Tháng 9
14:32 28/09/2021

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội tỉnh Hậu Giang tháng 9, quý III và 9 tháng năm 2021

 

         Trong 9 tháng năm 2021, tình hình kinh tế - xã hội của Tỉnh tiếp tục chịu sự ảnh hưởng của dịch Covid-19, tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp và ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân trên địa bàn tỉnh, khi cả tỉnh thực hiện giãn cách xã hội theo quy định, hầu hết các hoạt động của nền kinh tế đều tạm dừng để tập chung chống dịch, giá cả các mặt hàng nông sản giảm, quá trình vận chuyển và tiêu thụ nông sản của người dân gặp nhiều khó khăn. Trước tình hình đó, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tăng cường chỉ đạo, điều hành, giải quyết những vấn đề cấp bách, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho người dân, quyết tâm nhanh chóng dập dịch. Hiện, dịch bệnh đã được kiểm soát, Tỉnh dần nới lỏng các biện pháp giãn cách để người dân sớm trở lại cuộc sống bình thường mới. Cụ thể kết quả đạt được từng lĩnh vực như sau:

1. Tài chính, tín dụng

1.1. Tài chính

Ước tổng thu Ngân sách nhà nước tháng 9/2021 được 472,78 tỷ đồng, luỹ kế 9 tháng được 8.675,77 tỷ đồng, đạt 111,06% dự toán Trung ương, đạt 78,76% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Trong đó: Trung ương trợ cấp được 303,93 tỷ đồng, luỹ kế được 3.080,39 tỷ đồng, đạt 76,35% dự toán Trung ương và đạt 75,29% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; thu nội địa được 120 tỷ đồng, luỹ kế được 3.285,57 tỷ đồng, đạt 98,75% dự toán Trung ương và đạt 78,13% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

Ước tổng chi Ngân sách địa phương tháng 9/2021 được 584,70 tỷ đồng, luỹ kế 9 tháng được 5.639,67 tỷ đồng, đạt 81,20% dự toán Trung ương giao, đạt 58,54% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao. Chia ra: Chi xây dựng cơ bản được 129,43 tỷ đồng, luỹ kế được 2.274,66 tỷ đồng, đạt 80,86% dự toán Trung ương giao, đạt 53,31% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao; chi thường xuyên được 455,27 tỷ đồng, luỹ kế được 3.122,88 tỷ đồng, đạt 77,74% dự toán Trung ương giao, đạt 62,96% dự toán Hội đồng nhân dân tỉnh giao.

1.2 Tín dụng ngân hàng

Đến ngày 31/8/2021, tổng vốn huy động toàn địa bàn là 16.169 tỷ đồng, tăng trưởng 1,15% so với tháng trước, tương ứng tăng trưởng 1,17% so với cuối năm 2020. Vốn huy động đáp ứng được 57,61% cho hoạt động tín dụng. Trong tổng vốn huy động trên địa bàn thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước huy động được 10.451 tỷ đồng (chiếm 64,64%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần được 4.949 tỷ đồng (chiếm 30,61%); Ngân hàng Chính sách xã hội được 732 tỷ đồng (chiếm 4,53%) và Quỹ tín dụng Nhân dân được 37 tỷ đồng (chiếm 0,22%). Hiện, lãi suất huy động không kỳ hạn đến dưới 1 tháng phổ biến từ 0,1-0,2%/năm; lãi suất từ 01 tháng đến dưới 06 tháng ở mức 3,5-4,0%/năm; lãi suất từ 06 tháng đến dưới 12 tháng ở mức 4,9-5,1%/năm; lãi suất từ 12 tháng trở lên ở mức 6,0-6,5%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 9/2021, tổng vốn huy động trên toàn địa bàn đạt 16.273 tỷ đồng, tăng trưởng 0,64% so với cuối tháng 8/2021, tương ứng tăng trưởng 1,82% so với cuối năm 2020.

Đến ngày 31/8/2021, tổng dư nợ cho vay toàn địa bàn là 28.065 tỷ đồng, giảm 0,12% so với cuối tháng trước, tương ứng tăng trưởng 4,91% so với cuối năm 2020. Trong tổng dư nợ thì khối Ngân hàng Thương mại nhà nước được 19.581 tỷ đồng (chiếm 69,77%); khối Ngân hàng Thương mại cổ phần là 5.566 tỷ đồng (chiếm 19,83%); Ngân hàng Chính sách xã hội là 2.874 tỷ đồng (chiếm 10,24%) và Quỹ tín dụng Nhân dân là 44 tỷ đồng (chiếm 0,16%). Hiện nay, lãi suất cho vay luôn được giữ ở mức ổn định, đối với các lĩnh vực ưu tiên lãi suất cho vay ngắn hạn bằng đồng Việt Nam phổ biến là 4,5%/năm; cho vay trung, dài hạn ở mức 10 -11%/năm; các lĩnh vực khác lãi suất cho vay ngắn hạn phổ biến từ 9,0 - 9,5%/năm; trung, dài hạn từ 10,5 - 13%/năm. Ước thực hiện đến cuối tháng 9/2021, dư nợ đạt 28.304 tỷ đồng, tăng trưởng 0,85% so với cuối tháng 8/2021, tương ứng tăng trưởng 5,80% so với cuối năm 2020.

Nợ quá hạn đến ngày 31/8/2021 là 855 tỷ đồng, chiếm 3,05%/tổng dư nợ; nợ xấu là 421 tỷ đồng, chiếm 1,50%/tổng dư nợ; nợ cần chú ý là 434 tỷ đồng, chiếm 50,76%/tổng nợ quá hạn. Dự báo đến cuối tháng 9/2021, nợ xấu toàn địa bàn vẫn được kiểm soát ở mức an toàn theo mục tiêu đề ra.

2.  Đầu tư và xây dựng

2.1. Vốn đầu tư

Tính đến ngày 17/9/2021, kế hoạch vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Hậu Giang năm 2021 là 16.861,95 tỷ đồng, bao gồm các nguồn như sau:

- Vốn ngân sách nhà nước: 2.435,95 tỷ đồng.

        - Vốn tự có của DN nhà nước và Trung ương đầu tư trên địa bàn: 1.020 tỷ đồng.

        - Các nguồn vốn khác như: Vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI), vốn huy động trong dân và các DN ngoài nhà nước là 13.406 tỷ đồng.

Ước tính tháng 9/2021, vốn đầu tư thực hiện được 1.283,02 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 103,40% và so với cùng kỳ năm trước bằng 68,95%. Hiện nay, tình hình dịch bệnh Covid-19 trong tỉnh cơ bản đã được kiểm soát tốt ở nhiều địa phương và từng bước được xanh hóa trở lại. Các công trình xây dựng đã được phép hoạt động trở lại nhưng vẫn phải thực hiện tốt biện pháp 5K của Bộ Y tế và các biện pháp khác nhằm đảm bảo công tác phòng, chống dịch trong tình hình mới. Vì vậy, dự tính trong tháng 9/2021 vốn đầu tư sẽ tăng.

        Ước tính 9 tháng năm 2021, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội thực hiện được 13.265,66 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (15.829,89 tỷ đồng) bằng 83,80% và so với kế hoạch năm đạt 78,67%. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước thực hiện được 1.545,73 tỷ đồng, bằng 81,57% so với cùng kỳ năm trước và so với kế hoạch năm (2.435,95 tỷ đồng) đạt 63,45%. Dịch Covid-19 bùng phát mạnh từ tháng 7/2021 có diễn biến phức tạp, Tỉnh phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg ngày 31/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ. Do đó, các nhà thầu không đảm bảo các biện pháp phòng, chống dịch phải tạm thời ngừng triển khai thi công nên khối lượng thực hiện các công trình so với cùng kỳ năm 2020 giảm.

2.2. Xây dựng

Ước tính quý III/2021, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành thực hiện được 1.995,26 tỷ đồng, so với quý trước bằng 96,98% và so với cùng kỳ năm trước (2.137,61 tỷ đồng) bằng 93,34%[[1]]. Trong đó, loại hình DN ngoài nhà nước thực hiện được 781,55 tỷ đồng, so với quý trước bằng 80,87% và so với cùng kỳ năm trước bằng 74,09%; loại hình khác gồm xã, phường, thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 1.213,61 tỷ đồng, so với quý trước bằng 111,28% và so với cùng kỳ năm trước bằng 112,08%. Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trình ước thực hiện trong quý III/2021 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 1.270,01 tỷ đồng, so với quý trước bằng 98,88% và so với cùng kỳ năm trước bằng 103,25%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 359,35 tỷ đồng, so với quý trước bằng 92,27% và so với cùng kỳ năm bằng 81,19%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 336,41 triệu đồng, so với quý trước, bằng 98,07% và so với cùng kỳ năm trước bằng 75,11%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 29,49 triệu đồng, so với quý trước bằng 72,69% và so với cùng kỳ năm trước bằng 172,03%.

Tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành 9 tháng năm 2021 thực hiện được 5.932,31 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (5.665,05 tỷ đồng) bằng 104,72%[[2]]. Trong đó, loại hình DN ngoài nhà nước thực hiện được 2.597,51 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 101,46%; loại hình khác gồm xã, phường, thị trấn và hộ dân cư thực hiện được 3.333,67 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 107,37%. Giá trị ngành xây dựng chia theo loại công trình thực hiện 9 tháng năm 2021 như sau:

- Công trình nhà ở thực hiện được 3.611,97 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (3.345,35 tỷ đồng) bằng 107,97%.

- Công trình nhà không để ở thực hiện được 1.192,64 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (1.196,79 tỷ đồng) bằng 99,65%.

- Công trình kỹ thuật dân dụng thực hiện được 959,48 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (1.026,27 tỷ đồng) bằng 93,49%.

