ràng, tạo dựng thương hiệu sản phẩm Việt Nam trên trường thế giới, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội chung tiến tới hoàn thành kế hoạch đề ra.

5.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Ước tính tháng 4/2021, tổng doanh thu vận tải, kho bãi được 91,14 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 101,68% và so với cùng kỳ năm trước bằng 131,84%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 37,93 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 101,28% và so với cùng kỳ năm trước bằng 244,02%; đường thủy thực hiện được 32,49 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 100,19% và so với cùng kỳ năm trước bằng 130,22%; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 20,72 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 104,87% và so với cùng kỳ năm trước bằng 72,36%.

Ước tính 4 tháng, tổng doanh thu vận tải, kho bãi được 385,09 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 104,18%. Trong đó, đường bộ thực hiện được 151,11 tỷ đồng, bằng 125,66% so với cùng kỳ năm trước; đường thủy thực hiện được 133,34 tỷ đồng, bằng 99,01% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 100,64 tỷ đồng, bằng 87,74% so với cùng kỳ năm trước.

5.3.1. Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Ước tính tháng 4/2021, toàn tỉnh vận chuyển được 548,22 nghìn tấn hàng hóa các loại (45.948,14 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 99,79% (100,46%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 130,29% (156,02%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 107,42 nghìn tấn (10.381,54 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 101,49% (101,22%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 208,34% (177,42%).

- Đường sông thực hiện được 440,81 nghìn tấn (35.566,60 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 99,38% (100,24%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 119,39% (150,72%).

Ước tính 4 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 2.227,14 nghìn tấn hàng hóa các loại (188.510,46 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 105,17% (110,16%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 402,42 nghìn tấn (40.774,46 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 150,75% (135,94%).

- Đường sông thực hiện được 1.824,72 nghìn tấn (147.736 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 98,60% (104,68%).

5.3.2. Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Ước tính tháng 4/2021, toàn tỉnh thực hiện được 2.727,18 nghìn lượt hành khách (40.069,77 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 100,63% (101,15%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 187,95% (236,37%). Chia ra:

        - Đường bộ vận chuyển được 324,07 nghìn lượt hành khách (28.490,32 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 101,99% (101,54%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 239,36% (273,16%).

- Đường sông vận chuyển được 2.403,11 nghìn lượt hành khách (11.579,45 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,44% (100,23%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 182,66% (177,55%).

Ước tính 4 tháng, toàn tỉnh vận chuyển được 12.091,84 nghìn lượt hành khách (164.394,35 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 107,45% (110,21%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 2.516,76 nghìn lượt hành khách (117.884,31 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 96,70% (110,21%).

- Đường sông thực hiện được 9.575,09 nghìn lượt hành khách (46.510,04 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 110,68% (110,21%).

6. Các vấn đề về xã hội

6.1. Giáo dục

Trong tháng, Sở Giáo dục và Đào tạo tập trung vào một số hoạt động chuyên môn của các ngành học, cấp học như sau:

- Giáo dục tiểu học - mầm non: Tiếp tục triển khai tập huấn mô đun bồi dưỡng thực hiện chương trình giáo dục phổ thông 2018 cho cán bộ quản lý, giáo viên đại trà theo quy định; tổ chức Hội thảo dạy học lớp 1, đánh giá học sinh tiểu học theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT; tổ chức Hội thi “Viết chữ đẹp” cấp tiểu học; hoàn thành tài liệu giáo dục địa phương lớp 2; kiểm tra định kì cuối học kỳ II và kiểm tra hoạt động chuyên môn các trường tiểu học, trường dạy trẻ khuyết tật, trường phổ thông có cấp tiểu học.

