Tháng 6
21:32 29/06/2021

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2021

 

         Trong 6 tháng đầu năm 2021, nền kinh tế của cả nước chịu tác động lớn của dịch Covid-19, so với năm 2020 số ca mắc mới tăng đáng kể, liên tiếp xuất hiện các ổ dịch trong cộng đồng tại một số tỉnh, thành trong cả nước. Mặc dù đã có kinh nghiệm trong công tác phòng, chống dịch, công tác tiêm chủng vắcxin cũng được khẩn trương thực hiện nhưng đến nay dịch bệnh vẫn chưa được đẩy lùi, nhiều địa phương trong tỉnh phải thực hiện giãn cách xã hội, tạm dừng các hoạt động không cần thiết. Vì vậy, đã làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống của người dân. Hiện nay, tỉnh Hậu Giang vẫn đang tích cực triển khai các biện pháp phòng, chống dịch, được xã hội đồng thuận cao, được người dân và cộng đồng doanh nghiệp (DN) quan tâm ủng hộ. Do vậy, tình hình dịch bệnh Covid-19 tại tỉnh vẫn đang được kiểm soát chặt chẽ, hiện chưa ghi nhận ca mắc Covid-19 trên địa bàn. Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế của tỉnh vẫn bị tác động bởi các biện pháp phòng, chống dịch, nhưng nhìn chung các chỉ tiêu kinh tế vẫn tăng so với cùng kỳ. Cụ thể, kết quả hoạt động từng ngành, từng lĩnh vực trong 6 tháng đầu năm 2021 như sau:

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) 6 tháng đầu năm 2021 (theo giá so sánh 2010) ước tính được 11.253,59 tỷ đồng, đạt 44,90% kế hoạch năm, tăng 5,99% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 4,03% của 6 tháng đầu năm 2020, mức tăng này cho thấy nền kinh tế của tỉnh đang dần được phục hồi. Cụ thể đóng góp từng khu vực như sau:

- Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước được 2.783,29 tỷ đồng, tăng 2,33% (6 tháng năm 2020 tăng 2,92%), đạt 42,76% kế hoạch năm, đóng góp 0,60 điểm phần trăm vào mức tăng GRDP. Thời tiết năm nay tương đối thuận lợi để sản xuất nông nghiệp, vụ lúa Đông Xuân năm nay được mùa, trúng giá; năng suất, sản lượng các loại cây trồng, vật nuôi đều tăng. Vì vậy, góp phần làm tăng giá trị của cả khu vực[[1]].

- Khu vực công nghiệp và xây dựng ước được 2.975,42 tỷ đồng, tăng 9,46% (6 tháng năm 2020 tăng 9,83%), đạt 43,91% kế hoạch năm, đóng góp 2,42 điểm phần trăm vào mức tăng GRDP. Do ảnh hưởng từ dịch Covid-19, mặc dù các DN và cơ sở cá thể hoạt động ngành công nghiệp vẫn hoạt động ổn định, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng tăng không cao so với cùng kỳ. Ngành công nghiệp tăng 10,10% (6 tháng năm 2020 tăng 10,30%), đóng góp 2,11 điểm phần trăm, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm tỷ trọng 95,45%, tăng 10,12%. Ngành xây dựng tăng 6,61% (6 tháng năm 2020 tăng 7,81%), đóng góp 0,31 điểm phần trăm.

- Khu vực dịch vụ ước được 4.500,68 tỷ đồng, tăng 6,85%, (6 tháng năm 2020 tăng 0,22%), đạt 48,20% kế hoạch năm, đóng góp 2,71 điểm phần trăm vào mức tăng GRDP. Trong đó, một số ngành tăng trưởng cao so với cùng kỳ góp phần vào sự tăng trưởng chung của cả khu vực như: Nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 17,15%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 14,76%; bán buôn, bán lẻ tăng 9,33%; dịch vụ lưu trú, ăn uống tăng 8,50%.

- Thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước được 994,21 tỷ đồng, tăng 2,84%, (6 tháng năm 2020 tăng tăng 9,25%), đạt 40,73% kế hoạch năm, đóng góp 0,26 điểm phần trăm vào mức tăng GRDP.

Quy mô nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2021 đạt 18.719 tỷ đồng. Về cơ cấu trong quy mô nền kinh tế 6 tháng như sau: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 24,67%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 25,64%; khu vực dịch vụ chiếm 40,96%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,73%. Nhìn chung cơ cấu nền kinh tế 6 tháng năm 2021 có sự dịch chuyển nhẹ giữa các khu vực so với cùng kỳ (cơ cấu tương ứng cùng kỳ lần lượt là 24,85%; 25,02%; 41,15% và 8,97%).

2. Tài chính, tín dụng

2.1. Tài chính

Tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2021 được 6.676,94 tỷ đồng, đạt 85,47% dự toán Trung ương, đạt 84,77% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh, tăng 12,95% so với cùng kỳ. Tổng thu ngân sách địa phương được 5.966,59 tỷ đồng, đạt 86,49% dự toán Trung ương, đạt 85,69% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh, tăng 7,99% so với cùng kỳ. Trong đó:

- Thu nội địa là 2.550 tỷ đồng, đạt 76,64% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh, tăng 54,79% so với cùng kỳ.

- Thu trợ cấp từ ngân sách Trung ương là 2.052,64 tỷ đồng, đạt 50,88% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh, giảm 4,1% so với cùng kỳ.

Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2021 là 3.773,65 tỷ đồng, đạt 54,33% dự toán Trung ương, đạt 54,51% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh, giảm 3,62% so với cùng kỳ, trong đó:

- Chi đầu tư phát triển là 1.807,72 tỷ đồng, đạt 65,20% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh, tăng 5,85% so với cùng kỳ.

- Chi thường xuyên là 1.925,74 tỷ đồng, đạt 47,73% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh, giảm 12,73% so với cùng kỳ.

2.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 31/5/2021, tổng vốn huy động toàn địa bàn là 15.930 tỷ đồng, tăng trưởng 0,34% so với cuối tháng 4/2021, tương ứng giảm 0,33% so với cuối năm 2020. Vốn huy động đáp ứng được 56,41% cho hoạt động tín dụng. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước huy động được 10.268 tỷ đồng (chiếm 64,46%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 4.922 tỷ đồng (chiếm 30,90%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 699 tỷ đồng (chiếm 4,39%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 41 tỷ đồng (chiếm 0,25%). Hiện, lãi suất không kỳ hạn đến dưới 1 tháng phổ biến từ 0,1-0,2%/năm; lãi suất từ 01 tháng đến dưới 06 tháng từ mức 3,5-4,0%/năm; lãi suất từ 06 tháng đến dưới 12 tháng ở mức 4,9-5,1%/năm; lãi suất từ 12 tháng trở lên ở mức 6,0-6,5%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 6/2021, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn đạt 16.097 tỷ đồng, tăng trưởng 1,05% so với cuối tháng 5/2021, tương ứng tăng trưởng 0,72% so với cuối năm 2020.

Đến ngày 31/5/2021, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn là 28.263 tỷ đồng, giảm 0,33% so với cuối tháng 4/2021, tương ứng tăng trưởng 5,65% so với cuối năm 2020. Trong tổng dư nợ thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước đạt 19.685 tỷ đồng (chiếm 69,65%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần là 5.711 tỷ đồng (chiếm 20,21%); Ngân hàng Chính sách xã hội là 2.823 tỷ đồng (chiếm 9,99%) và Quỹ tín dụng Nhân dân là 44 tỷ đồng (chiếm 0,15%). Đến thời điểm hiện nay, lãi suất cho vay luôn được giữ ở mức ổn định, đối với các lĩnh vực ưu tiên lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam phổ biến là 4,5%/năm; cho vay trung, dài hạn ở mức 10 -11%/năm; các lĩnh vực khác lãi suất cho vay ngắn hạn từ 9,0 - 9,5%/năm; trung, dài hạn từ 10,5 - 13%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 6/2021, dư nợ đạt 28.442 tỷ đồng, tăng trưởng 0,63% so với cuối tháng 5/2021, tương ứng tăng trưởng 6,32% so với cuối năm 2020.

Nợ quá hạn đến ngày 31/5/2021 là 817 tỷ đồng, chiếm 2,9% trên tổng dư nợ; nợ xấu là 444 tỷ đồng, chiếm 1,58% trên tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 373 tỷ đồng, chiếm 45,65% trên tổng nợ quá hạn. Dự báo đến cuối tháng 6/2021, nợ xấu toàn địa bàn vẫn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra

3. Vốn đầu tư và xây dựng

3.1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 17/6/2021, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2021là 16.331,95 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.405,95 tỷ đồng.

- Vốn tự có của DN nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.020 tỷ đồng.

- Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các DN ngoài nhà nước là 12.906 tỷ đồng.

Ước tính tháng 6/2021, vốn đầu tư thực hiện được 1.733,54 tỷ đồng, bằng 105,04% so với tháng trước và bằng 93,28%[[2]] so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính 6 tháng đầu năm 2021, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh thực hiện được 9.240,73 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm tr­ước (10.092,95 tỷ đồng) bằng 91,56% và đạt 56,58% so với kế hoạch năm hiện tại phân bổ (16.331,95 tỷ đồng). Trong đó, vốn ngân sách nhà nước thực hiện được 1.050,33 tỷ đồng, bằng 102,35% so với cùng kỳ năm trước và đạt 43,66% so với kế hoạch năm, điều chỉnh hiện tại (2.405,95 tỷ đồng), chiếm tỷ trọng 14,73% tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội.