- Hoạt động xây dựng chuyên dụng thực hiện được 168,22 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước (96,64 tỷ đồng) bằng 174,07%.

Đến nay, tình hình xây dựng trên địa bàn Tỉnh chủ yếu tập trung vào các công trình nhà ở dân dụng và đường giao thông. Riêng các công trình trọng điểm thuộc ngân sách nhà nước có quy mô lớn thì hầu hết đều do các DN ngoài tỉnh thi công. Do vậy, đề nghị Lãnh đạo các cấp, các ngành có kế hoạch cụ thể, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để các DN xây dựng trong tỉnh được thi công, nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành xây dựng của Tỉnh tăng cao.

3. Tình hình hoạt động của DN

Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư (tính từ ngày 20/8/2021 đến ngày 20/9/2021), toàn tỉnh có 15 DN đăng ký thành lập mới, với tổng số vốn là 151,75 tỷ đồng; số vốn đăng ký bình quân một DN thành lập mới là 10,12 tỷ đồng; số DN gặp khó khăn tạm ngừng hoạt động là 04 DN, với tổng vốn là 1,98 tỷ đồng; số DN hoàn tất thủ tục giải thể là 01 DN, với số vốn 5,1 tỷ đồng.

Tính từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh có 403 DN đăng ký thành lập mới, với tổng vốn 1.738,38 tỷ đồng; số DN gặp khó khăn tạm ngừng hoạt động là 103 DN[[3]], với tổng vốn 465,28 tỷ đồng; số DN hoàn tất thủ tục giải thể là 56 DN[[4]], với tổng vốn 55,70 tỷ đồng.

Về tình hình sản xuất và xu hướng sản xuất kinh doanh của DN: Hiện nay trên địa bàn tỉnh có trên 183 DN đang hoạt động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Trong đó, có 76,92% DN đánh giá tình sản xuất tăng hơn so với quý trước, có 17,95% DN đánh giá không có biến động nhiều so với quý trước và còn lại 5,13% DN đánh giá tình hình sản xuất gặp khó khăn sản lượng không tăng so với quý trước. Vì vậy, tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Hậu Giang kỳ vọng sẽ tăng trưởng cao trong quý tiếp theo.

4. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trong 9 tháng năm 2021, ngành Nông nghiệp tập trung Chỉ đạo chăm sóc, thu hoạch 03 vụ lúa Đông xuân, Hè thu, Thu đông và các loại cây trồng, nông sản, thủy sản khác. Dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản; nhiều sản phẩm trồng trọt, thủy sản đến kỳ thu hoạch, có sản lượng lớn gặp nhiều khó khăn trong tiêu thụ nên giá bán thấp, các cơ quan chức năng tại địa phương phải thực hiện các giải pháp để hỗ trợ cho nông dân tiêu thụ sản phẩm, giảm ùn ứ. Kết quả cụ thể từng lĩnh vực như sau:

4.1. Nông nghiệp

4.1.1. Trồng trọt

Lúa Đông xuân 2020-2021: Xuống giống được 77.022 ha, bằng 100,55% so với kế hoạch tỉnh (kế hoạch 76.600 ha), so với cùng kỳ giảm 1,03% (bằng 798,5 ha). Năng suất chính thức cả vụ đạt 78,18 tạ/ha, tăng 2,1% (bằng 1,61 tạ/ha) so với cùng kỳ, đạt 107,1% so với kế hoạch tỉnh (kế hoạch 73,00 tạ/ha). Sản lượng thu hoạch được 602.156 tấn, tăng 1,06% (bằng 6.287 tấn) so với cùng kỳ, đạt 107,98% so với kế hoạch tỉnh (kế hoạch 557.648 tấn).

Lúa Hè thu: Xuống giống được 76.616 ha, bằng 100,81% so với kế hoạch tỉnh (kế hoạch 76.000 ha). Hiện đã thu hoạch dứt điểm. Năng suất chính thức cả vụ đạt 62,48 tạ/ha, tăng 2,83% so với cùng kỳ. Sản lượng thu hoạch được 478.697 tấn, tăng 1,87% so với cùng kỳ. Các giống sử dụng chủ yếu trong vụ Hè thu là: OM18 chiếm 59,43%, OM5451 chiếm 28,23%, IR50404 chiếm 4,8%, Đài thơm 8 chiếm 4,67%, RVT chiếm 0,72%, giống khác (OM4218, OM576, OM4496, OM2517, OM34, OM6976, ST24, ST25) chiếm 2,15%.

Lúa Thu đông: Hiện xuống giống được 35.358 ha, bằng 96,34% so với kế hoạch tỉnh (kế hoạch 36.700 ha), lúa đang ở giai đoạn mạ đến trổ chín. Đã thu hoạch sớm được hơn 10 ha.

Mía niên vụ 2020 - 2021: Hiện nay đã xuống giống được 5.040 ha, giảm 14,7% (bằng 869 ha) so với cùng kỳ, tập trung nhiều ở huyện Phụng Hiệp và thành phố Ngã Bảy. Hiện đang ở giai đoạn phát triển chồi, thân lóng. Các giống sử dụng chủ yếu như: Roc16, K88-92, KK3, Roc22,... Hiện đã thu hoạch được 801 ha. Diện tích còn lại được 8-9 tháng tuổi, sinh trưởng và phát triển tốt.

Diện tích gieo trồng ngô 9 tháng được 2.069 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 1,48% (bằng 30 ha); diện tích thu hoạch được 1.913 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 4,47% (bằng 82 ha).

Đến nay, diện tích gieo trồng cây rau, đậu các loại được 21.649 ha, so với năm trước tăng 8,26% (bằng 1.652 ha); diện tích thu hoạch được 19.165 ha, so cùng kỳ năm trước tăng 9,86% (bằng 1.721 ha).

Diện tích và sản lượng thu hoạch một số cây lâu năm ăn quả chủ yếu 9 tháng năm 2021 so với cùng kỳ như sau:

- Cây dứa (khóm): Diện tích hiện có 2.908,25 ha, tăng 6,66% (bằng 181,62 ha). Sản lượng thu hoạch được 21.845 tấn, tăng 2,82% (bằng 599,9 tấn) so với cùng kỳ. Tập trung ở thành phố Vị Thanh và huyện Long Mỹ.

- Cây bưởi: Diện tích hiện có 1.646,19 ha, tăng 3,18% (bằng 50,69 ha). Sản lượng thu hoạch được 9.933 tấn, tăng 6,9% (bằng 641 tấn) so với cùng kỳ.

- Cây chanh không hạt: Diện tích hiện có 2.736,95 ha, tăng 15,14% (bằng 359,95 ha). Sản lượng thu hoạch được 20.921 tấn, tăng 12,06% (bằng 2.252 tấn) so với cùng kỳ.

- Cây mãng cầu: Diện tích hiện có 690,22 ha, giảm 2,76% (bằng 19,56 ha). Sản lượng thu hoạch được 4.900 tấn, tăng 38,46% (bằng 1.361 tấn) so với cùng kỳ.

- Cây mít: Diện tích hiện có 8.040 ha, tăng 15,42% (bằng 1.074,29 ha), diện tích tăng chủ yếu ở các huyện như: Châu Thành, Châu Thành A, Phụng Hiệp và thành phố Ngã Bảy. Sản lượng thu hoạch được 46.597 tấn, tăng 15,81% (bằng 6.362,25 tấn) so với cùng kỳ.

Hiện nay, ngành Nông nghiệp tiếp tục theo dõi, dự báo và lập kế hoạch sản xuất, tiêu thụ nhằm đảm bảo tăng trưởng ổn định, điều tiết được cung cầu hàng hóa nông sản phục vụ tại chỗ và cung cấp cho các tỉnh thành. Các địa phương đã khống chế được dịch Covid-19 đẩy mạnh phát triển sản xuất, tiêu thụ nông sản để hỗ trợ và bù đắp lại phần thiếu hụt cho các huyện chưa được khống chế, phấn đấu đạt chỉ tiêu sản xuất chung của toàn tỉnh. Thúc đẩy sản xuất theo chuỗi sản phẩm, xây dựng mã số vùng trồng, truy xuất được nguồn gốc sản phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm, phối hợp các đơn vị tháo gỡ khó khăn, đẩy mạnh quảng bá trực tuyến thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm nông sản tại địa phương trong điều kiện dịch Covid-19.

4.1.2. Chăn nuôi

Ngành chức năng tiếp tục duy trì công tác tiêm phòng dịch bệnh ở đàn gia súc và dịch cúm trên gia cầm; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc vận chuyển, mua bán, giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh. Ước tính đến tháng 9/2021, số đầu con gia súc, gia cầm cụ thể như sau:

- Đàn trâu, bò: Đàn trâu ước được 1.502 con, tăng 3,59% (bằng 52 con) so với cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 123 tấn, tăng 2,73% so với cùng kỳ; Đàn bò ước được 3.600 con, giảm 1,4% (bằng 51 con) so với cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 156 tấn, giảm 2,82% so với cùng kỳ.  

- Đàn heo (không tính heo con chưa tách mẹ): Ước được 105.046 con, tăng 11,31% (bằng 10.674 con)[[5]] so với cùng kỳ. Trong đó: Heo thịt được 91.976 con, tăng 9,92% (bằng 8.302 con). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 14.694 tấn, tăng 1,56% so với cùng kỳ. Ngành chức năng của tỉnh luôn chỉ đạo chặt chẽ việc tái đàn heo đúng theo thời điểm để phù hợp với tình hình thực tế địa phương cũng như rà soát, xác định những cơ sở chăn nuôi lớn đảm bảo thực hiện an toàn sinh học trong chăn nuôi.