- Giáo dục trung học - Giáo dục thường xuyên: Tham gia cuộc thi Khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học cấp quốc gia tại tỉnh Thừa Thiên - Huế, đạt 2 giải “Triển vọng”; phối hợp với các Nhà xuất bản Giáo dục, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh triển khai giới thiệu các bộ sách giáo khoa lớp 6; tổ chức Cuộc thi hùng biện Tiếng Anh cho học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông lần thứ nhất năm 2021 tại Trường trung học phổ thông chuyên Vị Thanh; hướng dẫn tổ chức thi học kỳ II năm học 2020-2021.

6.2. Tình hình văn hóa, thể thao

Toàn hệ thống Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật tập trung tuyên truyền ý nghĩa các ngày Lễ lớn của đất nước, các nhiệm vụ chính trị, các công tác trọng tâm của địa phương theo chỉ đạo như: Tuyên truyền chuyên đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị; tuyên truyền phòng, chống dịch Covid -19; tuyên truyền kỷ niệm 46 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2021) và Quốc tế Lao động 1/5. Đặc biệt, là tập trung tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; hưởng ứng Tháng hành động về an toàn vệ sinh lao động và tuyên truyền cải cách hành chính năm 2021 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang. Kết quả, thay mới nội dung trên hệ thông pano cố định do tỉnh quản lý; 02 cụm tam giác pano tại vòng xoay Mương Lộ và ngã ba Cái Tắc, 02 pano tại cầu vượt Mương Lộ, 02 pano lớn đầu đường Võ Nguyên Giáp và đường Hùng Vương, 04 pano đường Ngô Quyền, tổng số 937 m2; lắp mới nội dung tại các cổng chào: Trầu Hôi, ngã ba Cái Tắc, đường Hùng Vương và Đại lộ Võ Nguyên Giáp; tổ chức phóng thanh cổ động tuyên truyền phòng, chống dịch Covid - 19 trên địa bàn tỉnh (08 lượt).

Hoạt động thư viện: Trong tháng, hệ thống Thư viện toàn tỉnh đã phục vụ được 89.891 lượt người, với 169.323 lượt sách báo, truy cập máy tính; cấp 420 thẻ bạn đọc. Trưng bày tại Thư viện tỉnh 155 quyển sách, giới thiệu 04 quyển sách trên website thư viện và gửi cộng tác với Đài Truyền thanh thành phố Vị Thanh, Báo Hậu Giang (bao gồm: Tập cho trẻ tư duy; Ô mai ướp nắng; Tìm lại Làng Việt xưa và Bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân - Những điều cần biết). Tổ chức phục vụ 1.100 quyển sách bằng xe Thư viện lưu động tại 04 điểm trường trên địa bàn thành phố Vị Thanh và 02 điểm trường thuộc huyện Long Mỹ, thu hút trên 5.500 học sinh tham gia.

Hoạt động bảo tồn  -  bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa: Triển lãm 04 cuộc, tiếp tục sưu tầm tư liệu, hiện vật Di tích Nhà trưng bày Cố Luật sư Nguyễn Hữu Thọ tại huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Thực hiện đợt sưu tầm để tiếp cận, tìm hiểu nhân chứng, các tài liệu, hình ảnh, hiện vật lịch sử có liên quan đến Căn cứ Khu ủy, Quân khu ủy Khu 9 tại một số tỉnh Cần Thơ, Tiền Giang, Long An, Bình Dương, Vĩnh Long và TP.Hồ Chí Minh. Khách đến xem triển lãm và tham quan các di tích, nhà truyền thống huyện, phòng truyền thống các xã văn hóa được 17.760 lượt người.

Sự nghiệp thể dục thể thao: Tổ chức họp mặt Kỷ niệm 75 năm Ngày truyền thống Ngành Thể dục thể thao Việt Nam (27/3/1946 – 27/3/2021). Tham dự giải vô địch toàn quốc Marathon và cự ly dài giải Báo Tiền Phong lần thứ 62 năm 2021 tại tỉnh Gia Lai (kết quả đạt hạng 5 nội dung 42 Km nữ và hạng 5 nội dung 21 Km nam).