3.2. Xây dựng

Ước tính quý II/2021, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành trên địa bàn tỉnh thực hiện được 1.934,10 tỷ đồng, so với quý trước bằng 102,90% và so với cùng kỳ năm trước (1.900,55 tỷ đồng) bằng 101,76%. Trong đó: Loại hình DN ngoài nhà nước thực hiện được 949,35 tỷ đồng, so với quý trước bằng 111,67% và so với cùng kỳ năm trước bằng 117,13%; loại hình khác gồm xã, phường, thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 984,75 tỷ đồng, so với quý trước bằng 95,66% và so với cùng kỳ năm trước bằng 90,34%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình ước thực hiện trong quý II/2021 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 1.071,93 tỷ đồng, so với quý trước bằng 101,33% và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,97%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 459,34 tỷ đồng, so với quý trước bằng 156,53% và so với cùng kỳ năm bằng 128,56%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 334,89 tỷ đồng, so với quý trước bằng 78,01% và so với cùng kỳ năm trước bằng 95,71%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 67,93 tỷ đồng, so với quý trước bằng 68,60% và so với cùng kỳ năm trước bằng 168,58%.

Tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành 6 tháng đầu năm 2021, ước thực hiện được 3.813,71 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (3.527,44 tỷ đồng) bằng 108,12%[[3]]. Trong đó: Loại hình DN ngoài nhà nước thực hiện được 1.799,52 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 119,54%; loại hình khác gồm xã, phường, thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 2.014,19 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 99,61%. Giá trị ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện được như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 2.129,76 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (2.115,34 tỷ đồng) bằng 100,68%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 752,80 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (754,20 tỷ đồng) bằng 99,82%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 764,19 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (578,40 tỷ đồng) bằng 132,12%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 166,95 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (79,49 tỷ đồng) bằng 210,02%.

Đến nay, tình hình xây dựng trên địa bàn tỉnh chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở dân dụng và đường giao thông. Riêng các công trình trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước có quy mô lớn thì hầu hết đều do các DN ngoài tỉnh thi công. Do vậy, đề nghị Lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất, để các DN xây dựng trong tỉnh được thi công nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành xây dựng của Tỉnh trong thời gian tới.

4. Tình hình hoạt động của DN

Trong tháng 6/2021,toàn tỉnh có 44 DN đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký là 251,79 tỷ đồng. Số vốn đăng ký bình quân một DN thành lập mới là 5,72 tỷ đồng; số DN gặp khó khăn tạm ngừng hoạt động là 08 DN; Số DN giải thể là 11 DN.

Ước tính 6 tháng năm 2021, có 338 DN đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký là 1.169,75 tỷ đồng; số DN gặp khó khăn tạm ngừng hoạt động là 87 DN[[4]]; số DN hoàn tất thủ tục giải thể là 52 DN[[5]].

Về tình hình sản xuất và xu hướng sản xuất kinh doanh của DN: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có trên 183 DN đang hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong đó, có trên 32,43% DN đánh giá tình sản xuất tăng hơn so với quý trước, có trên 37,84% DN đánh giá không có biến động nhiều so với quý trước và còn lại 29,73% DN đánh giá tình hình sản xuất gặp khó khăn, sản lượng không tăng so với quý trước. Vì vậy, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định so với cùng kỳ.

5. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong 6 tháng đầu năm 2021, trước tác động của tình hình dịch bệnh Covid-19 việc tiêu thụ một số sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản gặp nhiều khó khăn. Tình trạng nắng nóng, khô hạn kéo dài và giá bán sụt giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 (nhà vườn hạn chế đầu tư) đã phần nào ảnh hưởng năng suất của các loại cây lâu năm; tình hình dịch bệnh trên đàn chăn nuôi được kiểm soát tốt; thực hiện tốt các giải pháp phòng chống hạn, mặn cho lúa và các loại cây trồng khác; ngành thú y tiếp tục tăng cường công tác theo dõi tình hình diễn biến dịch bệnh và ứng phó kịp thời với dịch tả lợn Châu Phi khi có dịch bệnh phát sinh, duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm soát giết mổ và vận chuyển gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh. Thực hiện các biện pháp tuyên truyền, hướng dẫn các hộ chăn nuôi về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Cụ thể, kết quả sản xuất ở từng lĩnh vực như sau:

5.1. Nông nghiệp

5.1.1. Trồng trọt

Lúa Đông xuân 2020-2021: Toàn tỉnh đã xuống giống được 77.022 ha, bằng 100,55% so với kế hoạch tỉnh (kế hoạch 76.600 ha), so với cùng kỳ giảm 1,03% (bằng 798,5 ha). Một số giống sử dụng chủ yếu là: OM18 chiếm 28,24% với tổng diện tích trồng là 21.747,7 ha, Đài thơm 8 chiếm 22,92% với diện tích trồng là 17.653,9 ha, OM5451 chiếm 19,03% với diện tích trồng là 14.658,1 ha, RVT chiếm 17,07% với diện tích trồng là 13.144,4 ha, ST24 chiếm 5,17% với diện tích trồng là 3.978,4 ha, IR50404 chiếm 3,6% với diện tích trồng là 2.774,2 ha, còn lại là các giống khác như: ST25, Jasmine 85, OM6976,.... Hiện đã thu hoạch dứt điểm. Năng suất chính thức cả vụ đạt 78,18 tạ/ha, tăng 2,1% (bằng 1,61 tạ/ha) so với cùng kỳ, đạt 107,1% so với kế hoạch tỉnh (kế hoạch 73,00 tạ/ha). Sản lượng thu hoạch được 602.156 tấn, tăng 1,06% (bằng 6.287 tấn) so với cùng kỳ, đạt 107,98% so với kế hoạch tỉnh (kế hoạch 557.648 tấn).

Lúa Hè thu: Hiện nay đã xuống giống được 76.616 ha, bằng 100,81% so với kế hoạch tỉnh (kế hoạch 76.000 ha), lúa đang ở giai đoạn mạ đến trổ chín. Hiện đã thu hoạch 1.085 ha,diện tích thu hoạch chủ yếu tập trung ở huyện Vị Thủy, Châu Thành A và Phụng Hiệp. Các giống sử dụng chủ yếu trong vụ Hè Thu là: OM 18 chiếm 59,43%, OM 5451 chiếm 28,23%, IR 50404 chiếm 4,8%, Đài thơm 8 chiếm 4,67%, RVT chiếm 0,72%, giống khác chiếm 2,15%.

Mía niên vụ 2020 - 2021: Xuống giống được 5.040 ha, giảm 14,7% (bằng 869 ha) so với cùng kỳ. Phân bố ở huyện Phụng Hiệp và thành phố Ngã Bảy. Hiện đang ở giai đoạn phát triển chồi, thân lóng. Các giống sử dụng chủ yếu như: Roc 16, K88-92, KK3, Roc 22,...Trong tháng có 66 ha nhiễm sinh vật gây hại (giảm 43 ha so với tháng 05) gồm chuột 10 ha, rệp sáp 16 ha, sâu đục thân 19 ha, rầy đầu vàng 4 ha, rỉ sắt 7 ha, đốm vòng 10 ha,... đa số là gây hại nhẹ.

Cây ngô: Diện tích gieo trồng được 1.724 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 11,03% (bằng 171 ha). Sản lượng thu hoạch được 8.766 tấn, so cùng kỳ năm trước tăng 14,44% (bằng 1.107 tấn).

Cây rau, đậu các loại: Diện tích gieo trồng được 17.008 ha, so với năm trước tăng 12,27% (bằng 1.859 ha). Sản lượng thu hoạch được 152.334 tấn, so cùng kỳ năm trước tăng 11,83% (bằng 16.116 tấn).

Một số cây lâu năm ăn quả chủ yếu:

- Cây dứa (khóm): Diện tích hiện có 2.772 ha, tăng 1,67% (bằng 45,4 ha), sản lượng thu hoạch được 13.720,37 tấn, tăng 1,81% (bằng 244,53 tấn) so với cùng kỳ. Tập trung ở thành phố Vị Thanh và huyện Long Mỹ.

- Cây xoài: Diện tích hiện có 3.211 ha, giảm 9,68% (bằng 343,98 ha), sản lượng thu hoạch được 7.831,9 tấn, giảm 2,38% (bằng 191,2 tấn). Hiện nay, giá xoài đặc biệt xoài Đài Loan bán trên thị trường đang giảm mạnh, trung bình giao động khoảng 3.000 - 5.000đ/kg, gây ảnh hưởng không nhỏ đến người trồng.

- Cây mít: Diện tích hiện có 7.924 ha, tăng 13,76% (bằng 958,29ha), diện tích tăng chủ yếu ở các huyện như: Châu Thành, Châu Thành A, Phụng Hiệp và thành phố Ngã Bảy. Sản lượng 10.142,24 tấn, tăng 9,05% (bằng 841,76 tấn) so với cùng kỳ. Giá bán trên thị trường có chiều hướng giảm, gây khó khăn cho người trồng mít.

Hiện nay ngành Nông nghiệp tiếp tục chỉ đạo theo dõi tình hình sản xuất vụ Hè Thu 2021 đảm bảo đạt theo kế hoạch. Đồng thời, phối hợp với các địa phương rà soát công tác xây dựng lịch xuống giống và kế hoạch sản xuất vụ Thu Đông 2021 phù hợp để khuyến cáo bà con nông dân triển khai thực hiện. Định kỳ hàng tuần thực hiện công tác dự báo sinh vật gây hại trên các loại cây trồng, thông báo và hướng dẫn biện pháp quản lý đến với nông dân qua nhiều kênh thông tin. Chỉ đạo tăng cường theo dõi diễn biến thời biết, mưa bão để kịp thời đề xuất biện pháp xử lý tình huống xảy ra nhằm bảo vệ lúa Hè Thu 2021 và các loại cây trồng khác. Tăng cường xuống giống rau màu các loại, tận dụng hiệu quả diện tích đất không canh tác để mở rộng diện tích rau màu. Ưu tiên những cây rau màu có giá trị kinh tế cao, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất để tăng hiệu quả kinh tế. Tiếp tục vận động nông dân chuyển đổi diện tích lúa và mía kém hiệu quả sang các loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao. Phối hợp với các địa phương, đơn vị liên quan thường xuyên theo dõi tình hình thu hoạch và tiêu thụ các loại nông sản của bà con nông dân để hỗ trợ kịp thời những khó khăn trong việc tiêu thụ.