- Đàn gia cầm: Ước được 4.513 nghìn con, tăng 2,56% (bằng 112 nghìn con). Trong đó: đàn gà được 1.794 nghìn con, tăng 27,27% (bằng 384 nghìn con). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng được 10.517 tấn, tăng 3,19% sovới cùng kỳ. Nhìn chung đàn gia cầm trên địa bàn tỉnh hiện nay đang có bước phát triển tương đối mạnh do tình hình dịch bệnh được ngành chức năng kiểm soát chặt chẽ, người chăn nuôi an tâm đầu tư chuồng trại và mở rộng quy mô sản xuất do hiệu quả kinh tế cao hơn một số loại hình nuôi khác. Phương thức nuôi công nghiệp, nuôi gia công có xu hướng tiếp tục phát triển khá.

4.2. Lâm nghiệp

Ước tính tháng 9/2021, diện tích rừng trồng mới tập trung được 52,51 ha, so với cùng kỳ tăng 3,55%. Sản lượng gỗ khai thác được 3.740 m3, tăng 1,43% và sản lượng củi khai thác được 2.772 ste, giảm 2,76% so với cùng kỳ.

Ước tính 9 tháng năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung được 179,52 ha, so với cùng kỳ tăng 0,68% (bằng 1,22 ha). Số cây lâm nghiệp trồng phân tán được 1.381 nghìn cây, so với cùng kỳ tăng 3,47%. Sản lượng gỗ khai thác được 11.190 m3, tăng 1,42% (bằng 156 m3) và sản lượng củi khai thác được 59.837 ste, tăng 0,57% (bằng 338 ste) so với cùng kỳ.

Tình hình chăm sóc, bảo vệ và phòng chống cháy rừng được thực hiện nghiêm túc, ngành Kiểm lâm phối hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền giáo dục, vận động nhân dân bảo vệ rừng, tăng cường tuần tra, kiểm soát, trang bị đầy đủ các trang thiết bị sẳn sàng ứng phó với mọi tình huống xảy ra, kiểm tra việc thực hiện phương án phòng cháy chữa cháy rừng của chủ rừng và các địa phương. Vì vậy, từ đầu năm đến nay diện tích rừng được bảo vệ an toàn, không xảy ra trường hợp cháy rừng trên địa bàn tỉnh.

4.3. Thủy sản

Tính từ đầu năm đến nay, diện tích nuôi thủy sản toàn tỉnh được 7.896,19 ha, đạt 97,48% so kế hoạch năm (kế hoạch 8.100 ha) và tăng 2,52% (bằng 194,45 ha) so với cùng kỳ, tăng chủ yếu ở diện tích nuôi các loại cá ruộng, cá khác nuôi ao mương vườn và mô hình nuôi tôm luân canh trên ruộng lúa. Cụ thể, diện tích nuôi cá được 7.730,14 ha, tăng 182,27 ha; diện tích nuôi tôm được 95,43 ha, tăng 6,7 ha, tập trung nhiều ở huyện Long Mỹ. Trong đó, diện tích nuôi cá thát lát được 83,15 ha, tăng 3,48% so cùng kỳ, diện tích nuôi lươn được 14.075 m3, tăng 2,96% so cùng kỳ.

Ước tính 9 tháng năm 2021, tổng sản lượng thuỷ sản được 51.052 tấn, đạt 63,82% so kế hoạch năm (kế hoạch 80.000 tấn), tăng 2,16% (bằng1.079 tấn)[[6]] so với cùng kỳ. Chia ra: Sản lượng thủy sản khai thác được 2.079,49 tấn, tăng 0,99% (bằng 20,45 tấn); sản lượng thủy sản nuôi trồng được 48.973 tấn, tăng 2,21% (bằng 1.058,95 tấn) so cùng kỳ. Trong đó, sản lượng cá thát lát thu hoạch được 4.205,60 tấn; sản lượng lươn được 502,13 tấn. Tình hình dịch Covid-19 đang diễn biến hết sức phức tạp, giá thức ăn tăng, chi phí sản xuất tăng cao, công tác vận chuyển và tiêu thụ không thuận lợi, hiện đang vào thời điểm thu hoạch nhưng người nuôi vẫn chưa thu hoạch hết các diện tích hiện có, phải thực hiện các biện pháp cắt giảm thức ăn kéo dài thời gian nuôi chờ giá cao để bán nên diện tích và sản lượng thu hoạch cũng bị ảnh hưởng và không đạt cao so với kế hoạch. Hiện tại, giá bình quân một số loại thủy sản như: Cá tra giá từ 22.000-24.000 đồng/kg; cá thát lát từ 40.000-55.000 đồng/kg; lươn giá từ 110.000-140.000 đồng/kg,… Nhìn chung, giá các loại thủy sản trên địa bàn tỉnh thời điểm hiện tại giảm trên 10% so với cùng kỳ.

Tóm lại, do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, các cơ sở kinh doanh tạm ngưng hoạt động hoặc hoạt động không hết công suất, việc tiêu thụ một số sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản gặp nhiều khó khăn. Tình hình xuất khẩu thủy sản chưa có nhiều chuyển biến tích cực, dẫn đến thị trường tiêu thụ giảm mạnh, làm ngưng trệ chuỗi cung ứng thực phẩm phục vụ cho xuất khẩu cũng như tiêu thụ nội địa. Ngành Nông nghiệp đang chú trọng phát triển các mô hình nuôi theo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa thủy sản, cung cấp nguồn sản phẩm hàng hóa chất lượng cao phục vụ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu, tăng giá trị sản phẩm từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, đem lại hiệu quả kinh tế, tạo tâm lý an tâm cho người dân để tập trung đầu tư và mở rộng sản xuất, vừa góp phần phát triển kinh tế của địa phương, đồng thời nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống gia đình ở nông thôn.

5. Tình hình sản xuất công nghiệp

Ước thực hiện tháng 9/2021, giá trị sản xuất công nghiệp: Tính theo giá so sánh 2010, được 1.999,28 tỷ đồng, tăng 10,31% so với tháng trước và giảm 8,92% so với cùng kỳ năm trước; tính theo giá thực tế được 2.925,22 tỷ đồng, tăng 8,60% so với tháng trước và giảm 7,53% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay, dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh đang diễn biến phức tạp, nhưng các DN và cơ sở sản xuất cá thể công nghiệp đã có kinh nghiệm và đã xây dựng kế hoạch sản xuất trong tình hình mới, để trở lại hoạt động vào cuối tháng 9/2021. Vì vậy, ước giá trị sản xuất tháng này tăng so với tháng trước nhưng giảm so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân là do một số DN lớn có sử dụng nhiều lao động, không thể hoạt động hết công suất trong tình hình như hiện nay.

Ước thực hiện 9 tháng năm 2021, giá trị sản xuất công nghiệp: Tính theo giá so sánh 2010 được 20.297,69 tỷ đồng, tăng 2,52% so với cùng kỳ năm trước và đạt 63,99% so với kế hoạch năm; tính theo giá thực tế được 29.593 tỷ đồng, tăng 3,35% so với cùng kỳ năm trước và đạt 63,98% so với kế hoạch năm, trong đó:

- Khu vực kinh tế nhà nước, tạo ra được giá trị sản xuất 270,64 tỷ đồng, tăng 11,59% so với cùng kỳ, đóng góp 0,10 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

- Khu vực kinh tế tư nhân, tạo ra được giá trị sản xuất 21.625,80 tỷ đồng, tăng 4,11% so với cùng kỳ, đóng góp 2,98 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

- Khu vực kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, tạo ra được giá trị sản xuất 7.696,55 tỷ đồng, tăng 1,02% so với cùng kỳ, đóng góp 0,27 điểm phần trăm vào mức tăng chung.

Nhìn chung, sản xuất công nghiệp 9 tháng năm 2021 trên địa bàn tỉnh có tăng, nhưng vẫn có một số ngành nghề phát triển chưa bền vững do bị tác động của dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp và một số yếu tố khác như giá nguyên, vật liệu đầu vào, thị trường xuất khẩu, điện, xăng dầu. Do vậy, các DN cần nỗ lực hơn nữa để triển khai nhiều giải pháp mang tính phát triển bền vững. Bên cạnh đó, các ngành chức năng cũng cần có kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy các DN đang đầu tư sớm đi vào hoạt động đúng theo kế hoạch của DN đã đề ra như: Nhà máy Nhiệt điện Sông Hậu 1; Công ty TNHH Sunpro Capital Group Limited,… để giá trị sản xuất công nghiệp tăng cao trong những tháng cuối năm và phát triển ổn định trong những năm tới.

Đối với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Dự tính tháng 9/2021, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,58% so với tháng trước và giảm 8,75% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,65% so với tháng trước và giảm 8,85% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 3,52% so với tháng trước và tăng 9,27% so với cùng kỳ (nguyên nhân tăng là do Cty cổ phần Điện mặt trời VKT - Hòa An mới đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định từ đầu năm đến nay); cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải giảm 2,69% so với tháng trước và tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước (nguyên nhân giảm so với tháng trước là do hiện nay đang vào mùa mưa, nên người dân sử dụng nước mưa để sinh hoạt thay cho nước máy).

Dự tính 9 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 2,97% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 2,92%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,79%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,01%, nên làm cho chỉ số sản xuất công nghiệp chung của toàn tỉnh tăng so với cùng kỳ.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 9 tháng năm 2021 so với cùng kỳ như sau: Tôm đông lạnh sản lượng sản xuất được 23.390 tấn, giảm 1,26%; gạo đã xay xát toàn bộ hoặc sơ bộ sản lượng sản xuất được 260.794 tấn, tăng 64,99% (Công ty CP chế biến xuất khẩu gạo Quang Phát Hậu Giang mới đầu tư hoàn thành đi vào hoạt động ổn định từ đầu năm đến nay, nên đã làm tăng đột biến ngành này); thức ăn cho gia súc sản lượng sản xuất được 199.345 tấn, tăng 17,68%; bia đóng chai sản xuất được 59.017 nghìn lít, tăng 81,34%; nước có vị hoa quả (cam, táo,…) sản lượng sản xuất được 112.487 nghìn lít, tăng 22,52%; xi măng Portland đen sản lượng sản xuất được 465.354 tấn, tăng 2,78%.