Về du lịch: Trong tháng, toàn tỉnh đón 23.800 lượt khách tham quan du lịch (trong đó có 590 lượt khách quốc tế), tăng 100% so với cùng kỳ. Luỹ kế 4 tháng đầu năm là 101.115 lượt khách. Tổng thu được 10,1 tỷ đồng, tăng 100% so với cùng kỳ, luỹ kế 4 tháng được 43,1 tỷ đồng.

6.3. Lao động và an sinh xã hội

Trong tháng, giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 744(4.947)/15.000 lao động, đạt 32,98% kế hoạch năm.

Khai giảng 02 lớp tiếng Nhật dự nguồn cho công tác xuất khẩu lao động với 18 học viên. Chia sẻ thông tin về việc làm ngoài nước qua nhóm zalo, facebook cho người lao động có nhu cầu tham gia thị trường lao động ngoài nước, qua đó đã tư vấn qua facebook được 415 lượt người, qua zalo được 15 lượt người.

Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã đào tạo nghề thường xuyên được 119(3.211) lao động, đạt 49,4% kế hoạch năm.

Ban hành Quyết định hưởng trợ cấp Bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng cho 255(752) người với số tiền 4.441,71(11.316,71) triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, có 12 trường hợp người lao động hưởng trợ cấp thất nghiệp sai quy định với số tiền trên 47,4 triệu đồng. Trong đó, đã thu hồi được 02 trường hợp với số tiền 8,2 triệu đồng, còn lại 10 trường hợp chưa thu hồi được với số tiền 39,2 triệu đồng.

Thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng: Tiếp nhận mới 187(761) hồ sơ các loại. Đã xét giải quyết 130(651) hồ sơ. Trong đó, đạt 110(528) hồ sơ; không đạt 20(123) hồ sơ. Còn lại 110 hồ sơ đang tiếp tục xem xét, giải quyết; giới thiệu 04(19) trường hợp người có công với cách mạng ra Hội đồng Giám định y khoa tỉnh khám giám định tỷ lệ bị nhiễm chất độc hóa học và vết thương còn sót; phối hợp với các địa phương khảo sát, nắm tình hình đối với 73 hộ nghèo trên địa bàn tỉnh có thành viên là người có công với cách mạng. Qua khảo sát, có 52/73 trường hợp cần có kế hoạch hỗ trợ thoát nghèo cụ thể trong thời gian tới.

Thực hiện trợ cấp hàng tháng cho 33.827(135.291 lượt) đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 13.049,73(52.078,32) triệu đồng. Hỗ trợ mai táng phí cho 226(750) trường hợp với số tiền 1.220,4(4.050) triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho 02(06) trường hợp với số tiền 10,8(31,2) triệu đồng. Tổ chức thăm, tặng 300 phần quà cho người khuyết tật trên địa bàn tỉnh nhân kỷ niệm Ngày vì người khuyết tật Việt Nam 18/4/2021, với số tiền 120 triệu đồng.

Công tác quản lý đối tượng nghiện ma túy: Tổng số người nghiện có hồ sơ quản lý trên địa bàn tỉnh tại thời điểm báo cáo là 1.630 người; số người nghiện đang có mặt tại cơ sở cai nghiện là 218 người.

6.4. Y tế

Trong tháng, có 04 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, giảm 06 ca so với tháng trước, cộng dồn là 30 ca, giảm 55 ca so với cùng kỳ; bệnh tay chân miệng có 59 ca mắc mới, tăng 21 ca so với tháng trước, cộng dồn là 219 ca, tăng 149 ca so với cùng kỳ; bệnh sởi, bệnh dịch lạ, bệnh viêm gan do virut, quai bị và các bệnh truyền nhiễm khác chưa ghi nhận ca mắc trên địa bàn. Về dịch Covid-19, tỉnh đã thực hiện tốt công tác phòng chống dịch, nên từ khi bùng phát dịch đến nay, Hậu Giang chưa có phát hiện ca bệnh.

Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 1.262 trẻ, cộng dồn là 3.892 trẻ, đạt 34,38%; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 964 trẻ, cộng dồn là 3.685 trẻ, đạt 32,2%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 929 thai phụ, cộng dồn là 2.632 thai phụ, đạt 23,3%; số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng là 11 ca, cộng dồn là 25 ca (giảm 01ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.845 ca (người còn sống 1.237 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng 00 ca, cộng dồn là 01 ca (giảm 01 caso với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.044 ca; số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 02 ca, cộng dồn là 03 ca (tăng 01 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 608 ca; số người hiện đang điều trị Methadone là 63 người, tổng số bệnh nhân điều trị ARV là 885 người (trong tỉnh: 802, ngoài tỉnh: 83).

Kết quả thực hiện khám chữa bệnh đến tháng 4/2021: Tổng số lần khám là 162.064 lượt, cộng dồn là 610.855 lượt, đạt 32,29% kế hoạch, giảm 2,19% so với cùng kỳ. Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú là 9.926 bệnh nhân, cộng dồn là 35.761 lượt, đạt 26,47% kế hoạch, tăng 6,64% so với cùng kỳ. Ngày điều trị trung bình là 5,81 ngày, giảm 0,08 ngày so với cùng kỳ. Tổng số tai nạn ngộ độc, chấn thương là 2.091 trường hợp, giảm 131 trường hợp so với cùng kỳ.

6.5. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hậu Giang trong tháng 4/2021 trên địa bàn tỉnh xảy ra 05 vụ tai nạn giao thông, làm chết 04 người và làm bị thương 03 người (tất cẩ đều tập trung ở đường bộ). So với tháng trước số vụ tai nạn giao thông giảm 02 vụ, số người chết giảm 02 người và số người bị thương tăng 02 người. So với cùng kỳ năm trước tăng 01 vụ, số người chết tương đương, số người bị thương tăng 02 người.

Trong 4 tháng đầu năm (từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/04/2021), toàn tỉnh xảy ra 23 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 19 người, bị thương 06 người. So với cùng kỳ năm 2020, số vụ tăng 08, số người chết tăng 07, số người bị thương tăng 02 người. Nguyên nhân chuyển hướng không đảm bảo an toàn, không chú ý quan sát, nồng độ cồn và không làm chủ tay lái.

6.6. Tình hình môi trường, thiên tai và phòng, chống cháy, nổ

Ngành chức năng tiếp tục giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các cơ sở có thông tin phản ánh để kịp thời xử lý theo quy định. Trong tháng, ngành chức năng phát hiện và đã xử lý 5 vụ vi phạm môi trường, với tổng số tiền xử phạt là 275 triệu đồng. Tính chung 4 tháng, đã phát hiện 22 vụ, xử lý 21 vụ, với tổng số tiền xử phạt khoảng 653,5 triệu đồng.

Tình hình xâm nhập mặn: Đã xuất hiện mặn xâm nhập vào địa bàn thành phố Vị Thanh với nồng độ mặn cao nhất đo được từ ngày 07/4/2021 - 14/4/2021 tại Ngã ba Nước trong, xã Hỏa Tiến  là 6 ‰; tại đầu kênh 10 Thước, huyện Long Mỹ là 4 ‰, tại cống Hóc Pó là 6,7 ‰. Ngành chức năng phân công cán bộ Trạm Thủy lợi thường xuyên theo dõi tình hình xâm nhập mặn mỗi ngày một lần; Chỉ đạo công nhân vận hành hệ thống các công trình do tỉnh quản lý để chủ động trong công tác ngăn mặn, thực hiện tốt công tác quản lý, khai thác công trình thủy lợi.