5.1.2. Chăn nuôi

Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 ổ dịch tả lợn Châu Phi trên địa bàn ấp Trường Thuận, xã Trường Long Tây, huyện Châu Thành A với tổng số heo chết và tiêu hủy là 03 con (heo nái), tổng trọng lượng 865 kg. Tính từ ngày tiêu hủy cuối cùng (02/5/2021) đến nay không có heo chết và tiêu hủy do bệnh, đồng thời bệnh chưa có chiều hướng lây lan ra diện rộng. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã chỉ đạo Chi cục Chăn nuôi, Thú y - Thủy sản phối hợp cơ quan chuyên môn và các đơn vị trực thuộc thực hiện tốt công tác phòng chống dịch bệnh, thực hiện các biện pháp xử lý ổ dịch; tiêu độc, khử trùng; tăng cường công tác giám sát dịch bệnh, đồng thời báo cáo diễn biến tình hình dịch bệnh hàng ngày. Hiện nay, tình hình chăn nuôi ổn định và thuận lợi, dịch bệnh được kiểm soát tốt, đàn gia súc, gia cầm được hộ dân phát triển tái đàn.

Ước tính đến tháng 6/2021, số đầu con gia súc, gia cầm so với cùng kỳ cụ thể như sau:

- Đàn trâu, bò: Đàn trâu được 1.500 con, tăng 3,45% (bằng 50 con), sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 80,66 tấn, tăng 1,88%; Đàn bò được 3.609 con, giảm 0,36% (bằng 13 con), sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 116,51 tấn, giảm 3,61%.

- Đàn heo (không tính heo con chưa tách mẹ): Được 104.609 con, tăng 12,27%[[6]] (bằng 11.431 con). Trong đó: Heo thịt 91.547 con, tăng 12,32% (bằng 10.042 con). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 10.028 tấn, tăng 6,27%.

- Đàn gia cầm: 4.523,46 ngàn con, tăng 6,12% (bằng 260,90 ngàn con). Trong đó: đàn gà 1.747,55 ngàn con, tăng 23,76% (bằng 335,5 ngàn con). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 7.003 tấn, tăng 4,92%. Sản lượng trứng gia cầm được 70.723 nghìn quả, tăng 1,17%. Nhìn chung đàn gia cầm trên địa bàn tỉnh hiện nay đang có bước phát triển tương đối mạnh do tình hình dịch bệnh được ngành chức năng kiểm soát chặt chẽ, người chăn nuôi an tâm đầu tư chuồng trại và mở rộng quy mô sản xuất do hiệu quả kinh tế cao hơn một số loại hình nuôi khác. Phương thức nuôi công nghiệp, nuôi gia công có xu hướng tiếp tục phát triển khá.

5.2. Lâm nghiệp

Tình hình hoạt động sản xuất lâm nghiệp trong tháng chủ yếu tập trung cho công tác bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng; kiểm tra việc thực hiện phương án phòng cháy chữa cháy rừng của chủ rừng và các địa phương. Công tác phòng chống cháy rừng được quán triệt và làm tốt nên diện tích rừng được bảo vệ an toàn. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ cháy rừng.

Trong tháng 6/2021, diện tích rừng trồng mới ước được 11,50 ha. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước khoảng 726,47 m3, tăng 5,82% (bằng 39,97 m3). Sản lượng củi khai thác ước được 4.832,18 ste, giảm 16,27% (bằng 938,82 ste) so với cùng kỳ.

Ước tính 6 tháng năm 2021, diện tích rừng trồng mới được 110ha. Sản lượng gỗ khai thác được 5.776 m3, tăng 1,40% (bằng 80 m3). Sản lượng củi khai thác được 50.615 ste, tăng 1,20% (600 ste) so với cùng kỳ.

5.3. Thủy sản

Tác động bất lợi của thời tiết (nắng nóng kéo dài), giá thức ăn tăng, chi phí sản xuất tăng cao, lợi nhuận không nhiều nên diện tích thả nuôi cá và sản lượng thu  hoạch tăng không cao hoặc giảm so tháng trước và cùng kỳ. Cụ thể:

Ước tính tháng 6/2021, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 1.395,64 ha, tăng 0,99% (bằng 13,71 ha) so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh ước tính được 4.922,72 ha, đạt 60,77% so kế hoạch năm (8.100ha) và tăng 1,88% (bằng 91,05 ha) so với cùng kỳ năm trước.

Ước tính tháng 6/2021, tổng sản lượng thủy sản được 3.287,30 tấn, giảm 5,44% (bằng 188,99 tấn) so với cùng kỳ. Chia ra: Sản lượng thủy sản khai thác được 152,18 tấn, tăng 8,14% (bằng 11,46 tấn); sản lượng thủy sản nuôi trồng được 3.135,12 tấn, giảm 6,01% (bằng 200,45 tấn) so cùng kỳ.

Ước tính 6 tháng đầu năm 2021, tổng sản lượng thủy sản được 27.719,28 tấn, đạt 34,65% so kế hoạch năm (80.000 tấn) tăng 2,20% (bằng 595,94 tấn) so với cùng kỳ. Chia ra: Sản lượng thủy sản nuôi trồng được 26.264,69 tấn, tăng 2,32% (bằng 594,91 tấn); sản lượng thủy sản khai được 1.454,59 tấn, tăng 0,07% (bằng 1,03 tấn) so cùng kỳ, do nguồn lợi thủy sản tự nhiên ngày càng cạn kiệt, đang vào cao điểm mùa khô nên nguồn lợi thủy sản khai thác tăng không cao.

Tình hình dịch bệnh Covid-19 trong nước và các nước nhập khẩu vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, nên tình hình xuất khẩu thủy sản vẫn chưa có nhiều chuyển biến tích cực dẫn đến thị trường tiêu thụ giảm mạnh, làm ngưng trệ chuỗi cung ứng thực phẩm phục vụ cho xuất khẩu cũng như tiêu thụ nội địa. Hiện tại, giá bán một số mặt hàng nguyên liệu thủy sản nuôi (cá tra, các thát lát, lươn đồng…) có giảm nhưng giá thức ăn lại tăng hơn so với cùng kỳ làm tăng giá thành sản xuất và giảm lợi nhuận cho người nuôi. Các Hợp tác xã, hộ nuôi thủy sản hoạt động trên địa bàn chưa có nhiều mô hình hợp tác và tạo được chuỗi liên kết sản xuất tiêu thụ bền vững nên đầu ra trong tiêu thụ thủy sản còn khó khăn và không ổn định, hiệu quả đem lại chưa cao. 

6. Tình hình sản xuất công nghiệp

Từ đầu năm đến nay, dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại một số địa phương, ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế - xã hội cả nước nói chung, trên địa bàn tỉnh Hậu Giang nói riêng, kết quả tăng trưởng 6 tháng năm 2021 cho thấy sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Tỉnh Ủy, UBND tỉnh và sự nỗ lực của các cấp, các ngành, người dân và DN để tiếp tục thực hiện hiệu quả mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế" trên địa bàn tỉnh.

Ước thực hiện tháng 6/2021, giá trị sản xuất công nghiệp: Tính theo giá so sánh 2010, được 2.963,11 tỷ đồng, tăng 7,38% so với tháng trước và tăng 11,94% so với cùng kỳ năm trước; tính theo giá thực tế được 4.580,85 tỷ đồng, tăng 7,29% so với tháng trước và tăng 12,24% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động sản xuất công nghiệp trong tháng chủ yếu tập trung nguồn lực sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước dịp Mùng 5 tháng 5 âm lịch và xuất khẩu đối với một số mặt hàng chủ lực của tỉnh như: Trái cây đóng hộp tăng 40,64% so với cùng kỳ; gạo xay xát tăng 21,96% so với cùng kỳ; sản xuất đồ uống tăng 78,22% so với cùng kỳ; da giày tăng 12,56% so với cùng kỳ; giấy cuộn tăng 13,15% so với cùng kỳ,…một số ngành chủ lực của tỉnh tăng là do ảnh hưởng dịch Covid-19, nên hàng hóa trên thị trường trong và ngoài nước giảm, tạo điều kiện cho các DN chủ động được nguồn nguyên, vật liệu dự trữ để tăng sản lượng sản xuất. Vì vậy, giá trị sản xuất ước tháng 6 tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước.

Ước thực hiện 6 tháng năm 2021, giá trị sản xuất công nghiệp: Tính theo giá so sánh 2010, được 14.412,41 tỷ đồng, tăng 12,46% so với cùng kỳ năm trước và đạt 45,43% so với kế hoạch năm; tính theo giá thực tế, được 21.102,53 tỷ đồng, tăng 14,17% so với cùng kỳ năm trước và đạt 45,62% so với kế hoạch năm. Trong đó:

- Khu vực kinh tế nhà nước, có 2 DN đóng góp giá trị sản xuất 184,58 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 0,87% trong toàn ngành và tăng 9,14% so với cùng kỳ.

- Khu vực kinh tế tư nhân, có 186 DN và trên 4.644 cơ sở cá thể công nghiệp, đóng góp giá trị sản xuất 15.417,23 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 73,06% trong toàn ngành và tăng 15,64% so với cùng kỳ.

- Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, có 8 DN và đóng góp giá trị sản xuất 5.500,71 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 26,07% trong toàn ngành và tăng 10,41% so với cùng kỳ.