6. Hoạt động thương mại, dịch vụ

6.1. Bán lẻ hàng hóa, doanh thu và dịch vụ

Tình hình dịch bệnh Covid-19 trên cả nước nói chung, các tỉnh, thành phố khu vực Tây Nam Bộ nói riêng vẫn còn diễn biến phức tạp. Tại Hậu Giang công tác phòng chống dịch cơ bản đã được thực hiện khá tốt; đến nay trên 90% (69/75) xã, phường, thị trấn đã được công nhận “vùng xanh”. Nhằm nới lỏng giãn cách xã hội, khôi phục phát triển kinh tế - xã hội, vừa đảm bảo chống dịch bảo vệ sức khỏe Nhân dân, UBND tỉnh ban hành Công văn 1734/UBND-NCTH ngày 16 tháng 9 năm 2021 về việc áp dụng một số biện pháp phòng chống dịch trong trạng thái bình thường mới trên địa bàn toàn tỉnh (trừ thị xã Long Mỹ). Các hoạt động mua bán, kinh doanh; nhà hàng, khách sạn, quán ăn,… dần được khôi phục trở lại trạng thái bình thường mới, tuy nhiên vẫn tiếp tục tạm dừng các hoạt động không thiết yếu như: karaoke, massage, xông hơi, điểm tư vấn sức khỏe bằng phương pháp ngồi máy, nằm máy massage, trò chơi điện tử,....

Vì vậy, ước tháng 9/2021, tình hình hoạt động thương mại dịch vụ có tăng so với tháng trước nhưng vẫn giảm so với cùng kỳ. Cụ thể: tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 2.776,44 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các DN đóng trên địa bàn tỉnh là 251,61 tỷ đồng), so với thực hiện tháng trước bằng 113,89% và so với cùng kỳ năm trước bằng 77,63%. Chia ra:

- Doanh thu bán lẻ hàng hóa được 2.404,30 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 109,67%[[7]] và so với cùng kỳ năm trước bằng 87,39%.

- Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành được 312,71 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 150,68% và so với cùng kỳ năm trước bằng 60,12%, nguyên nhân tăng cao so với tháng trước là do tại các địa bàn vùng xanh các cơ sở kinh doanh lưu trú, ăn uống được phép hoạt động trở lại (chỉ trừ các cơ sở kinh doanh đồ uống có cồn không được phép kinh doanh tại chỗ). Cụ thể: Doanh thu dịch vụ lưu trú được 5,03 tỷ đồng, so tháng trước tăng 38,49%, so cùng kỳ giảm 49,91%; doanh thu dịch vụ ăn uống, được 307,68 tỷ đồng, so tháng trước tăng 50,90% và so cùng kỳ giảm 39,68%.

- Doanh thu dịch vụ khác được 59,43 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 157,19% và so với cùng kỳ năm trước bằng 19,46%. Trong tháng 9/2021, các ngành dịch vụ đều tăng so với tháng trước chỉ riêng dịch vụ vui chơi, giải trí vẫn tiếp tục tạm dừng, cụ thể: Dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 253,70%, do các trường học đã khai giảng năm học mới, các cửa hàng bán đồ dùng, thiết bị giáo dục được phép mở cửa hoạt động sau nhiều tháng đóng cửa nghỉ dịch; dịch vụ khác tăng 102,73%, do các cơ sở sửa chữa máy vi tính, đồ dùng cá nhân và tiệm tóc đã được phép mở cửa hoạt động; dịch vụ hành chính hỗ trợ tăng 33,07%; dịch vụ kinh doanh bất động sản tăng 35,15% và dịch vụ y tế ước tăng 8,67%.

Cộng dồn 9 tháng năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng được 30.530,60 tỷ đồng (Trong đó, doanh thu chi nhánh của các DN đóng trên địa bàn tỉnh là 2.523,89 tỷ đồng), so với cùng kỳ năm trước bằng 103,31%, so với kế hoạch năm đạt 71,84%. Chia ra: Doanh thu bán lẻ hàng hóa được 23.953,63 tỷ đồng, so với cùng kỳ bằng 104,84%, đạt 76,69% kế hoạch năm; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và du lịch lữ hành được 4.304,34 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 101,83%, đạt 59,62% kế hoạch năm; doanh thu dịch vụ khác được 2.272,63 tỷ đồng, so với cùng kỳ bằng 91,69% và đạt 56,16% kế hoạch năm.

6.2. Tình hình xuất nhập khẩu

Tình hình dịch bệnh Covid-19 trên địa bàn cơ bản đã được kiểm soát tốt, nhiều xã, phường, thị trấn đủ điều kiện để công nhận vùng xanh. Do đó, dự đoán trong tháng tới các DN sẽ nhanh chóng trở lại hoạt động sản xuất kinh doanh trong trạng thái bình thường mới, nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh phần lớn sẽ được khôi phục. Vì vậy, giá trị xuất đi trong tháng sẽ có nhiều khởi sắc hơn so với tháng trước, giá trị xuất khẩu sẽ tăng.

Ước thực hiện tháng 9/2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp thực hiện được 57.283 nghìn USD so với tháng trước bằng 121,90% và so với cùng kỳ năm trước bằng 74,10%. Chia ra: Xuất khẩu được 40.486 nghìn USD, so với tháng trước bằng 121,96% và so với cùng kỳ năm trước bằng 73,80%; Nhập khẩu được 16.797 nghìn USD, so với tháng trước bằng 121,74% và so với cùng kỳ năm trước bằng 74,83%.

Ước thực hiện 9 tháng năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa trực tiếp, uỷ thác và các dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng thực hiện được 685.321 nghìn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 93,31% và so với kế hoạch năm đạt 63,39%. Chia ra:

- Xuất khẩu được 413.337 nghìn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 95,68% và so với kế hoạch năm đạt 56,21%.

        - Nhập khẩu được 237.724 nghìn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 92,01% và so với kế hoạch năm đạt 84,42%.

- Uỷ thác xuất khẩu được 389 nghìn USD, so với cùng kỳ năm trước bằng 21,20% và so với kế hoạch năm đạt 32,42%.

- Dịch vụ đại lý chi trả ngoại tệ của các tổ chức tín dụng được 33.871 nghìn USD so với cùng kỳ năm trước bằng 80,21% và so với kế hoạch năm đạt 53,76%.

Nhìn chung, tình hình hoạt động xuất, nhập khẩu trong 9 tháng năm 2021, có sự tăng trưởng không ổn định. Trong 6 tháng đầu năm có sự tăng trưởng cao ấn tượng tăng 14,69%, trong khi quý III do ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19 đã làm giá trị xuất, nhập khẩu sụt giảm mạnh. Do đó, tổng giá trị xuất, nhập khẩu chung trong 9 tháng năm 2021 có mức tăng trưởng âm, chỉ bằng 93,31%, giảm 6,69% so với cùng kỳ năm trước.

Sự tăng trưởng trong hoạt động xuất, nhập khẩu trên địa bàn chủ yếu đến từ các DN ngoài nhà nước và các DN đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hai khu vực này có tỷ trọng đóng góp gần tương đương nhau trong tổng kim ngạch chung (ngoài nhà nước chiếm 53,08%, khu vực FDI chiếm khoảng 46,92%). Trong quý III/2021, các DN ở cả hai khu vực đều có mức sụt giảm mạnh, một số DN không có giá trị xuất, nhập khẩu, do đó mức tăng trưởng 9 tháng của cả 02 khu vực đều sụt giảm so với cùng kỳ năm trước, DN ngoài nhà nước giảm 5,28% và FDI giảm 6,72%.

Về thị trường, trong 9 tháng năm 2021, các DN đã xuất hàng hóa đi được khoảng 73 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cơ cấu các thị trường xuất khẩu không có sự thay đổi nhiều, các thị trường xuất khẩu lớn vẫn là các nước khối liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước trong khu vực Đông Nam Á, các thị trường khác còn lại chỉ có giá trị tương đối hoặc không đáng kể. Giá trị xuất, nhập khẩu của các DN trên địa bàn xuất đi sang hai thị trường Hoa Kỳ, Trung Quốc là lớn nhất và chiếm tỷ trọng cao nhất. Trong  đó, giá trị xuất đi sang thị trường Hoa Kỳ có giá trị cao nhất, chiếm tỷ trọng 25,64%, Trung Quốc đứng thứ 2, chiếm 18,42%. Các mặt hàng xuất sang hai thị trường này chủ yếu là thủy sản, giày thể thao, riêng thị trường Trung Quốc có thêm các mặt hàng nông sản, giấy và các mặt hàng thức ăn chăn nuôi khác.

Tuy nhiên, hiện nay, tình hình chiến tranh thương mại Mỹ - Trung vẫn đang tiếp tục diễn ra với diễn biến phức tạp, khó lường có thể sẽ khiến hoạt động xuất, nhập khẩu của các DN trên địa bàn nói riêng và các DN của Việt Nam nói chung trong thời gian tới sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc ký kết các đơn hàng, hợp đồng xuất khẩu mới cũng như nhập khẩu các nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất. Các DN vẫn còn phụ thuộc tương đối vào việc nhập khẩu nguyên liệu sản xuất, hóa chất cũng như máy móc thiết bị từ thị trường Trung Quốc.