Về Sạt lở: Trong tháng xảy ra 02 điểm điểm sạt lở, lũy kế đến nay xảy ra 10 điểm sạt lở (huyện Châu Thành  09 điểm, thành phố Ngã Bảy 01 điểm). Chiều dài sạt lở: 241 m, diện tích mất đất 1.293 m2, ước thiệt hại 544 triệu đồng.

Về công tác phòng, chống cháy, nổ luôn được các ngành chức năng quan tâm thực hiện, định kỳ có kiểm tra, hướng dẫn người dân, các cơ sở kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy, nên trong tháng không xảy ra cháy, nổ trên địa bàn tỉnh.

 

[[1]] Nguyên nhân vốn đầu tư thực hiện tăng so với tháng trước là do chủ đầu tư tăng cường đôn đốc nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công, triển khai thực hiện dự án; phối hợp các ngành liên quan đẩy nhanh tiến độ đền bù, giải phóng mặt bằng,  nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh.

[[2]] Nguyên nhân tổng đàn heo trên địa bàn tăng là do: Thời gian qua giá thịt heo hơi ổn định ở mức khá cao, đảm bảo thu nhập khá cho người chăn nuôi; tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt,… nên tổng đàn từng bước được khôi phục, góp phần làm tăng về số lượng và sản lượng so cùng kỳ. Ngành chức năng của tỉnh luôn chỉ đạo chặt chẽ việc tái đàn đúng theo từng thời điểm, phù hợp với tình hình thực tế địa phương cũng như rà soát, xác định những cơ sở chăn nuôi lớn đảm bảo thực hiện an toàn sinh học trong chăn nuôi.

[[3]] Đàn gia cầm trên địa bàn tỉnh hiện nay đang có bước phát triển tương đối mạnh do tình hình dịch bệnh được ngành chức năng kiểm soát chặt chẽ, người chăn nuôi an tâm đầu tư chuồng trại và mở rộng quy mô sản xuất do hiệu quả kinh tế cao hơn một số loại hình nuôi khác. Phương thức nuôi công nghiệp, nuôi gia công tiếp tục có xu hướng phát triển khá.

[[4]] Nguyên nhân là do hiện nay ngành xuất khẩu gạo của Việt Nam gặp rất nhiều thuận lợi như; Giá gạo tăng rất cao so với các năm trước, năng suất lúa vụ Đông xuân trên địa bàn tỉnh và các tỉnh trong vùng tăng nhiều so với cùng kỳ năm trước… nên các doanh nghiệp hoạt động trong ngành xay xát có đủ nguồn nguyên liệu tại chổ, để tăng sản lượng sản xuất đáp ứng nhu cầu của thị trường. Bên cạnh đó, tăng một phần là do Cty TNHH xay xát gạo Quang Phát, hoạt động ngành xay xát gạo thành phẩm, có gía trị tương đối cao, sau thời gian đầu tư hoàn thành và đi vào hoạt động ổn định từ đầu năm đến nay đã đóng góp vào giá trị sản xuất chung của tỉnh trên 300 tỷ đồng trong 4 tháng đầu năm, góp phần làm tăng giá trị sản xuất cho ngành này nói riêng và cả tỉnh nói chung.

[[5]] Nguyên nhân là do các hộ nông dân đẩy mạnh việc tái đàn lợn (do giá lợn hơi tăng cao trong suốt thời gian qua), nên nhu cầu thức ăn cho chăn nuôi trong khu vực rất lớn. Vì vậy, một số doanh nghiệp hoạt động trong ngành này tăng sản lượng sản xuất như: Cty TNHH Thức Ăn Chăn Nuôi Rico Hậu Giang (sản lượng sản xuất tăng 19,91% so với cùng kỳ, tương đường 1.743 tấn); Cty TNHH MNS Feed Hậu Giang (sản lượng sản xuất tăng 103,81% so với cùng kỳ, tương đường 4.179 tấn)… nên chỉ số sản xuất ngành này tăng cao so với cùng kỳ năm trước.