Mặc dù ảnh hưởng từ dịch Covid-19 nhưng đến 6 tháng năm 2021, không có DN hay cơ sở cá thể hoạt động ngành công nghiệp nào phải tạm ngừng hoạt động hoặc giải thể do ảnh hưởng từ dịch bệnh Covid-19. Các DN bước vào trạng thái hoạt động trong điều kiện sản xuất mới và có các biện pháp ứng phó phòng chống dịch, một số DN có giá trị sản xuất chiếm tỷ trọng lớn, thu hút nhiều lao động vẫn duy trì sản xuất ổn định như: Công ty TNHH Lạc Tỷ II; Công ty TNHH MTV Xi măng Cần Thơ - Hậu Giang; Công ty CP thủy sản Minh Phú Hậu Giang; Công ty TNHH Number One Hậu Giang,…. Ở chiều ngược lại, tình hình dịch bệnh kéo dài, nên quá trình thông quan hàng hóa xuất, nhập khẩu gặp khó khăn, tại những DN nhập khẩu nguồn nguyên, vật liệu tại các thị trường truyền thống như: Ấn Độ, Trung Quốc, Châu Âu, Châu Mỹ,… đều không thuận lợi trong việc nhập khẩu, dẫn đến tình hình sản xuất ở một số ngành tăng thấp hơn mức tăng chung của toàn ngành như: Sản xuất giấy và các sản phẩm bằng giấy tăng 4,21%; sản xuất các sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 2,46%; sản xuất các sản phẩm từ kim loại tăng 0,51%. Vì vậy, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo nói riêng và giá trị sản xuất của toàn ngành nói chung tăng chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của tỉnh.

Nhìn chung, sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm 2021 trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối ổn định, nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động về giá, thị trường xuất khẩu và một số yếu tố khác như: Điện, xăng dầu, một phần bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 diễn biến phức tạp. Do vậy, các DN cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cũng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các DN đang đầu tư sớm đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của DN đã đề ra như: Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1, Công ty TNHH Sunpro Capital Group Limited,… để giá trị sản xuất công nghiệp tăng cao trong tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

Đối với Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính tháng 6/2021, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 9,61% so với tháng trước và tăng 19,15% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,67% so với tháng trước và tăng 19,26% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất và phân phối điện, khí đốt giảm 3,23% so với tháng trước và giảm 1,74% so với cùng kỳ (do hết mùa nắng nóng nên nhu cầu sử dụng điện trong sinh hoạt giảm, sản lượng điện truyền tải được 72,9 triệu kwh, giảm 2,68 triệu kwh so với tháng trước và giảm 1,27 triệu kwh so với cùng kỳ; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 8,38% so với tháng trước và tăng 13,60% so với cùng kỳ năm trước.

Dự tính 6 tháng đầu năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,61% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 14,66% cao hơn mức tăng của cùng kỳ (cùng kỳ năm trước tăng 3,80% do ảnh hưởng dịch Covid-19 vào tháng 3 và tháng 4/2020); ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,34% tăng thấp hơn mức tăng của cùng kỳ (cùng kỳ năm trước tăng 6,47%); ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,97% tăng cao hơn mức tăng của cùng kỳ (cùng kỳ năm trước tăng 6,28%), nên làm chỉ số sản xuất công nghiệp chung của toàn tỉnh tăng so với cùng kỳ.

Từ đầu năm đến nay các DN có giá trị sản xuất chiếm tỷ trọng lớn, thu hút nhiều lao động vẫn duy trì sản xuất ổn định như: Công Ty TNHH Mtv Masan Brewery Hậu Giang; Công Ty Thức Ăn Chăn Nuôi Rico Hậu Giang; Công ty TNHH Number One Hậu Giang; Công ty TNHH Thanh Khôi; Công Ty TNHH Lạc Tỷ II; Công ty TNHH Giấy LEE & Man Việt Nam. Bên cạnh đó, tăng một phần là do một số DN mới đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định từ đầu năm đến nay như: Công ty Cp chế biến xuất khẩu gạo Quang Phát Hậu Giang (sản phẩm sản xuất gạo thành phẩm); Công ty TNHH MTV Masan HG (sản xuất thực phẩm ăn liền và nước uống không cồn); Công ty CP điện mặt trời VKT- Hòa An (điện năng lượng mặt trời); Công ty CP Thực phẩm Trí Thành (sản phẩm sản xuất chả từ thịt các loại và xúc xích); Công ty Cổ phần dầu khí Bình Minh đã hoạt động trở lại sau thời gian dài tạm ngừng hoạt động (sản phẩm sản xuất dung môi);... Vì vậy, đã làm tăng chỉ số sản xuất một số ngành so với cùng kỳ như: Ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,68%; ngành sản xuất đồ uống tăng 72,96%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 20,09%; sản xuất các sản phẩm từ cao su và plastic tăng 33,86%. Vì vậy, đã góp phần làm tăng chỉ số sản xuất các ngành này nói riêng và của toàn tỉnh nói chung trong 6 tháng đầu năm 2021.

7. Hoạt động thương mại, dịch vụ

7.1. Bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Từ khi dịch Covid-19 bùng phát trở lại đến nay, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh đã có nhiều văn bản chỉ đạo và quyết liệt triển khai thực hiện nhiều biện pháp phòng, chống dịch. Công tác phòng, chống dịch Covid-19 đã được cả hệ thống chính trị vào cuộc, được xã hội đồng thuận cao, được người dân và cộng đồng DN quan tâm ủng hộ. Do vậy, tình hình dịch bệnh Covid-19 tại tỉnh vẫn đang được kiểm soát chặt chẽ, hiện chưa ghi nhận trường hợp mắc Covid-19 trên địa bàn. Tuy nhiên, trong những ngày gần đây tình hình dịch bệnh Covid-19 đang diễn biến hết sức phức tạp, trên phạm vi cả nước, đặc biệt là những ngày qua tại thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận đã ghi nhận các trường hợp dương tính SARS-CoV-2 từ nhiều nguồn lây khác nhau. Vì vậy, doanh thu ngành thương mại, dịch vụ cũng bị ảnh hưởng; đặc biệt là các ngành dịch vụ. Cụ thể như sau:

Ước tính tháng 6/2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 3.420,80 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các DN đóng trên địa bàn tỉnh là 270,84 tỷ đồng), so với thực hiện tháng trước bằng 96,72% và so với cùng kỳ năm trước bằng 110,76%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa được 2.599,52 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 97,72%[[7]] và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,04%.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành được 523,47 tỷ đồng[[8]], so với tháng trước bằng 94,49% và so với cùng kỳ năm trước bằng 108,61%. Trong tháng tình hình dịch bệnh đang diễn biến phức tạp tại nhiều tỉnh, thành người dân hạn chế đi tham quan du lịch, lưu trú và các nhà hàng, quán ăn chỉ được nhận khách không quá 50% số bàn hiện có nên số lượng khách giảm so tháng trước. Cụ thể:

- Doanh thu dịch vụ khác được 297,81 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 92,37%[[9]] và so với cùng kỳ năm trước bằng 104,02%. Thực hiện công văn số 814/UBND-NCTH ngày 16/6/2021 của UBND tỉnh Hậu Giang về việc tiếp tục triển khai thực hiện một số biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh; kể từ 0h ngày 17/6/2021 tiếp tục dừng hoạt động các cơ sở karaoke, massage, xông hơi, điểm tư vấn sức khỏe bằng phương pháp ngồi, nằm máy massage, trò chơi điện tử, internet công cộng, rạp chiếu phim, phòng tập thể hình, hồ bơi, bi da, yoga, zumba, các cơ sở làm đẹp (thẩm mỹ viện, xăm hình, chăm sóc da), các dịch vụ (xông hơi, bấm huyệt, vật lý trị liệu), điểm tham quan du lịch, biểu diễn nghệ thuật, hội chợ, các giải đấu thể thao, các điểm tập luyện thể thao đông người (trên 10 người), lễ hội, hoạt động vui chơi, giải trí, nghi lễ tôn giáo tập trung đông người khác đến khi có thông báo mới. Các cơ sở kinh doanh (quán ăn, quán cà phê, quán trà sữa) khuyến khích bán hàng mang về, hạn chế tập trung tại chỗ. Đặc biệt, các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống (nhà hàng, quán nhậu) phải hạn chế 50% số bàn, giữa các bàn ăn phải đảm bảo giãn cách tối thiếu 2m.

Ước tính 6 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 22.298,88 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các DN đóng trên địa bàn tỉnh là 1.807,08 tỷ đồng), so với cùng kỳ năm trước bằng 117,55%, so với kế hoạch năm bằng 52,47%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa được 16.903,17 tỷ đồng, so với cùng kỳ bằng 115,55%, so với kế hoạch năm bằng 54,12%. Doanh thu bán lẻ có tốc độ tăng ổn định và tăng khá cao (15,55%) so với cùng kỳ là do năm trước bùng phát dịch Covid-19 phải giản cách xã hội làm cho doanh thu các ngành hàng đều bị ảnh hưởng; nhất là các nhóm hàng may mặc, gỗ vật liệu xây dựng, xăng dầu, vật phẩm văn hóa, giáo dục, phương tiện đi lại,.… Bước sang năm 2021, cùng với sự chung tay vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tỉnh Hậu Giang phấn đấu cùng với cả nước thực hiện mục tiêu kép vừa phòng, chống dịch bệnh bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành được 3.394,29 tỷ đồng, so với cùng kỳ bằng 124,89%, so với kế hoạch bằng 47,01%. Ngành lưu trú, ăn uống có mức tăng cao so với cùng kỳ là do 6 tháng đầu năm 2020 dịch bệnh bùng phát và phải thực hiện giản cách xã hội, rất nhiều cơ sở kinh doanh đóng cửa ngưng hoạt động trong thời gian dài nên doanh thu cùng kỳ rất thấp.

- Doanh thu dịch vụ khác được 2.001,42 tỷ đồng, so với cùng kỳ bằng 123,25%, so với kế hoạch năm bằng 49,45%.

7.2. Tình hình xuất nhập khẩu

        Ước thực hiện tháng 6/2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 86.576 nghìn USD so với tháng trước bằng 101,34% và so với cùng kỳ năm trước bằng 101,81%.Chia ra:

- Xuất khẩu ước thực hiện được 55.039 nghìn USD, so với tháng trước bằng 94,36% và so với cùng kỳ năm trước bằng 119,13%.

- Nhập khẩu ước thực hiện được 31.537 nghìn USD, so với tháng trước bằng 116,36% và so vớicùng kỳ năm trước bằng 81,21%.