Trong diễn biến dịch bệnh phức tạp và tình hình chiến tranh thương mại Mỹ - Trung vẫn tiếp tục căng thẳng. Hiệp định Thương mại tự do EVFTA có hiệu lực thực thi trong thời gian qua đã phần nào được xem là điểm sáng trong hoạt động xuất, nhập khẩu. Hiệp định đã mang lại nhiều cơ hội lớn và tạo cú hích mạnh mẽ cho các DN Việt Nam có thêm động lực để phát triển và hòa nhập sâu rộng vào thị trường thế giới, phát triển thêm các chuỗi giá trị cung ứng bền vững, tìm kiếm sự hợp tác đầu tư thương mại để mở rộng thêm thị trường xuất khẩu. Tuy vậy, với tình hình dịch bệnh Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp như hiện nay và chưa có điểm dừng gây khó khăn trong hoạt động xuất, nhập khẩu trong các tháng cuối năm là điều mà các DN chắc chắn phải đối mặt. Vấn đề bị đứt gãy chuỗi sản xuất là điều hoàn toàn có thể xảy ra nếu DN không có các biện pháp ứng phó kịp thời. Mặt khác, vấn đề nguồn lao động, nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, các DN cũng có thể gặp rất nhiều khó khăn. Dịch bệnh làm ảnh hưởng xấu đến quá trình thu mua nguyên liệu, chi phí vận chuyển tăng cao làm tăng chi phí sản xuất, đồng thời ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất của DN và sự tăng trưởng chung của hoạt động xuất, nhập khẩu. Vì vậy, trong thời gian tới các ngành chức năng cần có các bước điều chỉnh quy định chính sách phù hợp với tình hình dịch bệnh để giúp DN từng bước vượt qua khó khăn, giúp hoạt động xuất nhập khẩu phục hồi tăng trưởng.

6.3. Vận tải hàng hóa và hành khách

Dịch Covid-19 bùng phát mạnh từ tháng 7/2021 cho đến nay đã tác động gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tất cả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn. Trong đó, hoạt động ngành dịch vụ vận tải có thể nói là ngành chịu tác động mạnh mẽ và nặng nề nhất. Hầu hết các hoạt động vận chuyển hành khách, hàng hóa đường bộ và đường thủy khác đều phải ngưng hoạt động. Thêm vào đó, các tỉnh xung quanh địa bàn Hậu Giang dịch Covid-19 vẫn còn đang diễn biến phức tạp, khó lường, vẫn còn đang áp dụng các biện pháp phong tỏa theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ gây khó khăn cho nhu cầu đi lại của người dân và hoạt động vận chuyển của các cơ sở vận tải trên địa bàn. Vì vậy, giá trị vận tải sụt giảm sâu trong quý III/2021 và trực tiếp ảnh hưởng đến giá trị vận tải chung của 9 tháng năm 2021.

Ước tính tháng 9/2021, tổng doanh thu vận tải, dịch vụ kho bãi được 51,62 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 140,53% và so với cùng kỳ năm trước bằng 51,58%. Trong đó: Đường bộ được 15,45 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 232,02% và so với cùng kỳ năm trước bằng 49,24%; đường thủy được 11,82 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 186,70% và so với cùng kỳ năm trước bằng 36,04%; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 24,35 tỷ đồng, so với tháng trước bằng 102,55% và so với cùng kỳ năm trước bằng 67,82%.

Ước tính 9 tháng năm 2021, tổng doanh thu vận tải, kho bãi được 729,23 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 86,51%. Trong đó: Đường bộ được 262,69 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 96,63%; đường thủy được 230,05 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 78,72%; hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải được 236,49 tỷ đồng, so với cùng kỳ năm trước bằng 84,80%.

Nhìn chung, tình hình hoạt động vận tải, kho bãi của các DN và cơ sở cá thể trên địa bàn trong 9 tháng năm 2021 có sự tăng trưởng không ổn định, có thể chia làm hai giai đoạn để đánh giá. Giai đoạn 1, trong 6 tháng đầu năm có sự tăng trưởng ở mức khá cao tăng khoảng 5,81% so với cùng kỳ. Giai đoạn 2 từ tháng 7 đến nay do ảnh hưởng của bùng phát dịch khiến giá trị sụt giảm mạnh, tính đến 9 tháng năm 2021 giá trị vận tải giảm 13,49%. Hiện nay, hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn chủ yếu diễn ra ở đường bộ và đường thủy với 3 ngành hoạt động chính: Vận chuyển hành khách, hàng hóa và dịch vụ kho bãi logistic. Tỷ trọng đóng góp của các ngành này trong 9 tháng năm 2021 khá chênh lệch nhau trong tổng giá trị vận tải chung, lần lượt chiếm tỷ trọng 25,16%, 42,40% và 32,44%. Vận chuyển hàng hóa và các dịch vụ logistic trong những năm gần đây có mức tăng trưởng nhanh và ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu ngành. Hệ thống giao thông đường bộ ngày càng được chú trọng đầu tư, nâng cấp và chính sách thu hút đầu tư hiệu quả đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các DN vận tải hàng hóa và logistic có quy mô lớn đến địa bàn tỉnh đầu tư. Vì vậy, giá trị dịch vụ vận tải ngày càng được nâng cao.

6.3.1. Vận chuyển, luân chuyển hàng hóa

Ước thực hiện tháng 9/2021, toàn tỉnh vận chuyển được 183,16 nghìn tấn hàng hóa các loại (14.405,04 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 199,10% (158,50%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 32,79% (31,69%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 52,57 nghìn tấn (6.161,62 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 129,64% (120,92%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 70,53% (70,32%).

- Đường sông thực hiện được 130,59 nghìn tấn (8.243,42 nghìn tấn.km) so với thực hiện tháng trước bằng 253,87% (206,44%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 26,98% (22,47%).

Ước thực hiện 9 tháng năm 2021, toàn tỉnh vận chuyển được 3.862,38 nghìn tấn hàng hóa các loại (322.159,07 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 80,27% (83,47%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 770,52 nghìn tấn (78.191,48 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 124,87% (110,28%). Trong 6 tháng đầu năm có DN mới hoạt động giá trị lớn (Công ty TNHH TMDV vận tải Quốc Thịnh) nên vận chuyển, luân chuyển hàng hóa tăng cao; trong quý III/2021 mặc dù bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh nhưng vận chuyển, luân chuyển hàng hóa đường bộ vẫn tăng so với cùng kỳ.

- Đường sông thực hiện được 3.091,85 nghìn tấn (243.967,60 nghìn tấn.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 73,70% (77,43%).

6.3.2. Vận chuyển, luân chuyển hành khách

Ước thực hiện tháng 9/2021, toàn tỉnh thực hiện được 1.180,70 nghìn lượt hành khách (12.234,53 nghìn HK.km), so với tháng trước bằng 189,66% (320,57%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 45,89% (31,48%). Chia ra:

        - Đường bộ vận chuyển được 99,97 nghìn lượt hành khách (6.910,14 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước khối lượng vận chuyển, luân chuyển tăng rất cao do một số cơ sở được phép hoạt động trở lại và so với cùng kỳ năm trước bằng 34,85% (25,89%).

- Đường sông vận chuyển được 1.080,74 nghìn lượt hành khách (5.324,39 nghìn HK.km), so với thực hiện tháng trước bằng 174,70% (152,25%) và so với cùng kỳ năm trước bằng 47,28% (43,72%).

        Ước thực hiện 9 tháng năm 2021, toàn tỉnh vận chuyển được 20.460,39 nghìn lượt hành khách (264.830,09 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 88,27% (78,15%). Chia ra:

- Đường bộ thực hiện được 3.361,54 nghìn lượt hành khách (180.973,67 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 81,32% (75,81%).

- Đường sông thực hiện được 17.098,85 nghìn lượt hành khách (83.856,42 nghìn HK.km) so với cùng kỳ năm trước bằng 89,78% (83,74%).

7. Các vấn đề về xã hội

7.1. Giáo dục

Hiện nay, trước tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, để đảm bảo an toàn sức khỏe cho tất cả học sinh, học viên trên địa bàn tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Hậu Giang đã kịp thời tổ chức thực hiện có hiệu quả phương châm “tạm dừng đến trường, không dừng học”, đảm bảo an toàn cho học sinh, giáo viên hoàn thành nhiệm vụ năm học 2021 -2022, UBND tỉnh đã ban hành công văn số 1741/UBND-NCTH, ngày 17/9/2021 về việc tổ chức dạy học trong thời gian phòng, chống dịch Covid-19, với nội dung các cơ sở giáo dục trên địa bàn Tỉnh không tổ chức dạy học trực tiếp tại trường, triển khai tổ chức dạy học trực tuyến kết hợp dạy học trên truyền hình, cụ thể như sau:

- Cấp mầm non: Chờ đến khi có thông báo mới.

- Cấp tiểu học: Tổ chức học từ ngày 27/9/2021, với phương thức tổ chức dạy học như sau: Lớp 1, lớp 2: tổ chức học qua truyền hình, không dạy học trực tuyến, không kiểm tra đánh giá định kỳ trong thời gian này. Khi học sinh đi học trở lại phải tổ chức ôn tập trước khi kiểm tra, đánh giá định kỳ. Lớp 3, lớp 4, lớp 5: tổ chức dạy học trực tuyến là chủ đạo, tổ chức học qua truyền hình là bổ trợ. Nhà trường chỉ đạo Tổ/Khối chuyên môn tinh giản nội dung đảm bảo yêu cầu cần đạt về kiến thức, kĩ năng đối với từng môn học, không kéo dài thời gian như học trực tiếp trên lớp để đảm bảo sức khỏe, tâm sinh lý của học sinh khi phải tiếp xúc với máy tính, điện thoại, tivi,…

- Cấp Trung học cơ sở, Trung học phổ thông và Giáo dục thường xuyên: Tổ chức học từ ngày 20/9/2021 đối với một số môn cơ bản gồm: Toán, Ngữ văn, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Tiếng Anh, Lịch sử, Địa lí, môn Khoa học tự nhiên, môn Lịch sử và Địa lí, môn Giáo dục công dân lớp 12.

Trong 9 tháng năm 2021, Sở Giáo dục và Đào tạo tập trung vào hoạt động chuyên môn của các ngành học, cấp học như sau:

- Giáo dục tiểu học - mầm non: Tổ chức Hội thảo dạy học lớp 1, đánh giá học sinh tiểu học theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT. Tổ chức Hội thi “Viết chữ đẹp” cấp tiểu học; Hoàn thành tài liệu giáo dục địa phương lớp 2; Hoàn thành kiểm tra học kỳ II, năm học 2020 – 2021; Kiểm tra hoạt động chuyên môn các trường tiểu học, trường dạy trẻ khuyết tật, trường phổ thông có cấp tiểu học; Kiểm định chất lượng giáo dục, kiểm tra công nhận trường đạt chuẩn quốc gia các trường đăng ký; Hướng dẫn công tác tuyển sinh năm học 2021-2022; Hướng dẫn việc thực hiện sử dụng sách giáo khoa chuẩn bị năm học 2021-2022.

- Giáo dục trung học - Giáo dục thường xuyên: Tham gia cuộc thi Khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học cấp quốc gia tại tỉnh Thừa Thiên Huế, đạt 2 giải “Triển vọng”; Tổ chức Cuộc thi hùng biện Tiếng Anh cho học sinh Trung học cơ sở, Trung học phổ thông lần thứ nhất năm 2021 tại Trường Trung học phổ thông chuyên Vị Thanh; Hoàn thành kiểm tra học kỳ II, năm học 2020-2021; Chỉ đạo các đơn vị tổ chức ôn tập đối với học sinh lớp 12, chuẩn bị cho Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2021; Thành lập đội tuyển và ban hành kế hoạch ôn luyện học sinh giỏi tham dự thi cấp quốc gia các môn văn hóa lớp 12, năm học 2021-2022; Tham mưu tổ chức Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 Trung học phổ thông, Trung học phổ thông chuyên năm học 2021-2022 trên địa bàn tỉnh; Tham gia công tác sao in đề thi và tổ chức thi thử Kỳ thi Tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2021; Hướng dẫn các đơn vị tham gia Cuộc thi “Tuổi trẻ học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” năm 2021; Tập huấn tài liệu nội dung giáo dục địa phương tỉnh Hậu Giang lớp 6; chỉ đạo cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán tham gia và hoàn thành việc bồi dưỡng trực tuyến mô đun 4.

7.2. Tình hình văn hóa, thể thao

Trong 9 tháng năm 2021, ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ đạo công tác tổ chức Lễ hội giao thừa mừng Xuân Tân Sửu 2021; tuyên truyền cổ động trực quan và trang trí khánh tiết họp mặt kỷ niệm 91 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (3/2/1930 -3/2/2021); tổ chức Hội báo Xuân, Triển lãm ảnh và Cuộc thi bình chọn ấn phẩm Xuân Tân Sửu 2021; thực hiện công tác tuyên truyền Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2021 - 2026; Tuyên truyền ngày Giỗ tổ Hùng Vương mùng 10/3 âm lịch; kỷ niệm 46 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2021), 135 năm Ngày Quốc tế Lao động (1/5/1886 - 1/5/2021); kỷ niệm 67 năm chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 – 07/5/2021). Tổ chức đợt phim kỷ niệm 76 năm Ngày Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phòng, chống dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh; tổ chức tuyên truyền kỷ niệm 74 năm Ngày Thương binh – Liệt sĩ; kỷ niệm 76 năm Ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9.

Về hoạt động thư viện: Trong 9 tháng năm 2021, hệ thống Thư viện công cộng tỉnh Hậu Giang đã phục vụ 521.490 lượt người (đạt 66,59%), với 1.042.980 lượt sách báo (đạt 66,59%), cấp mới 2.954 thẻ bạn đọc (đạt 61,54%). Tổ chức Ngày hội đọc sách năm 2021 với chủ đề “Sách - Nâng tầm tri thức”; Tổ chức Cuộc thi “Đại sứ Văn hóa đọc” từ ngày 22/4/2021 đến ngày 31/5/2021, có 5.453 bài dự thi từ 63 trường học trên địa bàn tỉnh. Vòng sơ khảo có 2 trường đạt giải tập thể, 14 bài thi được chọn thi tiếp vòng chung khảo toàn quốc. Tham gia Cuộc thi “Giới thiệu sách trực tuyến năm 2021” với chủ đề “Cuốn sách tôi yêu” do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức gồm: Hậu Giang hướng đến tương lai và Xin đừng làm mẹ khóc.

Về hoạt động bảo tồn - bảo tàng và phát huy giá trị di sản văn hóa: Triển lãm thường xuyên và lưu động 25 cuộc phục vụ các sự kiện lớn của tỉnh như: Hội thảo “Phát triển du lịch cộng đồng theo Bộ Tiêu chí chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP)”; Hậu Giang chào năm mới 2021”;... Sưu tầm tài liệu, hiện vật, hình ảnh hoàn chỉnh hồ sơ khoa học đề nghị xếp hạng di tích lịch sử: Khu tưởng niệm liệt sĩ Lữ đoàn Pháo binh 6, Căn cứ Khu ủy, Quân khu ủy khu 9 và nơi ở thời niên thiếu của luật sư Nguyễn Hữu Thọ ở Hậu Giang, Chùa Phổ Minh, phường 4, thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Khách xem triển lãm và tham quan các di tích, nhà truyền thống huyện, phòng truyền thống các xã Văn hóa 9 tháng năm 2021 được 140.145 lượt khách đạt 70,1% so với kế hoạch năm 2021. Sưu tầm 386 hiện vật đạt 120,6% so với kế hoạch năm 2021.

Sự nghiệp thể dục thể thao:

- Tổ chức giải Vô địch Teakwondo tỉnh Hậu Giang năm 2020; Vô địch Bóng đá nam tỉnh Hậu Giang năm 2020; Quần vợt “Mừng Đảng quang vinh – mừng Xuân Tân Sửu tỉnh Hậu Giang năm 2021.

- Đăng cai tổ chức giải vô địch Lân Sư Rồng quốc gia lần thứ VIII năm 2021. Tham gia giải có 23 Câu lạc bộ Lân Sư Rồng mạnh đến từ 13 tỉnh, thành phố trong cả nước.

- Thể thao thành tích cao: Đã tham gia 13 giải toàn quốc kết quả đạt: 06 huy chương vàng, 09 huy chương bạc và 13 huy chương đồng.

7.3. Lao động và an sinh xã hội

7.3.1. Về tình hình đời sống dân cư và giải quyết việc làm

Nhìn chung, trong 9 tháng năm 2021 nhờ được sự quan tâm của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương và sự nổ lực vươn lên của bản thân mỗi người dân, nên đời sống của hầu hết các tầng lớp dân cư trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra tình trạng thiếu đói. Cụ thể:

- Đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương:

+ Hiện nay, cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong khối hành chính sự nghiệp mức thu nhập bình quân hàng tháng vẫn ổn định so với cùng kỳ năm 2020. Ước bình quân mức thu nhập người/tháng của mỗi lao động trong khu vực nhà nước do địa phương quản lý là 5,9 triệu đồng, thu nhập mỗi lao động trong khu vực nhà nước do trung ương quản lý là 7,5 triệu đồng.

+ Đối với người lao động thuộc khối DN: Ước thu nhập bình quân người/tháng của công nhân trực tiếp sản xuất thuộc các DN trong khu vực nhà nước do địa phương quản lý là 5,1 triệu đồng và trung ương quản lý là 6,2 triệu đồng.

+ Đối với lao động ngoài nhà nước, hiện nay thu nhập khá bấp bênh, thậm chí có phần giảm sút do tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, trên địa bàn tỉnh thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị 08/CT-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang để ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh. Do đó, nhiều DN phải ngừng sản xuất và một số ít DN đáp ứng được yêu cầu 3 tại chỗ nhưng cũng chỉ giữ lại được một số ít công nhân làm việc 3 tại chỗ, còn lại đa phần công nhân phải nghỉ việc. Ước tính thu nhập bình quân của lao động trong khối DN tư nhân khoảng 4,5 triệu đồng/người/tháng (giảm khoảng 1,3% so cùng kỳ năm trước). Đối với lao động thuộc DN có vốn đầu tư nước ngoài ước thu nhập bình quân 6,2 triệu đồng/người/tháng (giảm khoảng 2% so cùng kỳ năm trước).

- Đời sống dân cư nông thôn: Do đặc thù kinh tế Hậu Giang là tỉnh nông nghiệp, dân số phần đông sống ở vùng nông thôn và hoạt động nông nghiệp với nguồn thu nhập chính từ trồng trọt, chăn nuôi và thủy sản, điều này cũng đồng nghĩa với việc chịu ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh, khí hậu.... Do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp đã ảnh hưởng đến thu nhập và cuộc sống của người dân. Đặc biệt là trong quý III/2021, Tỉnh phải áp dụng nhiều biện pháp phòng, chống dịch Covid-19 cấp bách, nghiêm ngặt do có nhiều ca nhiễm xảy ra trên địa bàn tỉnh, vì vậy đã ảnh hưởng tiêu cực toàn diện đến nền kinh tế của tỉnh, các mặt hàng nông sản khó tìm được đầu ra, giá giảm mạnh đã làm cho cuộc sống của người dân bị giảm sút hơn so với cùng kỳ.