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 484.610 nghìn USD so với cùng kỳ năm trước bằng 108,63% và so với kế hoạch năm đạt 44,82%. Chia ra:

- Xuất khẩu thực hiện được 282.407 nghìn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 106,42% và so với kế hoạch năm đạt 38,40%.

        - Nhập khẩu thực hiện được 175.862 nghìn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 115,83% và so với kế hoạch năm đạt 62,45%.

- Uỷ thác xuất khẩu thực hiện được 425 nghìn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 34,55% và so với kế hoạch năm đạt 35,42%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 25.916 nghìn USD so với cùng kỳ năm trước bằng 93,59% và so với kế hoạch năm đạt 41,14%.

Nhìn chung, tình hình hoạt động xuất, nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2021 có sự tăng trưởng khá cao, ở mức khoảng 8,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó khu vực các DN trong nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có giá trị xuất khẩu chiếm tỷ trọng gần tương đương nhau (trong nước chiếm 47%, khu vực FDI chiếm khoảng 53% tổng giá trị chung). Về mức tăng trưởng ở mỗi khu vực, mặc dù số lượng DN FDI ít hơn nhiều so với các DN trong nước nhưng giá trị xuất khẩu mà nó tạo ra là rất lớn và có tốc độ tăng trưởng nhanh so với khu vực trong nước. Cụ thể, 6 tháng đầu năm 2021 so với cùng kỳ khu vực FDI tăng 9,93%, trong khi khu vực trong nước chỉ tăng 2,59%.

        Về thị trường xuất khẩu của các DN trong 6 tháng đầu năm 2021, các DN đã xuất hàng hóa đi được 73 quốc gia và vùng lãnh thổ, so với cùng kỳ năm trước thì số lượng các thị trường xuất khẩu là tương đương. Cơ cấu thị trường xuất khẩu của các DN không có sự thay đổi nhiều so với năm trước, các thị trường xuất khẩu lớn vẫn là khu vực các nước khối liên minh Châu Âu (EU), Châu Mỹ (trong đó khu vực Bắc Mỹ là chủ yếu), Châu Á (khu vực Đông Á và Đông Nam Á chiếm giá trị lớn nhất) là chủ yếu. Giá trị xuất khẩu của các khu vực này có sự tăng giảm lẫn nhau so với cùng kỳ năm trước nhưng nhìn chung mức tăng vẫn chiếm ưu thế nhiều hơn. Cụ thể, giá trị xuất khẩu của các khu vực trên so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: khu vực Châu Á tăng 19,62% (chiếm tỷ trọng 52,93%), khu vực Châu Âu giảm 7,91% (chiếm tỷ trọng 16,14% tổng giá trị xuất khẩu chung), Châu Mỹ giảm 11,18% (chiếm 24,35%) đây là khu vực xuất khẩu có giá trị giảm nhiều nhất trong 6 tháng đầu năm 2021 so với cùng kỳ năm trước và một số khu vực khác còn lại đạt mức tăng 37,68% (chiếm tỷ trọng 6,58%).

        Nhận định, qua 6 tháng đầu năm 2021 một số thị trường truyền thống có quan hệ giao thương với các DN trên địa bàn có mức tăng trưởng trở lại so với cùng kỳ năm trước, trong đó thị trường Trung Quốc có sự tăng trưởng rất cao, tăng hơn 40%, Hàn Quốc tăng hơn 11%. Tuy nhiên, các thị trường khác khác còn lại như: Mỹ, Nhật và khối EU lại có sự sụt giảm so với cùng kỳ, lần lượt ở mức 13,29%, 0,9% và 7,91%. Ngoài các thị trường trên thì tổng chung tất cả các thị trường còn lại có mức tăng trưởng ấn tượng cùng với Trung Quốc và Hàn Quốc. Do đó, đã giúp tổng giá trị xuất khẩu chung 6 tháng đầu năm vẫn đạt mức tăng trưởng dương, tăng 6,42%. Cũng như 6 tháng đầu năm 2020 những mặt hàng nhập khẩu nhiều nhất của các nước vẫn là các nhóm hàng thủy hải sản chế biến các loại (chiếm tỷ trọng khoảng 33,19% tổng giá trị xuất khẩu chung); giày thể thao (chiếm 39,90%); giấy thành phẩm các loại (chiếm 11,99%) và một số nhóm hàng hóa xuất khẩu khác còn lại (chiếm 14,92%). Nhìn vào tỷ trọng các nhóm mặt hàng nêu trên có thể thấy cơ cấu các nhóm hàng xuất khẩu trên địa bàn không có sự biến động lớn, chỉ duy nhất trong 6 tháng đầu năm 2021 có thêm mặt hàng xuất khẩu mới là phân bón (xuất đi Campuchia) nhưng có giá trị rất nhỏ và không đáng kể, không ảnh hưởng nhiều đến cơ cấu ngành hàng xuất khẩu chung.

Mặt khác, tình hình chiến tranh thương mại Mỹ - Trung vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp khó lường có thể sẽ khiến hoạt động xuất, nhập khẩu của các DN trên địa bàn nói riêng và các DN của Việt Nam nói chung sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc ký kết các đơn hàng, hợp đồng xuất khẩu mới cũng như nhập khẩu các nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất. Mặc dù, các Hiệp định Thương mại tự do EVFTA, RCEP trong thời gian qua đã phần nào mang lại nhiều cơ hội lớn, tạo cú hích mạnh mẽ cho các DN Việt Nam có thêm động lực để phát triển và hòa nhập sâu rộng vào thị trường thế giới, phát triển thêm các chuỗi giá trị cung ứng bền vững, tìm kiếm sự hợp tác đầu tư thương mại để mở rộng thêm thị trường xuất khẩu nhưng với tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp như hiện nay và chưa có điểm dừng thì việc gặp nhiều khó khăn trong hoạt động xuất, nhập khẩu trong 6 tháng cuối năm là điều mà các DN chắc chắn phải đối mặt. Vấn đề nguồn lao động, nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất kinh doanh các DN đang gặp rất nhiều khó khăn. Dịch bệnh Covid-19 tác động ảnh hưởng xấu đến quá trình thu mua nguyên liệu của DN, đẩy giá nguyên liệu và chi phí vận chuyển tăng cao làm tăng chi phí sản xuất của DN. Không tuyển được lao động và thiếu hụt nguồn nguyên liệu làm ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất, khiến DN rơi vào thế bị động, phải nhiều lần điều chỉnh kế hoạch sản xuất do không kịp hoàn thành các đơn hàng đúng hẹn. Vì vậy, trực tiếp ảnh hưởng khiến giá trị xuất khẩu trong 6 tháng đầu năm tăng trưởng ở mức khiêm tốn. Nếu trong thời gian tới, các ngành chức năng kịp thời hỗ trợ tốt cho các DN tháo gỡ các khó khăn đang tồn tại thì dự đoán hoạt động xuất, nhập khẩu trên địa bàn trong 6 tháng cuối năm sẽ có mức tăng trưởng cao hơn và đạt hoàn thành mục tiêu kế hoạch đề ra.

7.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Ước tính tháng 6/2021, tổng doanh thu vận tải, kho bãi thực hiện được 93,98 tỷ đồng so với tháng trước bằng 97,78% và so với cùng kỳ năm trước bằng 102,36%. Trong đó: Đường bộ thực hiện được 32,72 tỷ đồng so với tháng trước bằng 92,14% và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,91%; đường thủy thực hiện được 31,71 tỷ đồng so với tháng trước bằng 99,05% và  so với cùng kỳ năm trước bằng 102,93%; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 29,55 tỷ đồng so với tháng trước bằng 103,35% và so với cùng kỳ năm trước bằng 94,60%.

Ước thực hiện 6 tháng đầu năm 2021, tổng doanh thu vận tải, kho bãi được 581,52 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước bằng 105,81%. Trong đó: Đường bộ thực hiện được 219,38 tỷ đồng bằng 123,11% so với cùng kỳ năm trước; đường thủy thực hiện được 197 tỷ đồng bằng 100,87% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 165,14 tỷ đồng bằng 93,80% so với cùng kỳ năm trước.

Trong 6 tháng đầu năm 2021, tình hình hoạt động vận tải tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó hoạt động vận chuyển hành khách đường bộ có mức tăng cao nhất (tăng 58,32%) so với 6 tháng đầu năm 2020; riêng hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải giảm 6,20% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do 6 tháng đầu năm 2020, các cơ sở chịu ảnh hưởng nhiều từ đại dịch Covid-19, trong giai đoạn cao điểm của dịch bệnh, tất cả các cơ sở hoạt động vận tải đều ngưng hoạt động (không chỉ riêng vận chuyển hành khách mà cả những cơ sở vận chuyển hàng hóa) theo chỉ thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện giãn cách toàn xã hội để phòng, chống dịch bệnh đã làm cho giá trị hoạt động kinh doanh của các ngành vận tải trên bị sụt giảm mạnh.

Do tình hình dịch bệnh các DN hoạt động kinh doanh trên địa bàn không ký được nhiều hợp đồng xuất, nhập khẩu cũng như hàng hóa sản xuất ra gặp vấn đề khó khăn trong tiêu thụ, vì thế lượng hàng tồn kho của các DN tương đối nhiều, diện tích kho của đa số DN không đủ khả năng đáp ứng được, buộc các DN phải thuê kho, sử dụng các dịch vụ hỗ trợ vận tải từ các DN hoạt động logistic. Vì vậy, giá trị của hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng cao.

Trong năm 2021, tỉnh Hậu Giang đã có nhiều kịch bản chủ động và quyết tâm cao trong công tác phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh; các hoạt động kinh tế dần được phục hồi và phát triển. Hoạt động chung của ngành vận tải trên địa bàn trong 6 tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ. Các DN chủ động hơn trong hoạt động sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nên lượng hàng tồn kho ổn định, nhu cầu sử dụng dịch vụ kho bãi, hỗ trợ vận tải cũng được DN bố trí, sắp xếp thuận lợi.

7.3.1 Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Ước thực hiện tháng 6/2021, toàn tỉnh vận chuyển được 538,44 nghìn tấn hàng hóa các loại (43.310,84 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 97,89% (98,63%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 109,72% (104,54%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 100,20 nghìn tấn (9.711,38 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 96,54% (96,36%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 150,60% (126,05%).

- Đường sông thực hiện được 438,24 nghìn tấn (33.599,46 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 98,20% (99,30%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,31% (99,62%).

Ước thực hiện 6 tháng năm 2021, toàn tỉnh vận chuyển được 3.320,98 nghìn tấn hàng hóa các loại (247.966,82 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 106,02% (109,31%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 605,69 nghìn tấn (60.392,02 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 152,98% (134,24%).

- Đường sông thực hiện được 2.715,29 nghìn tấn (214.574,80 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 99,23% (103,88%).

7.3.2 Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Ước thực hiện tháng 6/2021, toàn tỉnh thực hiện được 2.608,34 nghìn lượt hành khách (29.426,89 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 99,76% (81,01%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 111,43% (78,87%). Chia ra:

- Đường bộ vận chuyển được 275,46 nghìn lượt hành khách (18.132,40  nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 92,16% (72,36%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 92,10% (69,90%).

- Đường sông vận chuyển được 2.332,88 nghìn lượt hành khách (11.294,49 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 100,74% (100,26%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 114,26% (99,32%).

Ước thực hiện 6 tháng năm 2021, toàn tỉnh vận chuyển được 17.269,19 nghìn lượt hành khách (230.260,68 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 109,14% (103,41%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 3.088,15 nghìn lượt hành khách (161.323,92 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 96,59% (102,25%).

- Đường sông thực hiện được 14.181,05 nghìn lượt hành khách (68.936,76 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 112,32% (106,22%).

8. Các vấn đề về xã hội

8.1. Giáo dục

Năm học 2020-2021, toàn tỉnh ước có 161.449 học sinh mầm non và phổ thông. Trong đó: Mầm non có 27.166 trẻ, với tổng số 943 lớp; Tiểu học có 67.090 học sinh trên 2.403 lớp; Trung học (bao gồm trung học cấp 2 và cấp 2-3) có 47.005 học sinh trên 1.203 lớp; Trung học phổ thông có 20.188 học sinh trên 494 lớp. Đến nay, tổng số trường học đạt chuẩn quốc gia là 259/322 trường, đạt tỷ lệ 80,4%, tăng 11,16% so với cùng kỳ.

Thực hiện tốt các hướng dẫn của cơ quan chuyên môn trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 trong các trường học trên địa bàn tỉnh. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cán bộ quản lý, nhân viên, nhà giáo, người học và cha mẹ học sinh về các biện pháp phòng, chống dịch. Nhằm đảm bảo an toàn cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, học viên trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, các đơn vị trường học có cấp học trung học, trung tâm Giáo dục thường xuyên tỉnh, trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên tỉnh chủ động điều chỉnh kế hoạch giáo dục nhà trường, đẩy nhanh tiến độ kiểm tra cuối học kỳ II năm học 2020-2021; hoàn thành chương trình, tổng kết năm học 2020-2021 và cho học sinh nghỉ học trước ngày 22/5/2021.

Sở Giáo dục và Đào tạo cũng đã triển khai Bộ đề thi tham khảo Kỳ thi trung học phổ thông năm 2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo và sẵn sàng chuẩn bị cho tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia năm 2021, số lượng thí sinh đăng ký dự thi là 6.839 thí sinh, tăng 1.286 thí sinh so với cùng kỳ.

8.2. Tình hình văn hóa, thể thao

Toàn hệ thống Trung tâm Văn hóa tập trung tuyên truyền ý nghĩa các ngày Lễ lớn của đất nước, các nhiệm vụ chính trị, các công tác trọng tâm của địa phương theo chỉ đạo như: Tuyên truyền chuyên đề “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, tuyên truyền phòng, chống dịch Covid -19. Trung tâm Văn hóa nghệ thuật tỉnh xây dựng, tập dợt chương trình nghệ thuật và tổ chức biểu diễn phục vụ nhân dân nhân kỷ niệm 91 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 – 3/2/2021); kỷ niệm 46 năm ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2021) và Quốc tế Lao động 1/5 và tổ chức biểu diễn phục vụ ở nông thôn. Đặc biệt, tập trung tuyên truyền Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tuyên truyền cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2026. Kết quả đạt được:

- Tổ chức 39/92 suất diễn, đạt 42,39% so với kế hoạch, phục vụ được  23.250/56.000 lượt người xem, đạt 43,05% so với kế hoạch.

- Lắp mới nội dung tại cổng chào Trầu Hôi, ngã ba Cái Tắc, đường Hùng Vương và Đại lộ Võ Nguyên Giáp; thay mới nội dung trên hệ thông pano cố định do tỉnh quản lý, tổng số 1.960m2; In mới và lắp đặt 6.363 m2 trên các tuyến đường chính cấp huyện; in và treo tổng cộng 549 băng rôn, 32.560 cờ các loại trên các tuyến đường trên địa bàn tỉnh.

- Thực hiện maket, in và phát hành tới các ban ngành đoàn thể cấp tỉnh và tới các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh 1.500 tờ tin ảnh.

Các đội Tuyên truyền lưu động trong tỉnh xây dựng kịch bản và chương trình nghệ thuật quần chúng để tổ chức biểu diễn phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị. Kết quả đạt được:

- Cấp tỉnh: Sáng tác, dàn dựng mới 02 kịch bản. Biểu diễn phục vụ 52 (trong đó có gần 30 buổi phục vụ ở vùng nông thôn), phục vụ 25.750 lượt người xem. Xe Thông tin lưu động tổ chức phóng thanh lưu động được 59 buổi.              

- Cấp huyện: Sáng tác, dàn dựng 16 kịch bản tuyên truyền lưu động. Biểu diễn phục vụ 340 buổi, phục vụ 191.150 lượt người xem. Tổ chức phóng thanh cổ động 425 lượt; giao lưu hoạt động Đội Tuyên truyền lưu động với huyện, thị xã, thành phố trong và ngoài tỉnh được 14 cuộc.

Hoạt động thư viện: Trong 6 tháng đầu năm 2021, hệ thống Thư viện công cộng tỉnh đã phục vụ được 394.670 lượt người với 789.340 lượt sách báo, cấp mới 2.431 thẻ bạn đọc. Tổ chức triển lãm sách lưu động bằng xe ô tô thư viện tại 35 điểm trường học trên địa bàn thành phố Vị Thanh, huyện Long Mỹ, thị xã Long Mỹ, huyện Châu Thành A và huyện Phụng Hiệp thu hút trên 31.000 học sinh tham gia.

Hoạt động bảo tồn - bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa: Triển lãm thường xuyên và lưu động 25 cuộc. Tiếp 102 đoàn khách tham quan tại các di tích cấp Quốc gia đặc biệt Chiến thắng Chương Thiện tại thành phố Vị Thanh; Căn cứ Tỉnh ủy Cần Thơ, Chiến thắng Tầm Vu; Đền thờ Bác Hồ; Chiến thắng Chương Thiện tại Vĩnh Viễn; Khu trù Mật Vị Thanh - Hỏa Lựu,…. Khách xem triển lãm và tham quan các di tích, nhà truyền thống huyện, phòng truyền thống các xã Văn hóa toàn tỉnh được 200.000 lượt khách.

Sự nghiệp thể dục thể thao:

- Tổ chức giải cấp tỉnh: 3 giải, với 401 vận động viên tham gia, bao gồm các giải:

+ Giải vô địch Teakwondo tỉnh Hậu Giang năm 2020. Tham dự giải có 129 vận động viên đến từ 8 đơn vị huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Phục vụ trên 1.500 lượt người xem.

+ Giải vô địch Bóng đá nam tỉnh Hậu Giang năm 2020. Tham dự có 162 vận động viên đến từ 9 đơn vị: huyện Phụng Hiệp, thị xã Long Mỹ, thành phố Vị Thanh, huyện Châu Thành, Công an tỉnh, Trại giam Kênh 5, huyện Châu Thành A, huyện Long Mỹ và huyện Vị Thủy. Giải phục vụ hơn 9.000 lượt người xem.

+ Phối hợp với Liên đoàn Quần vợt tỉnh tổ chức giải Quần vợt “Mừng Đảng quang vinh – mừng Xuân Tân Sửu tỉnh Hậu Giang năm 2021. Tham dự giải có 110 vận động viên thi đấu. Kết quả: Ban tổ chức trao 04 giải Nhất, 04 giải Nhì và 08 giải Ba cho các cặp đôi đạt giải.

- Tham dự giải vô địch Lân Sư Rồng quốc gia lần thứ VIII năm 2021 do Hậu Giang đăng cai tổ chức. Kết quả đạt: 01 HCV, 01 HCB, 02 HCĐ. Xếp hạng Nhì toàn đoàn.

- Tổ chức giải toàn quốc: Đăng cai tổ chức giải vô địch Lân Sư Rồng quốc gia lần thứ VIII năm 2021. Tham dự giải có 23 Câu lạc bộ Lân Sư Rồng mạnh đến từ 13 tỉnh, thành phố trong cả nước, với gần 700 vận động viên.

- Tham dự giải thành tích cao: Tổng cộng tham gia 13 giải toàn quốc. Kết quả đạt được 06 Huy chương vàng, 09 Huy chương bạc và 13 Huy chương đồng.

8.3. Lao động và an sinh xã hội

8.3.1.Tình hình đời sống dân cư và giải quyết việc làm

Từ đầu năm đến nay, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 bùng phát trở lại, mặc dù Hậu Giang chưa có ca nhiễm nhưng với mức độ phức tạp và lây lan nhanh trên diện rộng, đã tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế của tỉnh, các hoạt động thương mại, xuất khẩu, du lịch, lưu trú, ăn uống và các dịch vụ khác gặp không ít khó khăn, giá bán một số mặt hàng nông sản bị giảm mạnh; lĩnh vực dịch vụ lưu trú - ăn uống, du lịch đang hoạt động cầm chừng; tiến độ đầu tư xây dựng còn chậm, thu hút đầu tư nước ngoài còn ít, đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới thu nhập và đời sống dân cư trên địa bàn tỉnh.