Vấn đề giải quyết việc làm cũng được Lãnh đạo tỉnh đặc biệt quan tâm, do tỉnh Hậu Giang là một tỉnh nông nghiệp, nguồn lao động trẻ, dồi dào nhưng chưa được đào tạo đúng mức, tay nghề thấp chiếm tỷ lệ lớn nên chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội, người lao động gặp không ít khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm, đặc biệt là trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 như hiện nay.

Để thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách giải quyết việc làm cho người lao động, ngành Lao động thương binh và xã hội phối hợp với các ngành có liên quan, thông qua các Chương trình phát triển kinh tế - xã hội, tư vấn giới thiệu việc làm, tạo việc làm trong và ngoài tỉnh. Kết quả cụ thể trong 9 tháng năm 2021 như sau:

- Giải quyết việc làm và tạo việc làm mới cho 11.752/15.000 lao động, đạt 78,3% kế hoạch năm, thấp hơn 1.482 lao động (bằng 9,92%) so với cùng kỳ năm 2020.

- Công tác quản lý người lao động nước ngoài: Hỗ trợ cho 179 chuyên gia nước ngoài đủ điều kiện thủ tục nhập cảnh vào làm việc tại tỉnh Hậu Giang. Chấp thuận 02 vị trí công việc được sử dụng người lao động nước ngoài của Công ty TNHH UNIPAX Vị Thanh và Công ty TNHH MTV Bách Mỹ Nội Y.

- Công tác hỗ trợ tuyển dụng lao động cho DN: Hỗ trợ tuyển dụng được 1.504 lao động cho các DN; hỗ trợ giới thiệu, cung ứng được 1.694 lao động cho các DN trong và ngoài tỉnh (không có ký kết). Ngoài ra, tỉnh cũng đẩy mạnh triển khai các hoạt động về thông tin thị trường lao động hỗ trợ DN và người lao động bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tư vấn giới thiệu việc làm nhằm hạn chế tiếp xúc, nâng cao hiệu quả tư vấn, giới thiệu việc làm, đảm bảo vừa thực hiện tốt các công tác phòng, chống dịch bệnh và đáp ứng kịp thời yêu cầu của thị trường lao động trong tình hình mới.

- Công tác giáo dục nghề nghiệp: Các Trường, cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn tỉnh đã đào tạo nghề được 5.194/6.500 lao động, đạt 80% kế hoạch năm. Trong đó: đào tạo Cao đẳng, Trung cấp 207 lao động; đào tạo nghề thường xuyên 4.942 lao động.

7.3.2. An sinh xã hội

Công tác thực hiện chính sách Người có công luôn được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo sâu sát, nhất là việc triển khai tổ chức thực hiện các quy định mới về chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, công tác rà soát thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công. Kết quả thực hiện trong 9 tháng năm 2021 như sau:

- Tiếp nhận mới 1.539 hồ sơ các loại. Đã xét giải quyết 1.539 hồ sơ, trong đó đạt 1.322 hồ sơ; không đạt 217 hồ sơ, không còn hồ sơ tồn đọng. Thực hiện đầy đủ các chế độ, chính sách ưu đãi người có công.

- Kết quả tổ chức các hoạt động kỷ niệm 74 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2021):

+ In ấn và phát hành 21.000 Thư chúc của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh Hậu Giang nhân kỷ niệm 74 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ(27/7/1947 - 27/7/2021) đến tay Người có công với cách mạng.

+ Tổ chức tặng 288 phần quà cho các Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh và người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên (sức khỏe yếu, không đi lại được); thăm và tặng quà cho người có công với cách mạng đang nằm điều trị tại các Bệnh viện và Trung tâm Y tế trên địa bàn tỉnh; hộ nghèo có thành viên là người có công với số tiền 238 triệu đồng.

+ Tổ chức cấp phát 17.309 phần quà cho người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ với số tiền 9.951,8 triệu đồng. Bên cạnh đó, toàn tỉnh đã vận động được 2.686 phần quà cho người có công với số tiền 860 triệu đồng; địa phương vận động xây mới 04 căn nhà tình nghĩa cho Người có công với cách mạng, với số tiền 190 triệu đồng.

+ Tổ chức Lễ viếng Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh; “Thắp nến tri ân” tại các Nghĩa trang liệt sĩ, các Nhà bia ghi tên liệt sĩ trên địa bàn tỉnh.

+ Lãnh đạo Tỉnh đã vận động và trao 21 căn nhà tình nghĩa cho người có công với cách mạng, tổng kinh phí số tiền 1.050 triệu đồng.

Công tác bảo trợ xã hội và việc thực hiện chính sách an sinh xã hội đối với các đối tượng khác đạt kết quả như sau:

- Thực hiện trợ cấp hàng tháng cho 306.310 lượt đối tượng bảo trợ xã hội với số tiền 120.149,53 triệu đồng. Hỗ trợ mai táng phí cho 1.374 trường hợp với số tiền 7.510,6 triệu đồng; trợ giúp khẩn cấp 30 trường hợp với kinh phí 298,2 triệu đồng.

- Tổ chức thăm, tặng quà cho 250 người bị nhiễm chất độc da cam nhân kỷ niệm 60 năm Ngày thảm họa da cam ở Việt Nam (10/8/1961 - 10/8/2021) với số tiền 100 triệu đồng. Bên cạnh đó, các cấp hội đã vận động được 2.349 phần quà với số tiền trên 600 triệu đồng để chăm lo cho các nạn nhân bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam.

- Nâng mức hỗ trợ thêm 20% mức đóng Bảo hiểm y tế (BHYT) cho hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp có mức sống trung bình; đồng thời tham mưu UBND tỉnh thực hiện quy trình, trình HĐND tỉnh nâng mức hỗ trợ đóng BHYT cho các đối tượng nêu trên.

Kết quả triển khai, giải quyết hỗ trợ chính sách cho người lao động theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 của Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ người lao động do đại dịch Covid-19 (Nghị quyết số 68/NQ-CP); Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ quy định thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 (Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg) và Quyết định số 16/2021/QĐ-UBND ngày 18/7/2021 của UBND tỉnh Hậu Giang về việc hỗ trợ người lao động không có giao kết hợp đồng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 trên địa bàn tỉnh (Quyết định số 16/2021/QĐ-UBND): Tính đến ngày 15/9/2021, đã giải quyết hồ sơ hỗ trợ cho 10 nhóm chính sách theo Nghị quyết số 68/NQ-CP, với 1.406 DN/hộ kinh doanh và 77.856 người (trong đó có 35.187 lao động tự do; 82 trẻ em), với số tiền 71.122,583 triệu đồng. Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh hỗ trợ cho các đối tượng đặc thù là 8.014 người, với tổng số tiền 7.799,7 triệu đồng (bao gồm hộ nghèo gặp khó khăn do ảnh hưởng dịch Covid-19 và chi hỗ trợ tiền ăn cho hộ nghèo, cận nghèo, bảo trợ xã hội và người có công với cách mạng trong khu phong tỏa).

7.4. Y tế

Trong tháng, không có ca mắc mới bệnh sốt xuất huyết, giảm 03 ca so với tháng trước, cộng dồn là 54 ca, giảm 58 ca so với cùng kỳ; bệnh tay chân miệng không có ca mắc mới, giảm 04 ca so với tháng trước, cộng dồn là 386 ca, tăng 275 ca so với cùng kỳ; bệnh sởi, bệnh viêm gan do virút, bệnh quai bị, bệnh dịch lạ như: EBOLI, H5N1, MERS-CoV, Zika và các bệnh truyền nhiễm khác chưa ghi nhận ca mắc trên địa bàn tỉnh.

Về tình hình dịch Covid-19 (tính đến 19 giờ 00 phút ngày 22/9/2021): Tổng số ca mắc tại Tỉnh là 518 ca; đã được Bộ Y tế công bố 517 ca; hiện còn 01 trường hợp đang hoàn tất hồ sơ dịch tễ chờ Bộ Y tế cấp mã bệnh nhân. Số liều tiêm ngừa vắc xin Covid-19 đã tiêm được là 145.451 liều, trong đó tiêm mũi 1 là 101.153 liều, tiêm mũi 2 là 44.298 liều.

Số trẻ dưới 1 tuổi được miễn dịch đầy đủ trong tháng là 1.194 trẻ, cộng dồn là 8.328 trẻ, đạt 73,6%; tiêm sởi mũi 2 trong tháng là 1.264 trẻ, cộng dồn là 8.005 trẻ, đạt 69,9%; tiêm ngừa uốn ván trên thai phụ (VAT2 (+)TP) trong tháng là 951 thai phụ, cộng dồn là 9.336 thai phụ, đạt 64,8%.

Số nhiễm HIV mới phát hiện trong tháng là 0 ca, cộng dồn là 58 ca (giảm 04 ca với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.878 ca (người còn sống 1.263 người); số bệnh nhân AIDS phát hiện trong tháng là 01 ca, cộng dồn là 08 ca (giảm 07 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 1.051 ca; Số bệnh nhân tử vong do AIDS trong tháng là 01 ca, cộng dồn là 10 ca (giảm 05 ca so với cùng kỳ), lũy kế từ 2004 đến nay là 615 ca. Số người hiện đang điều trị Methadone là 59 người. Tổng số bệnh nhân điều trị ARV là 984 người (trong tỉnh: 891, ngoài tỉnh: 93).

Kết quả thực hiện khám chữa bệnh đến tháng 9/2021: Tổng số lần khám 144.196 lượt, cộng dồn là 1.204.412 lượt, đạt 63,66% kế hoạch, giảm 17,54% so với cùng kỳ. Tổng số bệnh nhân điều trị nội trú là 3.572 lượt, cộng dồn là 68.422 lượt, đạt 50,64% kế hoạch, giảm 8,39% so với cùng kỳ. Số ngày điều trị trung bình là 6,01 ngày, tăng 0,14 ngày so với cùng kỳ. Tổng số tai nạn ngộ độc, chấn thương là 4.153 trường hợp, giảm 3.127 trường hợp so với cùng kỳ.

Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm vẫn được duy trì tốt (không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm trên 30 người/vụ).

Công tác bảo hiểm y tế: Tính đến ngày 31/8/2021 đã có 80,40% dân số trên địa bàn tỉnh tham gia BHYT.

7.5. Tình hình thực hiện an toàn giao thông

Trong tháng 9/2021 trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ tai nạn giao thông, làm chết 01 người và không có trường hợp bị thương (tập trung ở đường thủy). So với tháng trước tương đương về số vụ (đường thủy 01 vụ), số người chết (đường thủy 01 người) và số người bị thương. So với cùng kỳ năm 2020, số vụ giảm 02 (đường bộ giảm 3 vụ, đường thủy tăng 01 vụ), số người chết giảm 02 người (đường bộ giảm 03 người, đường thủy tăng 01 người), số người bị thương tương đương.

Trong 9 tháng năm 2021 (từ ngày 15/12/2020 đến ngày 14/9/2021), toàn tỉnh xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 37 vụ, đường thủy 01 vụ), làm chết 34 người (đường bộ 33 người, đường thủy 01 người) và bị thương 09 người (tập trung ở đường bộ). So với cùng kỳ năm 2020, số vụ giảm 09, số người chết tăng 02 người và số người bị thương giảm 11 người (tập trung ở đường bộ).

7.6. Tình hình môi trường, thiên tai và phòng, chống cháy, nổ

Ngành chức năng tiếp tục giám sát các cơ sở có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, các cơ sở có thông tin phản ánh để kịp thời xử lý theo quy định. Tính đến tháng 9/2021, ngành chức năng đã phát hiện và xử lý 41 vụ vi phạm môi trường, với tổng số tiền xử phạt là 718 triệu đồng.

Về tình hình thiên tai:

- Sạt lở: 30 điểm sạt lở (huyện Châu Thành  27 điểm, thành phố Ngã Bảy 03 điểm). Chiều dài sạt lở: 737 m, diện tích mất đất 4.457 m2, ước thiệt hại 2.454 triệu đồng.

- Dông lốc: Lũy kế đến nay nhà sập 14 căn, tốc mái 63 căn, tốc mái 02 phòng học, 01 xưởng sản xuất, hư 01 trạm biến điện, ước thiệt hại: 2.914,5 triệu đồng; so với năm 2020 giảm 1.388 triệu đồng (năm 2020 là 4.302,5 triệu đồng). Ước thiệt hại công trình công cộng khoảng 100 triệu đồng.

Về công tác phòng, chống cháy, nổ luôn được các ngành chức năng quan tâm thực hiện, định kỳ có kiểm tra, hướng dẫn người dân, các cơ sở kinh doanh và các đơn vị hành chính sự nghiệp thực hiện đầy đủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy. Mặc dù được quan tâm thực hiện tốt nhưng tính từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 2 vụ cháy, may mắn không thiệt hại về người, ước tổng tài sản thiệt hại khoảng 1.160 triệu đồng. 

8. Đề xuất giải pháp

Trong 9 tháng năm 2021, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trở lại, đặc biệt là trong quý III, đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình sản xuất, kinh doanh của tỉnh. Vì vậy, để thực hiện thắng lợi kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2021, trong các tháng cuối năm các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị cần tập trung cao trong công tác chỉ đạo, điều hành, nghiêm túc quán triệt, thực hiện các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân tỉnh về triển khai thực hiện nhiệm vụ, tập trung thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

- Một là, tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, nhanh chóng dập dịch, không để dịch bệnh tiếp tục phát sinh và lây lan trong cộng đồng, giữ vững kết quả mà Tỉnh đã đạt được. Thực hiện tốt “mục tiêu kép”: vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội trong trạng thái bình thường mới.

- Hai là, tập trung cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư, giải quyết khó khăn cho DN, tạo điều kiện hỗ trợ cho các DN trong sản xuất kinh doanh như: thực hiện các chương trình cho vay vốn với lãi suất ưu đãi, ưu đãi về thuế, rút ngắn thời gian giải quyết các thủ tục hành chính,... đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, tái cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

- Ba là, phát triển nông nghiệp, thủy sản gắn với xây dựng nông thôn mới. Tập trung sản xuất vụ lúa Thu đông. Tăng cường kiểm tra, chủ động dự báo, hướng dẫn nông dân phòng trừ kịp thời, hiệu quả các dịch hại trên cây trồng,... Theo dõi, để có khuyến cáo nông dân trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng và hỗ trợ dân trong việc tìm kiếm thị trường, liên kết tiêu thụ sản phẩm nông, thủy sản. Tiếp tục phát triển đàn gia súc, gia cầm theo hướng chăn nuôi an toàn để góp phần cùng cả nước bình ổn giá thịt heo hơi và tăng thêm giá trị sản xuất, đồng thời tăng cường công tác giám sát, phòng trừ dịch bệnh.

- Bốn là, phát triển dịch vụ. Theo dõi, cập nhật thường xuyên tình hình thị trường, cung cầu hàng hóa trên địa bàn tỉnh nhằm đưa ra các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các cơ sở, DN, hợp tác xã. Chú trọng công tác hỗ trợ DN xuất nhập khẩu, kịp thời giải quyết khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu, nhất là hàng thủy sản và nông sản.

- Năm là, quản lý, sử dụng tài chính có hiệu quả, nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp điều hành thu ngân sách nhà nước, tập trung tháo gỡ, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc của DN nhằm tạo điều kiện thuận lợi để các DN, tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh phát triển ổn định. Tăng cường công tác quản lý chi ngân sách Nhà nước, đảm bảo chặt chẽ, triệt để tiết kiệm các khoản chi thường xuyên, chi cho bộ máy quản lý Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công. Chỉ đạo các tổ chức tín dụng trên địa bàn tập trung nguồn vốn, tích cực ưu tiên nguồn vốn hỗ trợ thực hiện các chương trình, đề án trọng điểm của tỉnh. Duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng, phù hợp với nhu cầu phát triển của địa phương, đồng thời triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh mới, đảm bảo nợ xấu ở mức an toàn.

- Sáu là, nâng cao đời sống người dân, bảo đảm an sinh xã hội. Thực hiện đầy đủ chế độ, chính sách ưu đãi người có công; tiếp tục rà soát, giải quyết hiệu quả chính sách hỗ trợ người có công, bảo đảm công khai, minh bạch. Hướng dẫn địa phương kịp thời tổ chức tốt các chính sách trợ giúp xã hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh. Tập trung triển khai thực hiện các dự án thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo bền vững năm 2021./.

 

[[1]] Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng quý III/2021 giảm so với quý trước và cùng kỳ năm trước là do tình hình dịch Covid-19 đang diễn biến hết sức phức tạp trên cả nước nói chung và tỉnh Hậu Giang nói riêng, cao điểm nhất là trong tháng 7/2021 trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện ca nhiễm mới, nên trong tháng 8 các doanh nghiệp phải tạm ngưng hoạt động hoặc hoạt động nhưng giảm về quy mô lao động. Vì vậy, giá trị sản xuất giảm so với quý trước và cùng kỳ năm trước.

[[2]] Nguyên nhân giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng thấp so với cùng kỳ năm trước là do giá nguyên, vật liệu xây dựng tăng cao vào các tháng đầu năm nên các doanh nghiệp chậm thi công các công trình trung và dài hạn. Bên cạnh đó, giảm một phần là do dịch bệnh bùng phát trở lại trong quý III/2021, nên các doanh nghiệp hoạt động không được liên tục ở những công trình có quy mô lớn như: Nhà xưởng, cầu đường, trụ sở cơ quan, trường học,… Vì vậy, giá trị sản xuất 9 tháng năm 2021 tăng thấp so với cùng kỳ (cùng kỳ năm 2020/2019 bằng 106,89%).

[[3]] Các DN tạm ngừng hoạt động là do điều kiện kinh doanh khó khăn, kinh doanh không hiệu quả, không ký kết được hợp đồng.

[[4]] Nguyên nhân chủ yếu các DN giải thể là do kinh doanh không hiệu quả.

[[5]] Nguyên nhân tổng đàn heo trên địa bàn tăng là do tình hình dịch bệnh được kiểm soát tốt, công tác phòng chống dịch bệnh được quản lý chặt chẽ, những hộ nuôi nhỏ lẻ bắt đầu tái đàn trở lại, những hộ nuôi quy mô gia trại, trang trại tiếp tục sản xuất, tái đàn và mở rộng quy mô chuồng trại. Từ đó tổng đàn từng bước được khôi phục góp phần tăng về số lượng và sản lượng.

[[6]] Nguyên nhân tăng so với cùng kỳ là do thời tiết tương đối thuận lợi, dịch bệnh trên thủy sản ít xảy ra, mô hình nuôi luân canh trong ruộng lúa và nuôi lồng bè, bể bồn đem lại thêm thu nhập cho người dân.

[[7]] Cụ thể một số nhóm hàng tăng so với tháng trước: Lương thực, thực phẩm tăng 2,20%; hàng may mặc tăng 45,90%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 46,58%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 20,15%; đá quý, kim loại quý tăng 18,72%;… nguyên nhân tăng là do hầu hết các cửa hàng, công trình xây dựng được phép hoạt động trong điều kiện bình thường mới, đặc biệt tăng cao nhất là các mặt hàng phục vụ năm học mới như: Sách, văn phòng phẩm, giày dép, quần áo, đồng phục học sinh,…