Theo kết quả điều tra Lao động - Việc làm năm 2020 của Tổng Cục Thống kê, tỉnh Hậu Giang có tổng số 3,06% tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động, tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 6,40% cao hơn khu vực nông thôn 4,40% (khu vực nông thôn là 1,99%), đồng thời cao hơn năm 2019 là 2,55% (năm 2019 là 3,85%); tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của nữ cao hơn nam 2,54% (tương ứng là 4,59% và 2,06%) và cao hơn năm 2019 là 1,00% (năm 2019 là 3,59%). Có thể nhận định chung từ năm 2020 đến nay tình hình giải quyết việc làm của tỉnh gặp nhiều khó khăn và thiếu ổn định, số người thất nghiệp và thiếu việc làm tăng cao, chủ yếu ở khu vực thành thị và lao động nữ tham gia các hoạt động dịch vụ do sự tác động của dịch Covid-19.

Thời gian qua, Tỉnh uỷ, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành các chủ trương, chính sách cụ thể, thiết thực, phù hợp nhằm khuyến khích, kêu gọi sự đầu tư của DN trong và ngoài tỉnh, kể cả DN nước ngoài xây dựng các cơ sở mới, quy mô hiện đại hơn, việc quy hoạch các khu, cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp được tỉnh rất chú trọng. Do đó, phần nào giải quyết được vấn đề việc làm cho người lao động. Kết quả trong 6 tháng đầu năm 2021 đã giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 10.045/15.000 lao động, đạt 66,96% kế hoạch năm; các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã đào tạo nghề thường xuyên được 4.642/6.500 lao động, đạt 71,4% kế hoạch năm.

8.3.2. An sinh xã hội

Công tác giảm nghèo: Bằng nhiều biện pháp hỗ trợ cho người nghèo phát triển sản xuất như hỗ trợ vốn và các chương trình lồng ghép khác của dự án xóa đói giảm nghèo và sự nỗ lực vươn lên từ các hộ nghèo, đến nay số hộ nghèo đã giảm đáng kể. Tổng hợp kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2020 theo chuẩn tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, cụ thể như sau:

- Tổng số hộ nghèo: 6.965 hộ, chiếm tỷ lệ 3,46% (so với năm 2019 giảm 1,52%, năm 2019 là 10.088 hộ, chiếm tỷ lệ 4,98%).

- Tổng số hộ cận nghèo: 7.167 hộ, chiếm tỷ lệ 3,56% (so với năm 2019 giảm 0,80%, năm 2019 là 8.832 hộ, chiếm tỷ lệ 4,36%).

Chính sách với người có công và thân nhân người có công: Công tác thực hiện chính sách Người có công luôn được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo sâu sát, uốn nắn kịp thời, nhất là việc triển khai tổ chức thực hiện các quy định mới về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng. Kết quả thực hiện trong 6 tháng năm 2021 như sau:

- Tiếp nhận mới 1.108 hồ sơ các loại. Đã xét giải quyết 1.054 hồ sơ. Trong đó, đạt 899 hồ sơ; không đạt 155 hồ sơ. Còn lại 54 hồ sơ đang tiếp tục xem xét, giải quyết.

- Khảo sát, nắm tình hình đối với 73 hộ nghèo trên địa bàn tỉnh có thành viên là người có công với cách mạng. Qua khảo sát, có 52/73 trường hợp cần có kế hoạch hỗ trợ thoát nghèo cụ thể trong thời gian tới.

- Phối hợp với Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh tiến hành rà soát danh sách gần 13.000 đối tượng được hưởng chế độ, chính sách theo Quyết định số 290/2005/QĐ-TTg ngày 08/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ để phục vụ công tác khảo sát nạn nhân bị nhiễm chất độc hóa học trên địa bàn tỉnh.

- Ban hành Nghị quyết về việc bổ sung đối tượng cho vay là hộ gia đình người có công với cách mạng được hưởng trợ cấp một lần được vay vốn từ nguồn ngân sách địa phương ủy thác qua Ngân hàng chính sách xã hội chi nhánh Hậu Giang.

Công tác bảo trợ xã hội và việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với các đối tượng khác: Thực hiện trợ cấp hàng tháng cho 203.384 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 78.451,46 triệu đồng. Hỗ trợ mai táng phí cho 1.047 trường hợp với số tiền 5.653,8 triệu đồng; hỗ trợ đột xuất cho 22 trường hợp với số tiền 170 triệu đồng; tổ chức thăm, tặng 300 phần quà cho người khuyết tật trên địa bàn tỉnh nhân kỷ niệm Ngày vì người khuyết tật Việt Nam 18/4/2021 với số tiền 120 triệu đồng.

Về tình hình thiếu đói: Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói.

8.4. Y tế

Trong tháng, có 04 ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, giảm 04 ca so với tháng trước, cộng dồn là 46 ca, giảm 37 ca so với cùng kỳ; bệnh tay chân miệng có 64 ca mắc mới, giảm 21 ca so với tháng trước, cộng dồn là 373 ca, tăng 292 ca so với cùng kỳ; bệnh sởi, bệnh dịch lạ, bệnh viêm gan do virút, quai bị và các bệnh truyền nhiễm khác chưa ghi nhận ca mắc trên địa bàn.

Tình hình dịch Covid-19 (tính đến ngày 13/6/2021) như sau:

- Việt Nam ghi nhận 10.538 ca nhiễm, điều trị bình phục 3.929 ca, hiện còn đang điều trị 6.550 ca, tử vong 59 ca. Hậu Giang chưa có ca bệnh.

- Triển khai đầy đủ, kịp thời tất cả các văn bản chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh và các văn bản hướng dẫn của Bộ Y tế về phòng, chống bệnh Covid-19 đến các đơn vị trực thuộc để tổ chức thực hiện.

- Thực hiện tốt công tác tuyên truyền về công tác phòng, chống dịch, tập trung truyền thông về thực hiện thông điệp 5K: “ Đeo Khẩu trang - Khử khuẩn – Giữ Khoảng cách - Không tập trung - Khai báo Y tế”.

- Tổng số trường hợp được cách ly, theo dõi từ đầu dịch đến nay là 8.792 người (cách ly tập trung: 2.234 người; cách ly tại nhà: 6.558 người); tổng số đã được cách ly đủ 14 ngày: 7.756 người (cách ly tập trung: 2.038 người; cách ly tại nhà: 5.718người). Từ đầu dịch đến nay, Hậu Giang đã tiếp nhận cách ly tập trung đối với người nhập cảnh 16 đợt với tổng số là 1.499 người đã hoàn thành thời gian cách ly. Số người dân Hậu Giang về từ các địa phương có ca bệnh Covid-19 trong nước và số người dân nhập cảnh được cách ly tập trung tại các tỉnh thành khác sau khi hoàn thành thời gian cách ly, tự theo dõi sức khỏe là 72.688 người (trong đó số người cách ly tập trung tại các tỉnh khác là 516 người); số người đủ thời gian tự theo dõi sức khỏe là: 63.056 người, số đang tự theo dõi sức khỏe là 6.632 người.

- Tổng số xét nghiệm Sars-CoV-2 tại Hậu Giang đến nay là 5.665 mẫu ( RT-PCR: 4.834 mẫu, Test nhanh kháng nguyên: 831 mẫu), kết quả xét nghiệm tất cả các mẫu đều âm tính.

- Số người được tiêm ngừa vắc xin Covid-19 là 8.323 người (Đợt 1: 6.319 người; đợt 2: 2.004 người). Bộ Y tế phân bổ vắc xin đợt 3 cho tỉnh Hậu Giang là 14.000 liều.

- Phòng Xét nghiệm khẳng định virut Sars-CoV-2 bằng kỹ thuật Realtime RT-PCR đã thực hiện được 4.315 mẫu. Đang xây dựng thêm 01 phòng xét nghiệm virút SarS-CoV-2 tại Bệnh viện đa khoa thành phố Ngã Bảy.

Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch là 6.194 trẻ, đạt 54,71%; tiêm sởi mũi 2 là 5.673 trẻ, đạt 52,11%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) là 5.399, đạt 50,2%.

Số nhiễm HIV mới phát hiện là 55 ca (tăng 05 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.875 ca (người còn sống 1.261 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện là 07 ca (giảm 01 caso với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.050 ca; số bệnh nhân tử vong do AIDS là 09 ca (tăng 01 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 614 ca. Số người hiện đang điều trị Methadone là 60 người, tổng số bệnh nhân điều trị ARV là 903 người (trong tỉnh: 821, ngoài tỉnh: 82).

Kết quả thực hiện khám chữa bệnh đến tháng 6/2021: Tổng số lần khám 141.702 lượt, cộng dồn là 900.803 lượt, đạt 47,61% kế hoạch, tăng 0,22% so với cùng kỳ. Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú là 8.656 lượt, cộng dồn là 53.535 lượt, đạt 39,62% kế hoạch, tăng 11,55% so với cùng kỳ. Số ngày điều trị trung bình là 5,93 ngày, giảm 0,07 ngày so với cùng kỳ. Tổng số tai nạn ngộ độc, chấn thương là 3.062 trường hợp, giảm 616 trường hợp so với cùng kỳ.

Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn được duy trì tốt (không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm trên 30 người/vụ).

8.5. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Trong tháng 6/2021, trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 03 người (tập trung ở đường bộ). So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 01 vụ, số người chết tương đương và số người bị thương giảm 01 người. So với cùng kỳ năm trước giảm 06 vụ, số người chết giảm 03 người, số người bị thương giảm 04 người (tập trung ở đường bộ).

Trong 6 tháng đầu năm (từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/06/2021), toàn tỉnh xảy ra 30 vụ tai nạn giao thông đường bộ, làm chết 25 người, bị thương 07 người. So với cùng kỳ năm 2020, số vụ tương đương, số người chết tăng 02 người, số người bị thương giảm 02 người. Nguyên nhân do vi phạm nồng độ cồn, không chú ý quan sát, không đi đúng phần đường.

8.6. Tình hình môi trường, thiên tai và phòng, chống cháy, nổ

Ngành chức năng tiếp tục giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các cơ sở có thông tin phản ánh để kịp thời xử lý theo quy định. Tính từ đầu năm đến nay, ngành chức năng đã phát hiện 36 vụ vi phạm môi trường, xử lý 33 vụ, với tổng số tiền xử phạt khoảng 694 triệu đồng.

Tình hình thiên tai: Trong tháng, xảy ra 10 điểm điểm sạt lở tại huyện Châu Thành và 01 điểm ở thành phố Ngã Bảy. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 25 điểm sạt lở (huyện Châu Thành  23 điểm, thành phố Ngã Bảy 02 điểm). Tổng chiều dài sạt lở là 611 m, diện tích mất đất 3.528 m2; ước tổng thiệt hại khoảng 1.689 triệu đồng; so với cùng kỳ chiều dài sạt lở năm 2020 (725 m) giảm 114 m; diện tích mất đất năm 2020 (3.771,5 m2) giảm 243,5 m2; ước thiệt hại năm 2020 (2.053 triệu đồng) giảm 364 triệu đồng. Dông lốc làm sập 08 căn nhà, tốc mái 16 căn, tốc mái 01 xưởng sản xuất, hư 01 trạm biến điện, ước thiệt hại khoảng 2.244 triệu đồng.

Công tác phòng, chống cháy, nổ luôn được các ngành chức năng quan tâm thực hiện, định kỳ có kiểm tra, hướng dẫn người dân, các cơ sở kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy. Đến nay trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra trường hợp cháy, nổ.

9. Đề xuất giải pháp

        Trong 6 tháng đầu năm 2021, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trở lại đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sản xuất, kinh doanh của tỉnh. Vì vậy, để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, trong các tháng cuối năm các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị cần tập trung cao trong công tác chỉ đạo, điều hành, nghiêm túc quán triệt, thực hiện các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân tỉnh về triển khai thực hiện nhiệm vụ, tập trung thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

- Một là, tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, không để dịch phát sinh và lây lan trong cộng đồng, giữ vững kết quả mà Tỉnh đã đạt được. Thực hiện tốt “mục tiêu kép”: vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trong trạng thái bình thường mới.

- Hai là, tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư, giải quyết khó khăn cho DN, tạo điều kiện hỗ trợ cho các DN trong sản xuất kinh doanh như: thực hiện các chương trình cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, ưu đãi về thuế, rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục hành chính,... đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

- Ba là, phát triển nông nghiệp, thủy sản gắn với xây dựng nông thôn mới. Tập trung sản xuất vụ lúa Hè thu và Thu đông. Tăng cường kiểm tra, chủ động dự báo, hướng dẫn nông dân phòng trừ kịp thời, hiệu quả các dịch hại trên cây trồng,... Theo dõi, để có khuyến cáo nông dân trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và hỗ trợ dân trong việc tìm kiếm thị trường, liên kết tiêu thụ sản phẩm nông, thủy sản. Tiếp tục phát triển đàn gia súc, gia cầm theo hướng chăn nuôi an toàn để góp phần cùng cả nước bình ổn giá thịt heo hơi và tăng thêm giá trị sản xuất, đồng thời tăng cường công tác giám sát, phòng trừ dịch bệnh.

- Bốn là, phát triển dịch vụ. Theo dõi, cập nhật thường xuyên tình hình thị trường, cung cầu hàng hóa trên địa bàn tỉnh nhằm đưa ra các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các cơ sở, DN, hợp tác xã. Tổ chức Hội chợ Thương mại Du lịch trong khuôn khổ giải Marathon quốc tế “Mekong Delta Marathon” Hậu Giang năm 2021; chuẩn bị công tác tổ chức Hội chợ Công Thương khu vực đồng bằng sông Cửu Long tỉnh Hậu Giang. Chú trọng công tác hỗ trợ DN xuất nhập khẩu. Cung cấp đến DN những nội dung về rào cản kỹ thuật, rào cản thương mại của các nước đối với hàng hóa xuất khẩu. Kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, nhất là hàng thủy sản và nông sản. 

- Năm là, quản lý, sử dụng tài chính có hiệu quả, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp điều hành thu ngân sách nhà nước, tập trung tháo gỡ, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc của DN nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các DN, tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh phát triển ổn định. Tăng cường công tác quản lý chi ngân sách Nhà nước, đảm bảo chặt chẽ, triệt để tiết kiệm các khoản chi thường xuyên, chi cho bộ máy quản lý Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn tập trung nguồn vốn, tích cực ưu tiên nguồn vốn hỗ trợ thực hiện các chương trình, đề án trọng điểm của tỉnh. Duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng, phù hợp với nhu cầu phát triển của địa phương, đồng thời triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh mới, đảm bảo nợ xấu ở mức an toàn.

- Sáu là, nâng cao đời sống người dân, bảo đảm an sinh xã hội. Thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách ưu đãi người có công; tiếp tục rà soát, giải quyết hiệu quả chính sách hỗ trợ người có công, bảo đảm công khai, minh bạch. Hướng dẫn địa phương kịp thời tổ chức tốt các chính sách trợ giúp xã hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh. Tập trung triển khai thực hiện các dự án thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo bền vững năm 2021./.

 

[[1]] Đóng góp từng khu vực: Nông nghiệp chiếm 90,96%, tăng 2,28%; lâm nghiệp chiếm 0,91%, tăng 0,53%; thủy sản chiếm 8,13%, tăng 3,07%.

[[2]] Nguyên nhân giảm so với cùng kỳ là do thời điểm đầu năm 2021, kế hoạch vốn hầu hết phân bổ cho các dự án khởi công mới, trong quý I/2021 chủ đầu tư đang tập trung hoàn thành thủ tục phê duyệt thiết kế, dự toán; giá vật tư xây dựng tăng nhiều nhất là giá cát tăng đột biến gây ảnh hưởng đến tiến độ thi công của các công trình nên khối lượng thực hiện và giá trị giải ngân chưa cao; Chế độ thông tin, báo cáo các chủ đầu tư chưa chủ động, việc báo cáo tình hình, tiến độ thực hiện, của dự án thì rất hạn chế.

[[3]] Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng so với cùng kỳ là do hiện nay giá cả nhóm hàng vật liệu xây dựng, chi phí máy thi công và chi phí nhân công tăng cao; một số công trình đã triển khai trong quý I/2021 cơ bản đã hoàn thành đưa vào sử dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư và nhà thầu góp phần làm tăng giá trị sản xuất.

[[4]] Nguyên nhân các DN tạm ngừng hoạt động là do điều kiện kinh doanh khó khăn, kinh doanh không hiệu quả, không ký kết được hợp đồng, chưa sắp xếp lại bộ máy và phương thức kinh doanh của công ty cho phù hợp với điều kiện của tỉnh.

[[5]] Các DN giải thể là các DN siêu nhỏ, nguồn vốn, công nghệ lạc hậu, năng lực quản trị rất hạn chế, kinh doanh không hiệu quả, không có khả năng mở rộng quy mô. Các DN giải thể thuộc các lĩnh vực xây dựng, vận tải và bán buôn trong các cửa hàng chuyên doanh khác.

[[6]]  Nguyên nhân tổng đàn heo trên địa bàn tăng là do tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, công tác phòng chống dịch bệnh được quản lý chặt chẽ, những hộ nuôi nhỏ lẻ bắt đầu tái đàn trở lại, những hộ nuôi quy mô gia trại, trang trại tiếp tục sản xuất, tái đàn và mở rộng quy mô chuồng trại, giá thịt heo hơi thời gian qua ổn định, sau khi trừ chi phí thì khoản thu nhập còn lại khá cao nên họ tiếp tục duy trì hoạt động chăn nuôi nhằm tăng mức thu nhập, ổn định kinh tế gia đình,... Từ đó tổng đàn từng bước được khôi phục góp phần tăng về số lượng và sản lượng. Ngành chức năng của tỉnh luôn chỉ đạo chặt chẽ việc tái đàn heo đúng theo thời điểm để phù hợp với tình hình thực tế địa phương cũng như rà soát, xác định những cơ sở chăn nuôi lớn đảm bảo thực hiện an toàn sinh học trong chăn nuôi.

[[7]] Cụ thể một số nhóm hàng giảm so với tháng trước như: Lương thực, thực phẩm giảm 0,22%; Hàng may mặc giảm 3,45%; Đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 3,06%; Gỗ và vật liệu xây dựng giảm 7,27%; Phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) giảm 6,31%. Nguyên nhân chủ yếu giảm là do ảnh hưởng của dịch bệnh nên các loại trái cây liên tục rớt giá và không tìm được đầu ra như: xoài, mít, khóm, dịch bệnh diễn biến ngày càng  phức tạp nên người dân có tâm lý tiết kiệm chi tiêu vào những mặc hàng không thiết yếu, các hội chợ thương mại cũng tạm ngừng tổ chức nên chưa khuyến khích được tiêu dùng.

[[8]] Chia ra: Doanh thu lưu trú được 9,82 tỷ đồng, so tháng trước giảm 8,07%, so cùng kỳ tăng 33,03%; doanh thu ăn uống được 513,65 tỷ đồng, so tháng trước giảm 5,46%, so cùng kỳ tăng 8,23%.

[[9]] Cụ thể:Dịch vụ vui chơi giải trí giảm 8,29%; dịch vụ khác giảm 6,48%; dịch vụ hành chính hỗ trợ giảm 9,84%; dịch vụ y tế giảm 2,88%; dịch vụ kinh doanh bất động sản giảm 2,25%;dịch vụ giáo dục và đào tạo giảm 10,45%.